|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 59/2024/HSST Ngày: 17/4/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm Phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quyên
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Nguyễn Thị Ngọc Hiệp
Bà Lê Thị Điền
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Thái Văn Nhật – Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai: Ông Dương Văn Khánh - Kiểm sát viên
Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 21/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 63/2024/QĐXXST ngày 19 tháng 3 năm 2024; Thông báo dời lịch ngày 10/4/2024 đối với bị cáo:
Phan Thanh G; sinh năm 1978 tại Bình Định; Hộ khẩu thường trú: tổ A, khu phố E, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: số C, đường P, khu phố H, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Kiến trúc sư; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Văn T, sinh năm 1954 và bà Lê Thị H, sinh năm 1955; gia đình bị cáo có 05 anh chị em, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; Vợ Trần Thị Thanh X, sinh năm 1985 (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không; Bị đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam ngày 13/9/2023 – Hiện bị cáo đang bị tạm giam Công an tỉnh Đ.
Người bào chữa theo chỉ định của bị cáo: Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Phùng Ngọc Thanh H1 – Công ty L – Đoàn luật sư tỉnh Đ.
Bị hại:
- Ông Trịnh Ngọc T1, sinh năm 1969.
- Anh Phạm Ngọc T2, sinh năm 1991.
Nơi cư trú: A 3/265 khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: tổ A, khu phố E, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Trịnh Ngọc H2, sinh năm 2000.
- Anh Lê Minh T3, sinh năm 1990.
Địa chỉ: A khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: tổ 16, khu phố 1, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Chung cư Homez@canary, phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương.
(bị cáo, luật sư có mặt, những người khác vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN;
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phan Thanh G có mối quan hệ quen biết với anh Nguyễn Tiến H3 (sinh năm 1980, cư ngụ tại thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai). Vào khoảng tháng 11/2022, G mượn xe ô tô nhãn hiệu Mitsubishi loại 5 chỗ, màu xám đen (không nhớ rõ biển số) của anh H3 để phục vụ cho công việc. Thời điểm này, G đang làm xây dựng nhưng do đầu tư kinh doanh thua lỗ không có tiền để trả tiền nợ nên G nảy sinh ý định mang xe ô tô Mitsubishi của anh H3 đi cầm cố để lấy tiền trả nợ, mặc dù G chưa trao đổi với anh H3. Để thực hiện ý định trên, vào ngày 11/11/2022, G điều khiển xe ô tô Mitsubishi của anh H3 đến tiệm cầm đồ “MINH HY679” của anh Phạm Ngọc T2 (sinh năm 1991, cư ngụ tại tổ A, khu phố E, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai cầm với số tiền 130.000.000 đồng. Anh T2 chuyển khoản số tiền 80.000.000 đồng và đưa tiền mặt cho Giản số tiền 50.000.000 đồng. Đến ngày 23/11/2022, anh H3 yêu cầu G trả lại xe ô tô để đi về quê nhưng G không có tiền chuộc lại xe ô tô để trả cho anh H3 nên G tiếp tục nảy sinh ý định thuê xe ô tô tự lái, sau đó thế chấp chiếc xe thuê được gán lấy xe ô tô để trả lại cho anh H3. Do quen biết với anh Trịnh Ngọc H2 (sinh năm 2000, cư ngụ tại tổ D, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) nên G gọi cho anh H2 để thuê xe ô tô tự lái. Anh H2 đồng ý và điều khiển xe ô tô nhãn hiệu “Kia K3” màu trắng biển số 60K-267.39 đến giao cho G tại thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai, bên cho thuê xe là ông Trịnh Ngọc T1 (người đại diện là anh H2), thời gian thỏa thuận thuê xe ô tô từ ngày 23/11/2022 đến ngày 09/12/2022 với giá 1.000.000 đồng/ngày. Khi đã thuê được chiếc xe nêu trên, Phan Thanh G điều khiển xe đến tiệm cầm đồ của anh T2 thế chấp lại và lấy xe ô tô Mitsubishi trả cho anh H3.
Đến hết thời hạn hợp đồng thuê xe nên anh H2 gọi cho G yêu cầu trả lại xe Kia K3 màu trắng biển số 60K-267.39 thì G nói dối với anh H2 là đang có nhu cầu dùng xe tiếp nhưng anh H2 nói xe trên có khách khác đã thuê, nếu muốn thuê xe thì phải thuê xe ô tô khác thì G đồng ý. Khoảng 18 giờ cùng ngày, theo như thỏa thuận trước đó thì ông T1 uỷ quyền cho anh H2 điều khiển xe ô tô nhãn hiệu MG5 biển số 61K-143.12 là xe của anh Lê Minh T3 (anh T3 cầm xe cho ông T1), đi đến khu vực thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai để giao cho G thuê. Giản hẹn ông T1 để xe ngoài đường gần tiệm cầm đồ của anh T2, khi thuê được chiếc xe này thì G điều khiển xe biển số 61K-143.12 vào tiệm cầm đồ giao cho anh T2 rồi lấy xe biển số 60K-267.39 ra trả lại cho ông T1. Sau đó G và ông T1 ký hợp đồng thỏa thuận cho thuê xe biển số 61K-143.12 với giá 1.000.000 đồng/ngày và thỏa thuận thời gian thuê từ ngày 09/12/2022 đến ngày 12/12/2022.
Đến thời hạn trả xe, ông T1 yêu c trả xe nhưng Giản xin gia hạn thời hạn thuê xe thì ông T1 đồng ý. Sau đó, ông T1 biết G đã mang xe ô tô biển số 61K-143.12 đi cầm cố cho anh T2 và không có khả năng chuộc xe nên ông T1 làm đơn tố cáo.
Đến ngày 13/9/2023 G đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đầu thú.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 05/KL-ĐGTS ngày 10/01/2023 của Hội đồng định giá tài sản kết luận: Xe ô tô nhãn hiệu MG5, biển số 61K-143.12 có trị giá là 520.000.000 đồng.
Tại Bản kết luận giám định số 816/KL-KTHS, ngày 31/5/2023 kết luận:
- Chữ ký và chữ viết mang tên Phan Thanh G trên biên bản thoả thuận cho thuê xe là của Phan Thanh G.
- Chữ viết “Phan Thanh G” trên hợp đồng cầm đồ là của Phan Thanh G.
Vật chứng của vụ án: 01 xe ô tô nhãn hiệu “MG5” biển số 61K-143.12, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu là anh Lê Minh T3.
Về trách nhiệm dân sự:
Anh Lê Minh T3 đã nhận lại xe ô tô nhãn hiệu MG5, biển số 61K-143.12 nên không yêu cầu bồi thường. Ông Trịnh Ngọc T1 yêu cầu bị can Phan Thanh G bồi thường 100.000.000 đồng tổn thất do xe không kinh doanh trong thời gian xử lý của Cơ quan điều tra. Anh Phạm Ngọc T2 yêu cầu bị can Phan Thanh G trả lại số tiền 130.000.000 đồng đã cầm cố chiếc xe ô tô nhãn hiệu MG5, biển số 61K-143.12. Hiện nay, bị can G chưa bồi thường.
Tại bản Cáo trạng số 15/CT-VKS-P2 ngày 1601/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Phan Thanh G về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Quan điểm Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa:
- Về tội danh: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố.
- Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đầu thú, tại phiên tòa tự nguyện bồi thường cho bị hại. Các tình tiết giảm nhẹ trên quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Điều luật áp dụng và mức án đề nghị: Áp dụng khoản 4 Điều 175; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xử phạt bị cáo từ 12 năm tù đến 14 năm tù.
Về dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại theo quy định pháp luật.
Quan điểm các luật sư tham gia bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa: Thống nhất tội danh và điều luật Viện kiểm sát truy tố. Luật sư đưa ra tình tiết giảm nhẹ như bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, chưa tiền án tiền sự, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, tại phiên tòa bị cáo tự nguyện đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, thấp hơn mức án Viện kiểm sát đề nghị.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ân hận về việc làm của mình, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN;
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:
[2.1] Về tội danh: Quá trình điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định: Ngày 09/12/2022, Phan Thanh G đã có hành vi thuê chiếc xe ô tô nhãn hiệu MG5, biển số 61K-143.12 trị giá 520.000.000 đồng của ông Trịnh Ngọc T1, cư ngụ tại tổ D, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai rồi đem đi cầm cố cho anh Phạm Ngọc T2, cư ngụ tại tổ A, khu phố E, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai với số tiền 130.000.000 đồng, sau đó G đã tiêu xài cá nhân và bỏ trốn.
Hành vi của bị cáo thuê xe trị giá 520.000.000 đồng rồi mang đi cầm để chiếm đoạt tiền đã phạm vào tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” được quy định tại khoản 4 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Có đủ cơ sở kết luận bản Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo về tội danh theo điều khoản tương ứng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[2.2] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và lỗi: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được Nhà nước bảo vệ, gây ảnh hưởng trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân. Bị cáo biết việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần xử bị cáo mức án thật nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
[2.3] Các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu, chưa tiền án, tiền sự; bị cáo đầu thú, tại phiên tòa bị cáo tự nguyện bồi thường theo yêu cầu của bị hại. Các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[2.4] Tình tiết tăng nặng: Không.
[3] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trịnh Ngọc T1 yêu cầu bồi thường thiệt hại 100.000.000 đồng do không kinh doanh xe trong thời gian Cơ quan Công an điều tra. Xét yêu cầu của bị hại là không phù hợp quy định pháp luật nên không được xem xét. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo tự nguyện bồi thường cho bị hại T1 50.000.000 đồng nên hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo.
Bị hại Phạm Ngọc T2 yêu cầu bồi thường số tiền 130.000.000 đồng bị cáo cầm xe là có căn cứ. Tại phiên tòa bị cáo tự nguyện bồi thường cho bị hại T2 toàn bộ số tiền trên nên nghi nhận sự tự nguyện của bị cáo.
[5] Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 7.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[6] Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[7] Quan điểm luật sư tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH;
- Về điều luật áp dụng: Áp dụng khoản 4 Điều 175; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Thanh G phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phan Thanh G 12 (mười hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/9/2023.
- Về bồi thường dân sự: Áp dụng các Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự.
- Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về hướng dẫn mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Về thi hành án dân sự: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thanh toán theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, quyền trên đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Buộc bị cáo phải bồi thường cho ông Trịnh Ngọc T1 số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) và anh Phạm Ngọc T2 số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng)
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 7.500.000 đồng (bảy triệu năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Quyên |
Bản án số 59/2024/HSST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 59/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phan Thanh G phạm tộiLạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
