Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẦN GIUỘC

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 59/2024/HSST

Ngày: 24-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Đức Bảo.

Các hội thẩm nhân dân:Ông Trần Văn Đoàn.

Ông Nguyễn Minh Chí.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc: Ông Nguyễn Trần Hoàng Phú – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 54/2024/TLST - HS ngày 05 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2024/QĐXXST-HS, ngày 09 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Khánh D, sinh ngày: 08/10/1997.

Nơi thường trú: I Đường số A, Phường A, quận T, Tp .; Nơi ở hiện tại: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Nhã H và bà Nguyễn Thị Mộng T; Bản thân có vợ tên Lê Ý N, chưa có con; Tiền án - tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/01/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

  1. Đỗ Thị S, sinh năm: 1963 (vắng mặt).
  2. Cư trú: ấp L, xã P, huyện C, tỉnh Long An.

  3. Phan Thị Kim C, sinh năm: 1982 (có mặt).
  4. Cư trú: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Long An.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Phan Thị T1, sinh năm: 1970 (có mặt).

Cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ 50 phút ngày 25/01/2024, Nguyễn Khánh D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Lead, màu đen, biển kiểm soát 69F1-530.33 đi trên đường T hướng từ cầu C về ngã ba ấp L thuộc ấp L, xã P thì phát hiện bà Đỗ Thị S đang đi xe đạp điện, cổ có đeo 01 sợi dây chuyền vàng 18K, loại mắc xích, trọng lượng 05 chỉ. D điều khiển xe vượt lên bên phải áp sát song song xe bà S, rồi dùng tay trái giật đứt sợi dây chuyền trên cổ bà S. Sợi dây chuyền rơi xuống áo, bà S dùng tay giữ lại sợi dây chuyền. Không chiếm đoạt được sợi dây chuyền, D tăng ga bỏ chạy. Đến khoảng 17 giờ 00 cùng ngày, D tiếp tục điều khiển xe mô tô về chợ P thì nhìn thấy chị Phan Thị Kim C điều khiển xe mô tô hướng ngược lại, trên cổ chị C có đeo 01 sợi dây chuyền vàng 18K, loại mắc xích, trọng lượng 05 chỉ 01 phân, nên D điều khiển xe mô tô quay lại. Khi đến trước cửa hàng B thuộc xã P, D điều khiển xe vượt lên bên phải chạy áp sát song song chị C, rồi dùng tay trái giật sợi dây chuyền rồi tăng ga bỏ chạy. Trên đường tẩu thoát, D bỏ sợi dây chuyền vừa giật được vào túi áo bên trái. Về đến nhà, D dùng tay gắn lại sợi dây chuyền, rồi cho vào túi nylon màu đen giấu trong cốp xe. Qua điều tra, Cơ quan Công an mời D về làm việc, D đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và giao nộp lại sợi dây chuyền đã cướp được của chị C.

Tại Kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐGTS ngày 26/01/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng huyện C kết luận: 01 (một) sợi dây chuyền 18K, loại mắc xích, trọng lượng 05 chỉ 01 phân, trị giá 20.145.000 đ (Hai mươi triệu một trăm bốn mươi lăm ngàn đồng).

Tại Kết luận định giá tài sản số 06/KL-HĐĐGTS ngày 29/01/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng huyện C kết luận: 01 (một) sợi dây chuyền 18K, loại mắc xích, trọng lượng 05 chỉ, trị giá 19.750.000 đ (Mười chín triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng).

Tại Bản cáo trạng số 58/CT-VKSCG ngày 05/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc truy tố bị cáo Nguyễn Khánh D về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Khánh D từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Trách nhiệm dân sự: Bị hại Phan Thị Kim CĐỗ Thị S đã nhận lại tài sản, hiện không yêu cầu, nên đề nghị không xem xét.

Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra đã tạm giữ và hoàn trả: cho bà Phan Thị T1 (mẹ vợ bị cáo) 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Lead, màu đen, biển kiểm soát 69F1-530.33, do bà T1 là chủ sở hữu cho bị cáo mượn, việc bị cáo sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, bà T1 không biết; hoàn trả cho chị Phan Thị Kim C 01 sợi dây chuyền 18K, loại mắc xích, trọng lượng 05 chỉ 01 phân và hoàn trả cho bị cáo 01 quần tây vải màu xám, 01 áo khoát đen có nón phía sau, 01 khẩu trang trắng, 01 nón bảo hiểm màu xanh, 01 đôi dép nhựa màu đen, là phù hợp.

Bị cáo, bị hại có mặt và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: xin lỗi bị hại và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Vào khoảng 16 giờ 50 phút và 17 giờ 05 phút, cùng ngày 25/01/2024, do cần tiền tiêu xài nên bị cáo D đã điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 69F1-530.33 chạy trên đường T hướng từ cầu C về ngã ba ấp L thuộc ấp L, xã P để thực hiện 02 vụ cướp giật tài sản. Vụ thứ nhất, cướp giật 01 (một) sợi dây chuyền vàng 18K, loại mắc xích, trọng lượng 05 chỉ của bà Đỗ Thị S. Vụ thứ hai, cướp giật 01 (một) sợi dây chuyền vàng 18K, loại mắc xích, trọng lượng 05 chỉ 01 phân của chị Phan Thị Kim C. Tổng giá trị tài sản 02 lần cướp giật là 39.895.000 đồng. Hành vi của bị cáo D đã cấu thành tội “Cướp giật tài sản” tội phạm được quy định tại Điều 171 Bộ luật hình sự.

[3] Việc bị cáo D sử dụng xe mô tô và thực hiện hành vi cướp giật tài sản của bị hại, rồi nhanh chóng điều khiển xe tẩu thoát khi bị hại đang điều khiển xe đạp điện và xe mô tô có thể gây nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng của bị hại và những người tham gia giao thông trên đường. Do đó hành vi phạm tội của bị cáo D thuộc trường hợp định khung tăng nặng hình phạt là “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây mất an ninh trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được hành cướp giật tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Do đó hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý thỏa đáng mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[5] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: đã 02 lần thực hiện hành vi cướp giật tài sản, nên “Phạm tội hai lần trở lên” là tình tiết tăng nặng theo qui định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: bị cáo tự thú lần phạm tội trước đó và đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được hưởng tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo là bộ đội xuất ngũ, hoàn cảnh gia đình khó khăn là lao động chính, vợ đang mang thai, tại phiên tòa bị hại Kim C xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên bị cáo còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự

[7] Xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có thể giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Xét thấy áp dụng hình phạt tù cũng đủ răn đe, nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 171 Bộ luật hình sự.

[8] Về tang vật thu giữ: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Lead, màu đen, biển kiểm soát 69F1-530.33, Cơ quan cảnh sát điều tra đã hoàn cho bà Phan Thị T1 (mẹ vợ bị cáo) do bà T1 là chủ sở hữu cho bị cáo mượn sử dụng, việc bị cáo sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, bà T1 không biết; Đối với 01 sợi dây chuyền 18K, loại mắc xích, trọng lượng 05 chỉ 01 phân, Cơ quan cảnh sát điều tra đã hoàn trả cho chị Phan Thị Kim C, là bị hại trong vụ án và hoàn trả cho bị cáo 01 quần tây vải màu xám, 01 áo khoát đen có nón phía sau, 01 khẩu trang trắng, 01 nón bảo hiểm màu xanh, 01 đôi dép nhựa màu đen, do là vật dụng cá nhân bị cáo, không liên quan đến vụ án. Là phù hợp với quy định tại Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự.

[9] Trách nhiệm dân sự: bị hại Đỗ Thị S, tại phiên tòa vắng mặt, nhưng theo hồ sơ thể hiện (bút lục số 61-62) không yêu cầu, bị hại Phan Thị Kim C tại phiên tòa không yêu cầu, nên không xem xét. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Phan Thị T1, tại phiên tòa cũng không yêu cầu, nên không xem xét.

[10] Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Khánh D phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Khánh D 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 26/01/2024.

Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (24/7/2024) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.

Về án phí: bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Long An;
  • -VKSND huyện Cần Giuộc;
  • -CA huyện Cần Giuộc;
  • -THADS huyện Cần Giuộc;
  • -Bị cáo; đương sự;
  • -Lưu hồ sơ;
  • -Lưu án văn.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

NGUYỄN ĐỨC BẢO

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẦN GIUỘC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

TỈNH LONG AN

Cần Giuộc, ngày 24 tháng 7 năm 2024

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi 9 giờ 00 phút ngày 24 tháng 7 năm 2024.

Tại: trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Bảo.

Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Đoàn.

Ông Nguyễn Minh Chí.

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2024/TLST-HS, ngày 05/7/2024 đối với bị cáo: Nguyễn Khánh Duy.

Căn cứ vào Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ vào các chứng cứ vào tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC

VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

  1. Về tội danh:
  2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Khánh Duy phạm tội “Cướp giật tài sản”.

    Kết quả biểu quyết: 3/3.

  3. Về Điều luật áp dụng:
  4. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.

    Kết quả biểu quyết: 3/3.

  5. Về hình phạt:
  6. Xử phạt: Nguyễn Khánh Duy 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 26/01/2024.

    Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (24/7/2024) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.

    Kết quả biểu quyết: 3/3.

  7. Các vấn đề khác:
  8. Về án phí: bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Kết quả biểu quyết: 3/3.

Nghị án kết thúc vào hồi 9 giờ 15 phút, cùng ngày.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên của Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

CHỦ TỌA

TRẦN VĂN ĐOÀN – NGUYỄN MINH CHÍ

NGUYỄN ĐỨC BẢO

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2024/HSST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 59/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Khanh D phạm tội "Cướp giật tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger