TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 59/2025/DS-PT
Ngày: 10/4/2025
V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Bình.
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Ngọc Sơn; Ông Đỗ Thế Bình.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 109/2025/TLPT - DS, ngày 05/02/2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 03/2024/DS-ST ngày 15/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh bị kháng cáo
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2025/QĐ-PT ngày 25 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1974; Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
- - Bị đơn: Ông Ngô Văn Đ, sinh năm 1949; Bà Dương Thị G, sinh năm 1947 (đều vắng mặt).
- Cùng địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
- Người đại diện theo uỷ quyền của ông Đ, bà G:
- Ông Ngô Văn N, sinh năm 1991; Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
- Ông Đào Đức T, sinh năm 1972; Địa chỉ: E Chung cư G T, phường T, quận T, thành phố Hà Nội (có mặt).
- - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Ngô Thị T1, sinh năm 1949 (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1977 (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1995 (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1999 (vắng mặt).
- Cùng địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
- Người đại diện theo ủy quyền của bà T1, bà L, bà H1, ông M: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1974 (có mặt).
- Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
- Người kháng cáo: Ông Ngô Văn Đ, bà Dương Thị G.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ thì vụ án có nội dung như sau: Nguyên đơn là ông Nguyễn Văn H trình bày: Thửa đất số 761, diện tích 203m² ở thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh đã được UBND huyện Y, tỉnh Bắc Ninh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Văn H vào ngày 25/5/2001. Nguồn gốc của thửa đất là do cha ông để lại. Thửa đất có tứ cận: Phía Bắc giáp nhà ông Đ, phía Nam giáp thửa số 15, tờ bản đồ số 25 và một phần ngõ đi nay nhà ông H đang sử dụng, phía Đông giáp thửa số 16, tờ bản đồ số 25, phía Tây giáp ngõ bê tông.
Theo hồ sơ kỹ thuật đo đạc năm 2002 là thửa số 14, tờ bản đồ số 25, diện tích 216m². Phần diện tích đất tăng lên so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do kỹ thuật đo đạc giữa các thời kỳ khác nhau.
Theo kết quả thẩm định ngày 19/7/2024 thì diện tích đất gia đình ông sử dụng thực tế nhiều hơn so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp vì trong đó có phần diện tích đất trước nhà gia đình ông mua của nhà ông Đ, bà G nhưng chưa đăng ký biến động tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Phần diện tích đất này không liên quan đến diện tích đất tranh chấp nên ông đề nghị không xem xét, giải quyết. Diện tích đất phía sau nhà khi xây nhà ông đã bớt lại phần thẹo cho vuông đất, gia đình vẫn mở cửa đi sang.
Quá trình quản lý, sử dụng thửa đất giữa gia đình ông và gia đình ông Đ không có tranh chấp về mốc giới giữa hai nhà, chỉ từ khi gia đình ông Đ xây nhà năm 2024 thì phát sinh tranh chấp. Năm 2013, gia đình ông bắt đầu xây dựng công trình gồm 01 nhà 03 tầng, 01 phòng thờ và xây tường bao xung quanh. Phần đất tiếp giáp với nhà ông Đ là khoảng trống. Ranh giới ngăn cách giữa ông và nhà ông Đ là tường cũ của nhà ông Đ vẫn còn nguyên hiện trạng. Ông Đ xây nhà tháng 4 năm 2024 đã không xây dựng theo như móng tường cũ mà xây sang phần đất nhà ông. T1 gạch nhà ông Đ không có đường gấp khúc nhưng khi xây dựng nhà mới, ông Đ đã xây tường gạch theo đường gấp khúc, xây trên phần đất gia đình ông để trống. Phần nhà 2 tầng ông Đ đang xây có một phần xây dựng sang đất nhà ông.
Ông Đ xây nhà sang phần đất của gia đình, ông đã làm đơn đề nghị thôn T, UBND xã T giải quyết. Thôn T và UBND xã T đã tiến hành hòa giải rất nhiều lần. Ngày 14/5/2024 UBND xã T đã lập biên bản về việc yêu cầu gia đình ông Đ tạm dừng việc xây dựng tại vị trí tranh chấp giữa gia đình ông H và gia đình ông Đ chờ cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Nếu gia đình ông Đ cố tình thi công tại vị trí tranh chấp, sau này các cơ quan chức năng giải quyết mà công trình xây lấn sang đất nhà ông H thì hộ ông Đ tự chịu trách nhiệm và mọi thiệt hại về tài sản hộ ông Đ tự chịu trách nhiệm.
UBND xã T đã tiến hành hòa giải 2 lần vào ngày 31/5/2024 và ngày 05/6/2024. Tại buổi hòa giải ngày 5/6/2024 hai gia đình đã thỏa thuận được với nhau: Theo máy bắn từ trục đường làng đến giáp ranh nhà ông T2 có chiều dài 16,4m. Hộ ông H thống nhất cho hộ ông Đ có chiều dài khoảng 4m từ nhà ông T2, S trở ra trục đường còn lại hộ ông Đ phải trả lại hộ ông H theo Giấy chứng nhận. Hai bên thống nhất cho nhau như thỏa thuận. Ông H nhất trí cho hộ ông Đ vĩnh viễn. Trong vòng 05 ngày tính từ ngày 07/5/2024 đến hết ngày 11/5/2024 hộ ông Đ phải có trách nhiệm tháo trả và dọn dẹp sạch sẽ. Sau này hộ ông H không được đòi lại và tranh chấp. Hộ nào sau này mà tranh chấp thì phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. Hai bên thỏa thuận sau khi hộ ông Đ trả lại ông H đúng theo Giấy chứng nhận thì phần còn lại đã nhất trí cho ông Đ có hiệu lực kể từ ngày trả lại. Phần cho hộ ông Đ, sau này hộ ông Đ có làm nhà lên cao tầng không được làm ảnh hưởng bất cứ việc gì với hộ ông H. Nếu làm cao tầng mà chạm vào mái ngói hộ ông H thì phải rụt lại tránh ảnh hưởng đến hộ ông H.
Sau khi thỏa thuận, hết thời hạn trên gia đình ông Đ không thực hiện việc tháo dỡ công trình theo như biên bản hòa giải thành ngày 05/6/2024. Vì vậy ông đã làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Yên Phong giải quyết buộc ông Đ, bà G phải trả lại phần diện tích đất 4,1m² theo kết quả Tòa án đo đạc, được giới hạn bởi các điểm 5', 6, 7, 8, 9, (5), 5' và phải tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng trên phần diện tích đất này.
Bị đơn là ông Ngô Văn Đ, bà Dương Thị G do người đại diện là ông Ngô Văn N, ông Đào Đức T trình bày: Thửa đất của gia đình ông Đ đang sử dụng có diện tích 488m² ở thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh đã được UBND huyện Y, tỉnh Bắc Ninh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ, bà G. Nguồn gốc là do ông Đ, bà G được cấp. Quá trình sử dụng đất hai gia đình không có tranh chấp, tháng 4 năm 2024 gia đình ông Đ xây nhà mới thì xảy ra tranh chấp. Hiện tại ranh giới giữa hai nhà vẫn còn tường cũ của nhà ông Đ. Khi gia đình anh H xây nhà năm 2013 hai bên gia đình không có tranh chấp về mốc giới.
Thửa đất hiện nay đang xây dựng công trình là của ông Đ, bà G. Phần diện tích đất hiện nay đang có tranh chấp giữa ông H với ông Đ, bà G là do gia đình xác định phần móng tường phía dưới vẫn còn đất của gia đình nên đã xây dựng sát với nhà ông H. Ông Đ, bà G đã được Tòa án giải thích quy định của pháp luật về việc đề nghị Tòa án thẩm định móng tường của gia đình nhưng không đề nghị. Hai gia đình đã được thôn, xã hòa giải rất nhiều lần về việc tháo dỡ tường và công trình xây dựng nhưng chưa thực hiện được.
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông H, ông Đ, bà G không đồng ý và cũng mong muốn hai bên hòa giải. Trong trường hợp ông Đ, bà G xây tường sang đất nhà ông H thì gia đình thanh toán bằng tiền và mong muốn giữ nguyên hiện trạng công trình đã xây dựng.
Ông Đ đã được Tòa án giải thích quy định của pháp luật về việc đơn yêu cầu phản tố của bị đơn phải được đưa ra trước khi tiếp cận công khai chứng cứ hòa giải. Đơn phản tố của ông Đ đưa ra sau khi Tòa án tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố về việc buộc ông H phải trả lại diện tích đất 1m² và tháo dỡ công trình xây dựng trên phần diện tích đất này theo như kết quả đo đạc của Tòa án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Ngô Thị T1, chị Nguyễn Thị L, chị Nguyễn Thị Thu H1, anh Nguyễn Văn M do ông H là người đại diện theo ủy quyền trình bày nhất trí với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không bổ sung gì thêm.
Từ những nội dung trên bản án sơ thẩm đã căn cứ Điều 26; Khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 157, 165, 147, 184, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 115, 155, 158, 166, 175, 176, 179 Bộ luật dân sự năm 2005. Các Điều 166, 170 Luật đất đai năm 2013; Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Xác nhận diện tích đất 4,1m² ở thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh có các cạnh: cạnh 5’-6 dài 2,82m; cạnh 6-7 dài 5,53m; cạnh 708 dài 0,10m; cạnh 8-9 dài 5,49m; cạnh 9-(5) dài 0,34m và cạnh (5)-5' dài 13,85m thuộc quyền quản lý, sử dụng hợp pháp của hộ ông Nguyễn Văn H.
Buộc ông Ngô Văn Đ, bà Dương Thị G trả cho ông Nguyễn Văn H diện tích đất 4,1m² ở thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh có các cạnh: cạnh 5'-6 dài 2,82m; cạnh 6-7 dài 5,53m; cạnh 7-8 dài 0,10m; cạnh 8-9 dài 5,49m; cạnh 9-(5) dài 0,34m và cạnh (5)-5' dài 13,85m và tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng trên phần diện tích đất này.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 20/01/2025, ông Ngô Văn Đ và bà Dương Thị G kháng cáo toàn bộ bản án.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Trong phần tranh luận, nguyên đơn đề nghị hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm với những căn cứ như đã trình bày, người đại diện theo ủy quyền của người kháng cáo đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như đã trình bày và phân tích tại phần trình bày kháng cáo của bị đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý phúc thẩm cho đến phần tranh luận tại phiên tòa là đảm bảo theo đúng trình tự, quy định của pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS, xử:
- - Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm xử
- - Án phí: Miễn toàn bộ án phí cho bị đơn do là người cao tuổi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Ngô Văn Đ, bà Dương Thị G nộp trong hạn luật định, đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng nên được xem xét giải quyết theo trình tự xét xử phúc thẩm.
[2]. Về nội dung: Nguồn gốc của thửa đất số 761, diện tích 203m² ở thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh mang tên hộ ông Nguyễn Văn H là do cha ông để lại. Thửa đất có tứ cận: phía Bắc giáp nhà ông Đ, phía Nam giáp thửa số 15, tờ bản đồ số 25 và 1 phần ngõ đi nay nhà ông H đang sử dụng, phía Đông giáp thửa số 16, tờ bản đồ số 25, phía Tây giáp ngõ bê tông. Theo hồ sơ kỹ thuật đo đạc năm 2002 là thửa số 14, tờ bản đồ số 25, diện tích 216m². Phần diện tích tăng lên so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do kỹ thuật đo đạc giữa các thời kỳ khác nhau. Theo nguyên đơn trình bày trong quá trình quản lý, sử dụng thửa đất giữa gia đình ông H và gia đình ông Đ không có tranh chấp về mốc giới giữa hai nhà, chỉ từ khi ông Đ xây nhà năm 2024 thì hai bên gia đình phát sinh tranh chấp. Năm 2013, gia đình ông H xây dựng công trình gồm 01 nhà ba tầng, 01 phòng thờ và xây tường bao xung quanh. Phần đất tiếp giáp với nhà ông Đ là khoảng trống. Ranh giới ngăn cách giữa nhà ông H và nhà ông Đ là tường cũ của nhà ông Đ vẫn còn nguyên hiện trạng. Tháng 4 năm 2024 khi ông Đ xây nhà đã không xây dựng theo như móng tường cũ mà xây sang phần đất nhà ông H. T1 gạch nhà ông Đ không có đường gấp khúc nhưng khi xây dựng nhà mới, ông Đ đã xây tường gạch theo đường gấp khúc, xây trên phần đất gia đình ông H để trống. Phần nhà hai tầng ông Đ đang xây có một phần xây dựng sang đất nhà ông. Mặc dù hai bên đã được UBND xã tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Vì vậy ông H khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông Đ, bà G phải trả lại phần diện tích đất 4,1m² theo kết quả đo đạc và phải tháo dỡ toàn bộ công trình trên phần diện tích đất này.
Tòa án cấp sơ thẩm xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H. Sau khi Tòa án cấp sơ thẩm xử, bị đơn là ông Ngô Văn Đ, bà Dương Thị G kháng cáo toàn bộ bản án.
Xét kháng cáo của ông Đ, bà G thì thấy: Ngày 24/5/2001 hộ ông Nguyễn Văn H đã được UBND huyện Y, tỉnh Bắc Ninh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 761, diện tích 203m² ở thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Thửa đất có tứ cận: phía Bắc giáp nhà ông Đ, phía Nam giáp thửa số 15, tờ bản đồ số 25 và 1 phần ngõ đi nay nhà ông H đang sử dụng, phía Đông giáp thửa số 16, tờ bản đồ số 25, phía Tây giáp ngõ bê tông. Theo hồ sơ kỹ thuật đo đạc năm 2002 là thửa đất số 14, tờ bản đồ số 25, diện tích 216m². Theo kết quả đo đạc thực tế thì thửa đất có diện tích 247,1m² trong đó nhà ông H nhận chuyển nhượng từ ông Đ bà G 38m² ở cạnh phía Nam. Phần diện tích đất này chưa được đăng ký biến động tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Trên đất có các công trình xây dựng gồm 01 nhà ba tầng, 01 phòng thờ, tường xây khung inox, cổng mái ngói, trụ cổng bê tông, sân gạch và bể cá.
Tại đơn xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do chủ hộ là ông Ngô Quang Đ1 ký tên, đề nghị UBND huyện Y cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 465m² ở thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Ông Đ1 trình bày đã được UBND huyện Y cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng bị đơn không cung cấp cho Tòa án. Thửa đất có tứ cận: phía Bắc giáp đường bê tông; phía Nam giáp nhà ông H; phía Đông giáp thửa số 181, thửa số 200, tờ bản đồ số 23 và thửa số 16, tờ bản đồ số 25; phía Tây giáp ngõ bê tông. Theo hồ sơ kỹ thuật đo đạc năm 2002 là thửa số 199, tờ bản đồ số 23, diện tích 488m². Theo kết quả đo đạc thực tế thì thửa đất có diện tích 482m².
Căn cứ vào kết quả đo đạc thực tế của Công ty cổ phần T3 thì gia đình ông Đ1 đã xây dựng công trình sang phần diện tích đất của gia đình ông H là 4,1m². Trên phần diện tích đất này gia đình ông Đ1 đã xây tường gạch 250 cao 50cm, tường xây 350 cao 1,1m và tường 110 bổ trụ cao 1,05m; một phần nhà 3 tầng đang xây thô. Ngoài ra theo hồ sơ kỹ thuật đo đạc năm 2002 thì cạnh phía Tây giáp ngõ bê tông của thửa đất nhà ông Đ1 là đường thằng nhưng hiện tại lại là đường cong, vẫn còn khoảng diện tích đất trống 9,3m². Phần tường xây dựng đã dịch chuyển mốc giới sang phía nhà ông H 0,34m; cạnh phía Nam của thửa đất cũng là đường thẳng nhưng hiện tại tường xây gạch là đường gấp khúc, nằm ngoài tường cũ của nhà ông Đ1. Cạnh phía Bắc và phía Đ2 không có sự thay đổi về mốc giới. Như vậy hai gia đình mới phát sinh tranh chấp khi gia đình ông Đ1 xây nhà vào tháng 4 năm 2024. Ranh giới giữa hai nhà vẫn còn tường gạch của nhà ông Đ1. phần tường gạch hiện tại nhà ông Đ1 xây nằm ngoài phần tường cũ của nhà ông Đ1. Tường gạch cũ xây là đường thẳng nhưng tường gạch mới là đường cong, gấp khúc.
Từ những phân tích trên có thể thấy hộ gia đình nhà ông Đ1 đã xây lấn sang đất của nhà ông H là 4,1m² và Tòa án cấp sơ thẩm xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.
Ngoài ra đối với yêu cầu phản tố của ông Đ1 đề nghị Tòa án buộc ông H tháo dỡ phần mái tôn của gia đình ông H xây chìa sang phần đất của nhà ông Đ1 1m², yêu cầu này được đưa ra sau ngày Tòa án sơ thẩm tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải do đó yêu cầu phản tố của ông Đ1 không được xem xét giải quyết. Ông Đ1 có thể khởi kiện bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa phúc thẩm ông Đ1, bà G là người kháng cáo nhưng không đưa ra được tài liệu chứng cứ nào mới chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ, do đó, cần không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của ông Đ1, bà G, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
[3] Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm số 03/2025/DSST ngày 15/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
[4] Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, ông Đ1 bà G là người cao tuổi nên theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí nên miễn toàn bộ án phí cho ông Đ1 bà G là phù hợp.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Ngô Văn Đ, bà Dương Thị G, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 03/2025/DS-ST ngày 15/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong.
- Về án phí phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Ngô Văn Đ, bà Dương Thị G.
- Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm số 03/2025/DS-ST ngày 15/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thanh Bình |
Bản án số 59/2025/DS-PT ngày 10/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 59/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Hùng, sinh năm 1974; Bị đơn: Ông Ngô Văn Được, sinh năm 1949; Bà Dương Thị Gái, sinh năm 1947
