|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 59/2025/DS-PT
Ngày: 05 – 3 – 2025
V/v “Tranh chấp Đòi lại tài sản”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Thanh Bình
Các Thẩm phán: Ông Đỗ Minh Nhựt
Bà Lê Kim Đó
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Linda - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai: Bà Trần Thị Loan – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 05 tháng 3 năm 2025, tại Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 428/2024/TLPT-DS ngày 26 tháng 12 năm 2024 về tranh chấp “Tranh chấp kiện đòi lại tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 173/2024/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 14/2025/QĐ-PT ngày 10 tháng 01 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 75/2025/QĐ-PT ngày 10 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thành P, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Đường H, khu P (Ấp D), thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1966
Địa chỉ: Tổ H, ấp A, xã L, huyện L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Đức T, sinh năm 1940. Địa chỉ: Tổ H, ấp A, xã L, huyện L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
(Ông P và ông H có mặt; Ông T vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nội dung Bản án sơ thẩm:
Theo đơn khởi kiện, tại bản tự khai, quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn ông Nguyễn Thành P trình bày:
Ông và ông Nguyễn Ngọc H quen biết nhau, chứ không có quan hệ họ hàng gì. Ngày 10/7/2018, ông có cho ông H vay số tiền 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng), thời hạn vay 30 (ba mươi ngày), không tính lãi suất.
Khi vay ông H có đưa cho ông giữ 17 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Lê Đức T và bà Vũ Thị T1, cụ thể như sau:
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 370270 do UBND huyện L cấp ngày 16/4/2010 thửa số 79 tờ bản đồ số 08 xã L.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 370264 do UBND huyện L cấp ngày 16/4/2010 thửa số 67 tờ bản đồ số 08 xã L.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 370263 do UBND huyện L cấp ngày 16/4/2010 thửa số 61 tờ bản đồ số 08 xã L.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 370268 do UBND huyện L cấp ngày 16/4/2010 thửa số 60 tờ bản đồ số 08 xã L.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 370262 do UBND huyện L cấp ngày 16/4/2010 thửa số 59 tờ bản đồ số 08 xã L.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 370260 do UBND huyện L cấp ngày 16/4/2010 thửa số 58 tờ bản đồ số 08 xã L.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 370261 do UBND huyện L cấp ngày 16/4/2010 thửa số 67 tờ bản đồ số 08 xã L.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 370266 do UBND huyện L cấp ngày 16/4/2010 thửa số 65 tờ bản đồ số 08 xã L.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 370265 do UBND huyện L cấp ngày 16/4/2010 thửa số 66 tờ bản đồ số 08 xã L.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 370267 do UBND huyện L cấp ngày 16/4/2010 thửa số 64 tờ bản đồ số 08 xã L.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 370269 do UBND huyện L cấp ngày 16/4/2010 thửa số 68 tờ bản đồ số 08 xã L.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 370259 do UBND huyện L cấp ngày 16/4/2010 thửa số 69 tờ bản đồ số 08 xã L.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 370258 do UBND huyện L cấp ngày 16/4/2010 thửa số 72 tờ bản đồ số 08 xã L.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 370273 do UBND huyện L cấp ngày 16/4/2010 thửa số 80 tờ bản đồ số 08 xã L.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 370271 do UBND huyện L cấp ngày 16/4/2010 thửa số 74 tờ bản đồ số 08 xã L.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 370272 do UBND huyện L cấp ngày 16/4/2010 thửa số 73 tờ bản đồ số 08 xã L.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 370274 do UBND huyện L cấp ngày 16/4/2010 thửa số 75 tờ bản đồ số 08 xã L.
Đến hạn trả nợ ông H không trả cho ông số tiền đã vay, ông nhiều lần yêu cầu ông H trả nợ nhưng ông H vẫn không trả.
Tại phiên tòa sơ thẩm ông xin rút một phần yêu cầu khởi kiện, ông chỉ yêu cầu ông Nguyễn Ngọc H trả số tiền nợ gốc 1.000.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất.
Đối với 17 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên ông đang giữ khi nào ông H trả hết nợ ông sẽ có trách nhiệm trả lại giấy cho ông H.
Tại bản tự khai và các lời khai trong quá trình tố tụng bị đơn ông Nguyễn Ngọc H trình bày:
Ông tham gia chơi cờ bạc, ông thua rất nhiều tiền nên có vay của anh D (Nguyễn Thành P) số tiền 200.000.000 đồng vào thời gian nào ông không nhớ, sau đó vì mắc nợ nhiều người nên ông bỏ trốn, sau này ông P gặp lại bắt ông phải viết ghi số tiền vay nợ là 1.000.000.000 đồng. Việc bắt ép ghi nợ số tiền 1.000.000.000 đồng ông không có chứng cứ cung cấp gì vì ông vay tiền chơi cờ bạc nên không báo Công an biết. Ông chỉ đồng ý trả cho ông P số tiền 200.000.000 đồng chứ không đồng ý theo yêu cầu của ông P.
Khi vay tiền ông chỉ biết người cho ông vay tiền tên là D nhưng khi làm việc tại Tòa thì người khởi kiện tên Nguyễn Thành P chính là người tên D đã cho ông vay tiền.
Người làm chứng bà Lê Thị Hồng N trình bày: Bà đang đi làm thì chồng bà gọi bà về, bà về đến nhà thì thấy có một nhóm người khoảng 7, 8 người đứng ở cổng nhà, một nhóm người bắt bà viết giấy nợ và ký tên nhưng bà không ký vì bà không vay nợ, sau đó họ quay ra bắt ông H viết giấy nợ. Sau khi sự việc xảy ra bà gọi anh P1 Công an hình sự xã L nhưng không đến, bà cũng không làm đơn gửi Công an. Ông H vay nợ để chi dùng cá nhân, bà không có trách nhiệm phải trả. Bà N có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Người làm chứng bà Lê Thị Thúy N1 trình bày: Bà là em gái của bà N, vợ ông H. Thời gian đó bà và bà N làm việc chung với nhau. Vào một buổi chiều bà thấy bà N khóc và vội vã về nhà nên bà đã đi theo. Tới nơi, bà N vào nhà, bà không vào được vì có rất nhiều người trong nhà và chặn cửa, bà đã nghe tiếng ồn từ việc nhiều người lớn tiếng và đập bàn. Bà không biết chuyện gì xảy ra bên trong. Bà N1 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Người làm chứng bà Bùi Thị Kim L trình bày: Bà là người cho thuê nhà bà N, bà không có bà con, họ hàng gì với bà N. Bà có thấy đông người vào nhà ông H lớn tiếng còn chuyện gì bà không biết. Mấy lần bà đến bà có thấy mấy người tới đứng ở cổng để làm gì bà không biết. Bà L có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 173/2024/DS-ST ngày 24/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành đã căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 166; Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử :
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thành P về việc “Kiện đòi lại tài sản” với bị đơn ông Nguyễn Ngọc H.
Buộc ông Nguyễn Ngọc H phải có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Thành P số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng).
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành P về yêu cầu tính lãi suất.
Giành quyền khởi kiện cho ông Lê Đức T bằng vụ án khác khi có yêu cầu theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, lãi suất, quyền yêu cầu thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 26/9/2024 ông Nguyễn Ngọc H kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại vì chưa đúng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Cấp sơ thẩm đã xem xét toàn bộ nội dung vụ án, áp dụng đúng các quy định của pháp luật và quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Ông H kháng cáo nhưng không cung cấp thêm chứng cứ gì mới và yêu cầu kháng cáo không phù hợp quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Ngọc H làm trong hạn luật định đã đóng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đúng quy định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Ông Lê Đức T đã được tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa nên căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt ông T là đúng quy định pháp luật.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về số tiền vay: Tại đơn khởi kiện, ông P yêu cầu ông H trả số tiền nợ gốc là 1.000.000.000đ (Một tỷ đồng) và tiền lãi tạm tính đến ngày 21/3/2024 là 680.000.000₫ (Sáu trăm tám mươi riệu đồng). Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về yêu cầu tính lãi suất. Vì vậy, đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là đúng quy định pháp luật.
Ông H trình bày ông có vay tiền của người đàn ông tên D số tiền 200.000.000₫ vào khoảng tháng 5/2018, sau đó đến ngày 10/7/2018 ông P cho người vào nhà ông H ép buộc ông H phải ký giấy nợ nội dung ông H có nợ ông P 1.000.000.000₫ và tự lấy 17 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như ông H trình bày số sổ và số thửa là đúng. 17 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này đứng tên ông Lê Đức T và bà Vũ Thị T1 là cha mẹ vợ của ông H. Tại biên bản đối chất ngày 24/6/2024 và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm ông H xác định người tên là D cho ông vay tiền và người khởi kiện tên Nguyễn Thành P là cùng một người. Tại phiên tòa ông P cũng thừa nhận ông có tên gọi khác là D.
Ông H thừa nhận chữ ký và chữ viết Nguyễn Ngọc H tại Giấy vay tiền ngày 10/7/2018 do nguyên đơn cung cấp là của ông, ông H cho rằng ông bị ép buộc ký nhưng ông H không cung cấp được chứng cứ chứng minh ông bị ép buộc ký giấy vay số tiền 1.000.000.000 đồng. Những người làm chứng bà Lê Thị Hồng N là vợ ông H khai có gọi điện cho anh P1 Công an xã nhưng anh P1 không đến, bà cũng không làm đơn để báo chính quyền địa phương. Bà Lê Thị Thúy N1, bà Bùi Thị Kim L cho biết khi đứng ngoài cổng nhà ông H thấy có nhiều người trong nhà, có nghe tiếng la mắng nhưng không không biết có chuyện gì xảy ra. Do đó, việc ông H khai bị ép buộc ký giấy vay tiền nêu trên là không có cơ sở xem xét. Vì vậy, ông P yêu cầu ông H trả số tiền đã vay là 1.000.000.000đ (Một tỷ đồng) là có cơ sở chấp nhận.
[2.2] Đối với 17 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông P đang giữ: Ông P khai khi vay tiền ông H giao cho ông giữ để làm tin, ông P trình bày khi nào ông H trả xong nợ thì ông sẽ trả lại cho ông H. Tại phiên tòa sơ thẩm ông H trình bày ông không có yêu cầu gì về 17 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nguyên đơn đang giữ vì không liên quan gì đến ông. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông P và ông H đều trình bày hiện nay ông T1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới.
Xét thấy, 17 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông P đang giữ đứng tên ông Lê Đức T và bà Vũ Thị T1. Ông T và bà T1 là cha mẹ vợ của ông Nguyễn Ngọc H. Bà T1 đã chết vào năm 2019, Tòa án đã triệu tập nhiều lần ông Lê Đức T đến Tòa làm việc nhưng ông T không đến và không có ý kiến gì đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông P đang giữ. Vì vậy, dành quyền khởi kiện cho ông Lê Đức T bằng vụ án khác khi có yêu cầu theo quy định của pháp luật.
[3] Về án phí DSPT: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Nguyễn Ngọc H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[4] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Ngọc H;
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 173/2024/DS-ST ngày 24/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng Điều 166; Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử :
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thành P về việc “Kiện đòi lại tài sản” với bị đơn ông Nguyễn Ngọc H.
Buộc ông Nguyễn Ngọc H phải có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Thành P số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng).
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành P về yêu cầu tính lãi suất.
Dành quyền khởi kiện cho ông Lê Đức T bằng vụ án khác khi có yêu cầu theo quy định của pháp luật.
- Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, mà người phải thi hành án chưa thanh toán số tiền nêu trên, thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chưa thi hành án. Mức lãi suất chậm trả được tính theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về án phí DSST: Ông Nguyễn Ngọc H phải chịu 42.000.000 đồng (Bốn mươi hai triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho ông Nguyễn Thành P số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 31.200.000 đồng theo biên lai thu số 0015538 ngày 04/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành.
Án phí DSPT : Ông Nguyễn Ngọc H phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm được trừ vào vào tạm ứng án phí đã nộp Biên lai số 16724 ngày 12/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cũng bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Thị Thanh Bình |
Bản án số 59/2025/DS-PT ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp đòi lại tài sản
- Số bản án: 59/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Đòi lại tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: đòi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
