|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 59/2025/DS-PT
Ngày: 27/02/2025.
V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trang Thư
Các Thẩm phán: 1/ Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan
2/ Bà Phan Thị Tuyết Mai
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 469/2024/TLPT-DS ngày 09 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 168/2024/DS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 542/2024/QĐ-PT ngày 18 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Huỳnh B, sinh năm 1948.
Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ; Có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Phúc H, sinh năm 1949.
Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Hàng Hữu T, sinh năm 1982; Địa chỉ thường trú: Xóm A, thôn D, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng (Văn bản ủy quyền ngày 15/01/2025); Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng N.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phùng Công L; Địa chỉ cư trú: ấp T, thị trấn T, huyện T, thành phố Cần Thơ; Vắng mặt.
* Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Huỳnh B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết, nguyên đơn ông Huỳnh B trình bày:
Vào năm 1976, ông được Nhà nước giao đất sử dụng tại thửa 281 (không rõ chiều ngang và chiều dài thửa đất), lúc đó người sử dụng giáp ranh là ông Huỳnh Thanh H1 (đã chết), ông Lê Văn T1 và bà Tám X (mẹ bà Trần Thị T2). Năm 1991, ông kê khai đăng ký có tiến hành đo đạc và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 281, tờ bản đồ số 06, diện tích 1.325m² (ngang 22m, dài 56m tính từ kinh Xẻo X1). Đến năm 1993, ông Nguyễn Phúc H từ T về đuổi ông Huỳnh Thanh H1 đi và lấy đất ông H1 sử dụng, sau đó ông được biết đất của ông H1 do ông Nguyễn Văn H2 (em ông H) đứng tên 780m² thửa 288. Đồng thời, ông H cũng chiếm phần đất của ông giáp với ông Lê Văn T1. Ông đã khởi kiện ông H năm 2006, Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện và buộc ông H trả lại đất cho ông, cưỡng chế giao đất theo Biên bản bản ngày 21/11/2006 có vẽ hiện trạng giao đất, lúc này ông H đang sử dụng phần đất phía sau (giáp với phần đất giao cho ông có hình thể L).
Sau khi cưỡng chế giao đất xong, ông H chiếm phần đất phía sau, giáp bà T3, ngoài phần đất đã giao cưỡng chế. Phần đất ông H chiếm là 535m² (không xác định được chiều ngang, chiều dài). Vì vậy, nguyên đơn tiếp tục khởi kiện yêu cầu ông H trả lại đúng diện tích theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp. Đối với phần đất cặp kênh Xẻo Xào bị sạt lỡ nhưng ông không biết diện tích thửa 281 bị sạt lỡ bao nhiêu.
* Bị đơn ông Nguyễn Phúc H, quá trình tố tụng thể hiện như sau:
Quá trình giải quyết vụ án, ông H vắng mặt dù được Tòa án triệu tập hợp lệ. Tòa án nhân dân huyện Thới Lai tiến hành đo đạc thẩm định diện tích đất tranh chấp nhưng ông H ngăn cản không cho đo đạc, thẩm định.
Tại biên Bản hòa giải ngày 24/3/2023 của Ủy ban nhân dân xã T, ông H trình bày: Phần đất ông đang sử dụng có từ trước đến nay. Việc tranh chấp giữa ông và ông Huỳnh B đã được Tòa án giải quyết và cơ quan có thẩm quyền giao đất ngoài thực địa đúng như kết quả giải quyết (có ranh mốc ổn định là trụ đá, hàng rào). Đối với yêu cầu buộc ông phải trả thêm diện tích 545m² ông không đồng ý. Đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng N (có người đại diện theo ủy quyền) trình bày:
Vào năm 2019, ông Huỳnh B thế chấp quyền sử dụng đất thửa 281 cho Ngân hàng N, Phòng G để vay số tiền 5.000.000 đồng. Nay phía Ngân hàng N không yêu cầu độc lập trong vụ án này.
Tại bản án dân sự dân sự sơ thẩm số: 168/2024/DS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai đã tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh B.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng xem xét thẩm định tại chỗ, án phí và quyền kháng cáo của đương sự theo luật định.
Tại đơn kháng cáo đề ngày 01/10/2024, nguyên đơn ông Huỳnh B yêu cầu cấp phúc thẩm công nhận diện tích đất của nguyên đơn đúng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Nguyên đơn giữ nguyên các yêu cầu về kháng cáo, khởi kiện.
Bị đơn ông Nguyễn Phúc H (có ông Hàng Hữu T đại diện) trình bày: Thời điểm ông Huỳnh B đi khai nhận xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là kê khai luôn cả phần diện tích đất của ông Nguyễn Phúc H (bị đơn) đã ở trên đất từ những năm 1980. Nguồn gốc đất của ông H là được ông bà cho lại, có nhiều người ở địa phương biết việc này; trong khi, ông B không phải là người địa phương và chỉ là người ở nhờ trên đất. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện và kháng cáo của nguyên đơn.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:
Về tố tụng: Hoạt động tố tụng của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Qua phân tích, đánh giá các tài liệu chứng cứ và tình tiết, dữ kiện liên quan thể hiện: Bản án sơ thẩm xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp. Nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới. Nên đề nghị Hội đồng xét xử “Giữ nguyên bản án sơ thẩm”, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Kháng cáo của nguyên đơn ông Huỳnh B trong thời hạn luật định, thuộc trường hợp miễn nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên hợp lệ.
[2] Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, ý kiến của bị đơn, của đương sự khác và các chứng cứ đã thẩm tra cho thấy: Các bên tranh chấp về quyền sử dụng, trong đó: bất động sản tranh chấp tọa lạc tại địa giới hành chính huyện T nên Tòa án nhân dân huyện Thới Lai thụ lý giải quyết và xác định quan hệ pháp luật là có căn cứ, đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo.
Riêng, nguyên đơn ông Huỳnh B cho rằng: Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không đúng luật đất đai, trong khi bị đơn lấn chiếm đất và không có giấy tờ gì chứng minh về diện tích đất của mình nên đương sự kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm công nhận diện tích đất của nguyên đơn đúng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp.
[4] Xét kháng cáo của đương sự:
Hội đồng xét xử xét thấy:
[4.1] Theo nguyên đơn ông Huỳnh B, căn cứ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000921 do Ủy ban nhân dân huyện Ô (cũ) cấp ngày 04/8/1991 đối với thửa 281, tờ bản đồ số 06, diện tích 1.325m² và Bản án số 138/2006/DSPT ngày 25/7/2006 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ thì hiện nay nguyên đơn chỉ mới sử dụng 790m², còn thiếu 535m², cho rằng ông H là người lấn chiếm nên yêu cầu ông H trả lại quyền sử dụng đất cho nguyên đơn theo đúng diện tích được cấp.
[4.2] Tiến trình giải quyết vụ án, ông H vắng mặt dù được Tòa án triệu tập hợp lệ. Tuy nhiên, tại Biên bản hòa giải ngày 24/3/2023 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ, ông H trình bày: Phần đất ông đang sử dụng có từ trước đến nay. Việc tranh chấp giữa ông và ông Huỳnh B đã được Tòa án giải quyết và cơ quan có thẩm quyền giao đất ngoài thực địa đúng như kết quả giải quyết (có ranh mốc ổn định là trụ đá, hàng rào). Đối với yêu cầu buộc ông phải trả thêm diện tích 545m² ông không đồng ý. Đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật (Bút lục: 23 -> 26).
[4.3] Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Tranh chấp giữa các đương sự đã kéo dài nhiều năm, thực tế đã từng giải quyết cùng quan hệ pháp luật về tranh chấp quyền sử dụng đất liên quan đến các phần đất thực tại của mỗi bên đương sự và đã được giải quyết bằng các bản án dân sự sơ thẩm số: 18/2006/DSST ngày 04/5/2006 của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ (cũ) và bản án dân sự phúc thẩm số: 139/2006/DSPT ngày 25/7/2006 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ – Đã được thi hành án xong, ông B đã nhận đất và quản lý sử dụng ổn định cho đến nay.
Trong đó: Quá trình thi hành các bản án (nêu trên) ghi nhận được: Tại Biên bản đo đạc thẩm tra xác minh, mô tả thửa đất ngày 01/12/2005 và Biên bản cưỡng chế thi hành án ngày 24/11/2006, ông B xác định: phần đất ông H lấn chiếm có hình thể chữ L, diện tích 450,1m², thời điểm này ông H là người sử dụng phần giáp ranh với phần đất được cưỡng chế giao đất (tức phần 535m² ông B tranh chấp với ông H hiện nay) - Bút lục: 21-22, 61. Đây được xem là phương thức xác định ranh giới giữa đất nguyên đơn với bị đơn (tại vị trí tiếp giáp, đã tranh chấp và giải quyết bằng bản án có hiệu lực) theo quy định tại Điều 175 Bộ luật Dân sự năm 2015 (Luật có hiệu lực tại thời điểm phát sinh tranh chấp và quy định về chuyển tiếp theo Điều 688).
[4.4] Bên cạnh đó, ông B cho rằng: thời điểm năm 1992 khi ông kê khai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì thửa 281 có kích thước ngang 22m, dài 56m (tức tương đương diện tích 1.232m²). Song, qua trích lục hồ sơ địa chính về cấp Giấy chứng nhận (nêu trên) thấy rằng: ngoài Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất đề ngày 11/6/1991 và thông tin Sổ mục kê, Sổ đăng ký ruộng đất (thửa 281), không có Biên bản mô tả ranh mốc giới thửa đất xác định tiếp giáp tứ cận của các bên (Bút lục: 41 -> 43). Trong khi, theo Giấy chứng nhận cấp cho nguyên đơn tại thửa 281 ghi nhận: tiếp giáp tứ cận gồm các thửa 280, 279, 287, 288, có mặt trước đất tiếp giáp Rạch Xẻo X1 và theo chính nguyên đơn thừa nhận Rạch bị sạt lở nhưng không xác định được diện tích sạt lở là bao nhiêu?
[5] Với những cơ sở đã nêu cho thấy: Nguyên đơn khởi kiện nhưng không cung cấp được chứng cứ xác thực, không đáp ứng được nghĩa vụ chứng minh theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp nên không có cơ sở chấp nhận.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm:
Yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nhưng nguyên đơn thuộc trường hợp người cao tuổi nên được miễn án phí theo hướng dẫn tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án.
[7] Những phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành và đảm bảo giá trị pháp lý ràng buộc nên không xem xét. Tuy nhiên, có điều chỉnh về cách tuyên trong khuôn khổ luật định.
[8] Từ những phân tích trên, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Huỳnh B.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 168/2024/DS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ (có điều chỉnh về cách tuyên).
Áp dụng:
- - Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Điều 203 Luật đất đai năm 2013 (Luật có hiệu lực tại thời điểm phát sinh tranh chấp);
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận khởi kiện của ông Huỳnh B về việc yêu cầu trả lại quyền sử dụng đất lấn chiếm (diện tích 535m²) đối với bị đơn ông Nguyễn Phúc H – đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
Nguyên đơn ông Huỳnh B được miễn nộp tiền án phí (do thuộc trường hợp người cao tuổi).
3. Những phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên thi hành theo phần quyết định của bản án sơ thẩm.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Trang Thư |
|
CÁC THẨM PHÁN |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Thị Trang Thư |
Bản án số 59/2025/DS-PT ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 59/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
