|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI Bản án số: 59/2025/DS-PT Ngày 30-12-2025. “Tranh chấp yêu cầu tuyên bố hợp đồng dân sự vô hiệu”. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Dũng;
Các Thẩm phán: Ông Phùng Lâm Hồng
Ông Nguyễn Ngọc Phương
Thư ký phiên toà: Bà Mai Thị Nhật Linh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 63/2025/TLPT-DS ngày 17/11/2025 về việc: “Tranh chấp yêu cầu tuyên bố hợp đồng dân sự vô hiệu”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 150/2025/QĐXXPT-DS ngày 12 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Phạm Trung T, sinh năm 1974; địa chỉ: Tổ A D, phường L, tỉnh Lào Cai; số CCCD: [...]; có mặt.
- Bị đơn: Anh Phạm Ngọc C, sinh năm 1973; địa chỉ: Số nhà F đường A, tổ B B, phường C, tỉnh Lào Cai; số CCCD: [...]; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH T2; địa chỉ: Đường S, phường L, tỉnh Lào Cai.
Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc S- Giám đốc; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo bản án sơ thẩm và tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Phạm Trung T trình bày:
Anh Phạm Trung T có thoả thuận mua của anh Phạm Ngọc C chiếc xe điện biển kiểm soát 24HC-00257 với giá 260.000.000 đồng. Việc thỏa thuận mua bán được thực hiện qua điện thoại. Ngày 04/3/2025, anh T cùng anh Vương Văn T1 đến nhà anh C rồi thỏa thuận với nhau: Anh T trả trước cho anh C 100.000.000 đồng, anh C giao xe cho anh T. Do chưa đủ tiền, anh T có đề nghị anh C cho trả trước 93.000.000 đồng, còn lại 7.000.000 đồng sẽ trả sau, anh C đồng ý. Sau đó anh C yêu cầu anh T viết vào sổ tay của anh C, số tiền còn nợ 160.000.000 đồng, hẹn đến ngày 25/5/2025 phải trả nốt số tiền 160.000.000 đồng. Sau khi viết giấy xong anh C giao xe cho anh T và hẹn đến khi giao đủ tiền mới giao giấy tờ xe. Đến sáng ngày hôm sau, anh C nói với anh Vương Văn T1 về việc không thực hiện hợp đồng mua bán xe nữa. Anh T1 nói lại với anh T thì anh T nhất trí và yêu cầu trả lại tiền thì mới trả xe nhưng anh C không trả. Đến mấy hôm sau anh C gọi điện bảo không đồng ý bán xe cho anh T nữa và yêu cầu anh T trả xe cho anh C, anh C sẽ trả lại tiền cho anh T. Anh T đồng ý và đã nhờ lái xe mang xe đến nhà trả cho anh C. Sau đó anh T đã yêu cầu nhiều lần nhưng anh C không trả tiền. Vì vậy anh Phạm Trung T khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng mua bán chiếc xe điện biển kiểm soát 24HC-00257 giữa anh Phạm Trung T và anh Phạm Ngọc C là vô hiệu, do vi phạm quy định về hình thức hợp đồng, yêu cầu Tòa án buộc anh C số tiền đã nhận 93.000.000 đồng cho anh T.
Bị đơn anh Phạm Ngọc C trình bày:
Khoảng sau Tết 2024, anh Phạm Ngọc C đồng ý bán cho anh Phạm Trung T có chiếc xe điện màu trắng biển kiểm soát 24HC-00257, với giá là 260.000.000 đồng. Ngày 4/3/2025 anh T và anh Vương Văn T1 đến nhà anh C và thống nhất là anh T trả trước số 93.000.000 đồng còn thiếu 7.000.000 đồng hẹn 2 tiếng sau anh T sẽ trả nốt, nên anh C yêu cầu anh T viết vào sổ của anh C, nội dung thỏa thuận mua bán và anh T còn nợ lại anh C số tiền 160.000.000 đồng, hẹn đến ngày 25/5/2025 thì anh T thanh toán nốt, lúc đó anh C sẽ giao đăng ký xe cho anh T. Sau khi viết giấy xong, anh T mang xe về, nhưng sau đó anh T không trả tiền như đã thỏa thuận. Anh C đã gặp nói chuyện với anh T là nếu không trả tiền thì trả xe, anh C sẽ trả lại hết số tiền 93.000.000 đồng cho anh T và xé giấy tờ không thực hiện mua bán nữa. Khi đó, anh T bảo lấy xe về thì phải trả anh T số tiền 140.000.000 đồng còn nếu đòi 7.000.000 đồng thì sau 1 tiếng nữa anh T sẽ chuyển khoản, nên anh C không lấy xe và yêu cầu anh T trả nốt số tiền 7.000.000 đồng theo thỏa thuận, anh T trả lời sẽ trả nhưng sau đó vẫn không trả tiền cho anh C. Đến khoảng mấy ngày sau thì xe điện bị cấm, anh T cho người mang xe để trước cửa nhà anh C và gọi điện thông báo cho anh C. Đến ngày 25/5/2025, anh C có gọi điện thoại yêu cầu anh T trả nốt tiền xe nhưng anh T không trả. Anh C cho rằng: Vì đã bán chiếc xe điện biển kiểm soát 24HC-00257 cho anh T, nên khi có khách khác hỏi mua chiếc xe này thì anh C không bán. Nay anh T không mua xe nữa thì coi như tự ý phá hợp đồng trả lại xe cho anh C là do lỗi của anh C. Do đó, anh C không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của anh T buộc anh C trả số tiền 93.000.000 đồng, vì đây là tiền cọc, anh T không mua xe nữa thì mất cọc.
Tại Văn bản số 09/2025/CV-TT ngày 22/9/2025 của Công ty TNHH T2 cung cấp thông tin phục vụ giải quyết vụ án dân sự theo yêu cầu của Toà án, thể hiện:
- - Xe điện biển kiểm soát 24HC-00257 đứng tên Công ty TNHH T2, nguồn vốn mua xe do ông C1 Kiên Quyết đầu tư 100%.
- - Đến nay Công ty TNHH T2 chưa thực hiện và cũng chưa nhận bất kỳ thủ tục hay văn bản nào về việc chuyển nhượng quyền sở hữu chiếc xe này cho ông Phạm Ngọc C hoặc bất kỳ cá nhân, tổ chức nào.
Tại Văn bản số 1042/TLXM-ĐKX ngày 30/9/2025 của Phòng C2 Công an tỉnh L trả lời thông tin phương tiện như sau:
- - Xe ô tô biển số 24HC-00257; chủ xe (Trên đăng ký xe): Công ty TNHH T2; địa chỉ trên đăng ký xe: C S, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai.
- - Đến ngày 25/9/2025, Phòng C2 Công an tỉnh L chưa nhận được chứng từ chuyển quyền sở hữu xe và chưa làm thủ tục đăng ký xe (Đảng ký sang tên) đối với xe ô tôt biển số 24HC-00257.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2025/DS-ST ngày 22/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Lào Cai đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39; Khoản 1 điều 147; khoản 1 Điều 244, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi bổ sung Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 117, 119, 122, 129, 131, 132, 357, 468 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Phạm Trung T: Tuyên bố hợp đồng mua bán tài sản ngày 04/3/2025 giữa anh Phạm Trung T và anh Phạm Ngọc C là vô hiệu.
- - Buộc anh Phạm Ngọc C phải có trách nhiệm trả cho anh Phạm Trung T số tiền 93.000.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định quyền và nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 07/10/2025, bị đơn có đơn kháng cáo yêu cầu sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2025/DS-ST ngày 22/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Lào Cai theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Phạm Trung T. Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm tuyên bố anh Phạm Trung T tiếp tục thực hiện hợp đồng mua bán tài sản ngày 04/3/2025, trả cho anh C khoản tiền 167.000.000đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Người kháng cáo bị đơn anh Phạm Ngọc C rút nội dung trong đơn kháng cáo buộc anh Phạm Trung T tiếp tục thực hiện hợp đồng mua bán tài sản ngày 04/3/2025, trả cho anh C khoản tiền 167.000.000đồng; giữ nguyên nội dung kháng cáo yêu cầu sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2025/DS-ST ngày 22/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Lào Cai theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Phạm Trung T, với lý do anh T là người có lỗi khi tự ý chấm dứt thực hiện hợp đồng mua bán chiếc xe điện biển kiểm soát 24HC-00257, khiến chiếc xe mất giá trị sử dụng nên anh C đã phải bán lại chiếc xe cho người khác với giá 50.000.000đồng. Bản thân anh C cũng bị thiệt hại nên không chấp nhận trả lại số tiền 93.000.000đồng cho anh T.
Nguyên đơn anh Phạm Trung T trình bày ý kiến không chấp nhận kháng cáo của anh C, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2025/DS-ST ngày 22/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai phát biểu quan điểm:
- - Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án đã thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục tố tụng dân sự, những người tham gia tố tụng đều chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Phạm Ngọc C, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2025/DS-ST ngày 22/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Lào Cai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra công khai, xem xét tại phiên tòa, cũng như kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn anh Phạm Ngọc C đúng hình thức, trong hạn luật định, đủ điều kiện để giải quyết phúc thẩm.
Đối với nội dung trong đơn kháng cáo của bị đơn về việc buộc anh Phạm Trung T tiếp tục thực hiện hợp đồng mua bán tài sản ngày 04/3/2025, trả cho anh C khoản tiền 167.000.000đồng, Hội đồng xét xử thấy nội dung này chưa được bị đơn yêu cầu và cũng chưa được giải quyết ở cấp sơ thẩm nên không thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm. Tại phiên toà phúc thẩm bị đơn cũng rút nội dung kháng cáo này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Bị đơn có nơi cư trú tại tổ B B, phường C, tỉnh Lào Cai. Do vậy, Tòa án nhân dân khu vực 6 - Lào Cai thụ lý và giải quyết sơ thẩm vụ án “Tranh chấp yêu cầu tuyên bố hợp đồng dân sự vô hiệu” là đúng quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Xét kháng cáo của bị đơn anh Phạm Ngọc C, Hội đồng xét xử thấy:
[3.1] Hợp đồng mua bán tài sản xe điện biển kiểm soát 24HC-00257 giữa nguyên đơn và bị đơn được xác lập dưới hình thức thỏa thuận miệng, có giấy thỏa thuận bằng văn bản viết tay về việc giao nhận tiền và giao nhận tài sản. Tuy nhiên, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 11 Thông tư 24/2023/TT-BCA ngày 01-7-2023 của Bộ C3 quy định về cấp, thu hồi đăng ký, biển số xe cơ giới thì văn bản về việc bán, tặng cho, thừa kế xe của cá nhân phải có xác nhận công chứng hoặc chứng thực. Do đó, giao dịch mua bán chiếc xe điện biển kiểm soát 24HC-00257 giữa nguyên đơn và bị đơn chưa tuân thủ hình thức theo quy định, vi phạm Điều 129 Bộ luật Dân sự.
[3.2] Về quyền định đoạt chiếc xe điện biển kiểm soát 24HC-00257: Tại Văn bản số 09/2025/CV-TT ngày 22/9/2025 của Công ty TNHH T2 xác định chiếc xe điện biển kiểm soát 24HC-00257 đứng tên Công ty TNHH T2; đến nay công ty TNHH T2 chưa thực hiện và cũng chưa nhận bất kỳ thủ tục hay văn bản nào về việc chuyển nhượng quyền sở hữu chiếc xe này cho ông Phạm Ngọc C hay bất kỳ cá nhân, tổ chức nào khác. Tại các phiên toà, bị đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh tại thời điểm giao kết hợp đồng, thì bị đơn có quyền định đoạt hợp pháp đối với chiếc xe điện biển kiểm soát 24HC-00257.
[3.3] Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử kết luận: Hợp đồng mua bán tài sản giữa anh T và anh C không tuân thủ hình thức; anh C không có quyền chuyển nhượng đối với chiếc xe điện biển kiểm soát 24HC-00257 là đối tượng chuyển nhượng của hợp đồng, mặt khác tại phiên tòa anh C thừa nhận đã bán cho người khác chiếc xe là đối tượng hợp đồng. Do đó, Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tuyên bố vô hiệu đối với giao dịch mua bán chiếc xe điện biển kiểm soát 24HC-00257 giữa nguyên đơn và bị đơn, là phù hợp với các quy định tại khoản 2 Điều 117, khoản 2 Điều 119, Điều 122 và Điều 129 của Bộ luật Dân sự
[4] Xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Giữa nguyên đơn và bị đơn có thỏa thuận mua bán xe điện biển kiểm soát 24HC-00257, bị đơn đã giao xe cho nguyên đơn sử dụng và nhận số tiền 93.000.000đồng. Ngoài ra, không có tài liệu, chứng cứ nào thể hiện các bên có thỏa thuận đặt cọc với nội dung, hình thức và hậu quả pháp lý của việc đặt cọc theo quy định của pháp luật. Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định số tiền 93.000.000 đồng là khoản tiền thanh toán trong giao dịch mua bán, không phải tiền đặt cọc, là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
[5] Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã đánh giá đúng hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu, buộc các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Theo đó, nguyên đơn đã trả lại xe cho bị đơn, còn bị đơn phải hoàn trả số tiền 93.000.000 đồng đã nhận. Việc giải quyết này bảo đảm đúng nguyên tắc khôi phục lại tình trạng ban đầu theo quy định tại Điều 131 Bộ luật Dân sự.
[6] Trong quá trình giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm, người kháng cáo không đưa ra được những tài liệu, chứng cứ mới nào làm thay đổi bản chất vụ án cũng như nhận định của Tòa án cấp sơ thẩm. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Phạm Ngọc C, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2025/DS-ST ngày 22/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Lào Cai như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà.
[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí lệ phí Tòa án, tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Phạm Ngọc C.
- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2025/DS-ST ngày 22/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Lào Cai.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Anh Phạm Ngọc C phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0001247 ngày 14/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai. Anh C đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Trung Dũng |
Bản án số 59/2025/DS-PT ngày 30/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI về tranh chấp yêu cầu tuyên bố hợp đồng dân sự vô hiệu
- Số bản án: 59/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp yêu cầu tuyên bố hợp đồng dân sự vô hiệu
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
