Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG ANH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI


CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 59/2024/HS-ST

Ngày 15/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Yêm
Ông Nguyễn Văn Đ – Hiệu trưởng Trường THCS Võng La.

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Hải Yến - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đông Anh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Kim Thanh – Kiểm sát viên.

Ngày 15/4/2024 tại Phòng xét xử trực tuyến Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 45/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 03 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Đàm Anh T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 24 tháng 02 năm 2007 tại Hà Nội; Nơi thường trú: ....., huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp; Lao động tự do; Văn hóa: 8/12; Con ông: Đàm Anh T. Con bà: Nguyễn Thị H; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất và chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không

- Ngày 29/12/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Mê Linh, TP Hà Nội ra Quyết định khởi tố bị cáo số 364 và Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 249 về hành vi Gây rối trật tự công cộng.

- Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/01/2024 đến nay tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Đàm Anh T là ông Đàm Anh T, sinh năm 1983 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1987; Địa chỉ: ....., huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội. (ông T, bà H có mặt tại phiên tòa).

2. Họ và tên: Lê Minh Đ; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 06 tháng 11 năm 2007 tại: Hà Nội; Nơi thường trú: ..... huyện Mê Linh, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh.Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 11/12; Con ông: Lê Văn N; Con bà: Lê Thị H; Gia đình bị cáo có ba chị em, bị cáo là con thứ nhất và chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.

- Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/01/2024 đến nay tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Lê Minh Đ là ông Lê Văn N, sinh năm 1983 và bà Lê Thị H sinh năm 1984; Địa chỉ: ..... huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội. (ông N, bà H có mặt tại phiên tòa).

- Người bào chữa cho các bị cáo Đàm Anh T và Lê Minh Đ là ông Vũ Văn Dũng, Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước, thành phố Hà Nội (ông Dũng có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1990. Nơi thường trú: ..... huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. (Anh L có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ 30 phút ngày 12/01/2024, tổ công tác Công an xã Cổ Loa, Công an huyện Đông Anh làm nhiệm vụ tại khu vực Xóm Thượng, xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội phát hiện Đàm Anh T, Lê Minh Đ và Nguyễn Văn L (sinh năm: 1990; Nơi thường trú: Xóm Cưu, xã Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội) có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Cơ quan Công an đã phát hiện tạm giữ trong lòng bàn tay trái, lòng bàn tay phải của T đều có 01 lọ nhựa dạng thuốc nhỏ mắt, mũi nhãn hiệu Natriclorid bên trong có chứa chất lỏng màu trắng; bên trong Ti quần bên phải của T có 01 lọ nhựa màu trắng, cao khoảng 14,5cm, đường kính đáy lọ 3,7cm bên trong có chứa chất lỏng màu trắng, T khai là ma tuý loại AB-CHMINACA (dạng tinh dầu). Ngoài ra còn tạm giữ của T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen số Imeil: 350060031052178/01; số Imei2: 357438811052175/01, lắp 02 sim số thuê bao: 0868388044 và số 0777921519.

Khám người theo thủ tục hành chính đối với Nguyễn Văn L phát hiện 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xphone màu vàng, số Imei: 355608074861874, số Imei2: 355608074861882, lắp sim số thuê bao: 0985101131 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám, số Imei: 353322075318213, không lắp sim cùng với số tiền 300.000đ.

Khám người theo thủ tục hành chính đối với Lê Minh Đ không phát hiện thu giữ gì.

Khám phương tiện chiếc xe máy mang BKS: 29Z1-45336 không phát hiện thu giữ gì.

Tổ công tác đã lập biên bản tạm giữ, niêm phong vật chứng rồi đưa Đàm Anh T, Nguyễn Văn L, Lê Minh Đ về trụ sở tiếp tục điều tra làm rõ.

Xét nghiệm nước tiểu đối với Lê Minh Đ, Đàm Anh T, Nguyễn Văn L ngày 12/01/2024 đều cho kết quả âm tính với chất ma Ty.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Minh Đ và Đàm Anh T ngày 14/01/2024 không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì có liên quan đến vụ án.

Tại kết luận giám định số 742/KLGĐ - PC09 ngày 19/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội, kết luận:

  • - Dung dịch màu trắng bên trong 02 lọ nhựa màu trắng hình trụ tròn đường kính 2,4cm; cao 6,5 cm, nắp màu trắng, trên lọ có nhãn mác ghi Natriclorid 0,9% loại 10ml đều có ma Ty loại AB-CHMINACA, có tổng thể tích: 18ml.
  • - Dung dịch màu trắng bên trong 01 lọ nhựa màu trắng hình trụ tròn nắp màu trắng, đường kính 3,7cm, cao 14,5cm có ma Ty loại AB-CHMINACA, thể tích 4,5ml.

Giám định bổ sung hàm lượng chất ma Ty thu giữ của Đàm Anh T, ngày 01/3/2024, Viện khoa học hình sự (C09)- Bộ Công an có Kết luận giám định số 818/KL-KTHS, kết luận:

  • - Nồng độ (hàm lượng) trung bình chất ma Ty AB-CHMINACA trong 02 mẫu chất lỏng màu trắng (đựng trong 02 lọ nhựa cao khoảng 6,5cm) gửi giám định là 9,7mg/ml.
  • - Nồng độ (hàm lượng) chất ma tuý AB-CHMINACA trong mẫu chất lỏng màu trắng (đựng trong 01 lọ nhựa cao khoảng 14,5cm) gửi giám định là 8,7mg/ml.

Tại cơ quan điều tra Đàm Anh T khai nhận đã từng sử dụng tinh dầu “CBD” và biết đây là chất ma Ty, bị Nhà nước cấm sử dụng, mua bán. Ngày 12/01/2024 sau khi nhận được tin nhắn hỏi mua ma Ty của L, T đã đổ tinh dầu ma Ty ra 02 lọ nhỏ hơn để mang đi bán cho L nhưng T đã làm đổ mất khoảng một nửa số tinh dầu ma Ty mà T và Đ mua được tại khu vực Đại Lải, Phúc Yên, Vĩnh Phúc trước đó. Ngày 12/01/2024 là lần đầu tiên T và Đ bán ma Ty cho L cũng là lần đầu tiên T và Đ bán ma Ty cho người khác nhưng chưa kịp giao ma Ty và nhận tiền thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt giữ.

Tại cơ quan điều tra Lê Minh Đ khai nhận phù hợp với lời khai của Đàm Anh T và phù hợp với tài liệu điều tra thu thập được. Lê Minh Đ thừa nhận việc bản thân nhận thức được loại tinh dầu “CBD” (tinh dầu ma Ty) là chất ma Ty gây kích thích ảo giác nhưng vẫn cùng T góp tiền mua về để bán nhằm hưởng lợi. Đ chỉ góp tiền và nếu có khách mua thì sẽ cùng T đi bán, còn việc liên hệ giao dịch với khách thì T là người chủ động liên hệ giao dịch.

Tại cơ quan điều tra Nguyễn Văn L khai nhận phù hợp với lời khai của Đàm Anh T, Lê Minh Đ và phù hợp với tài liệu điều tra thu thập được. Mục đích L mua ma Ty tinh dầu “CBD” là để sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích nào khác nhưng chưa kịp mua thì bị phát hiện băt giữ.

Đối với người nam giới đã bán ma Ty cho T và Đ tại khu vực Đại Lải, Phúc Yên, Vĩnh Phúc, T và Đ đều khai đây là lần đầu tiên T và Đ mua ma Ty của người này và không biết nhân thân lai lịch người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, làm rõ.

Đối với Nguyễn Văn L đã có hành vi đặt mua ma Ty của T và Đ nhưng chưa nhận được ma Ty của T và Đ. Tại cơ quan điều tra L khai có sử dụng trái phép chất ma Ty, Cơ quan điều tra đã tiến hành thông báo cho chính quyền địa phương nơi L cư trú để có biện pháp giáo dục, quản lý.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision, mang BKS: 29Z1-453.36, có số khung: RLHJF5811GY673288, số máy: JF66E0673340 tạm giữ của Đàm Anh T. Quá trình điều tra xác định không phải là xe máy vật chứng, chiếc xe máy thuộc sở hữu của ông Đàm Anh Tuấn (bố đẻ T). Ngày 12/01/2024, Đàm Anh T hỏi mượn xe ông Tuấn bảo đi có việc, ông Tuấn không biết T sử dụng xe máy thực hiện hành vi phạm tội. Ngày 07/3/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Đông Anh ra quyết định xử lý vật chứng trao trả cho ông Tuấn quản lý và sử dụng.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sansung màu đen, số Imeil: 350060031052178/01; số Imei2: 357438811052175/01, lắp 02 sim số thuê bao: 0868388044 và số 0777921519 tạm giữ của Đàm Anh T, T khai nhận đây là tài sản cá nhân của T, ngày 12/01/2024 T có dùng chiếc điện thoại này để liên lạc, trao đổi việc mua bán ma Ty với Nguyễn Văn L. Đề nghị chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh để đảm bảo công tác xét xử và thi hành án.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xphone màu vàng, số Imei: 355608074861874, số Imei2: 355608074861882, lắp sim số thuê bao: 0985101131 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám, số Imei: 353322075318213, không lắp sim cùng với số tiền 300.000đ tạm giữ của Nguyễn Văn L, L khai nhận số đồ vật tài sản trên là của L, ngày 12/01/2024 L dùng 02 chiếc điện thoại trên để liên lạc đặt mua ma Ty của T; số tiền 300.000đ L chuẩn bị để mua ma Ty của T cần chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh để đảm bảo công tác xét xử và thi hành án.

Đối với 11,5ml dung dịch màu trắng (Phòng PC09- CATP Hà Nội và C09- Bộ Công an đã thu mẫu tổng 11ml) bên trong 02 lọ nhựa màu trắng hình trụ tròn đường kính 2,4cm; cao 6,5 cm, nắp màu trắng, trên lọ có nhãn mác ghi Natriclorid 0,9% loại 10ml và 01 lọ nhựa màu trắng hình trụ tròn nắp màu trắng, đường kính 3,7cm, cao 14,5cm đều có ma Ty loại AB-CHMINACA được niêm phong trong 01 phong bì được dán kín, tại các mép dán có chữ ký của Giám định viên, cán bộ niêm phong và hình dấu của Viện khoa học hình sự (C09)- Bộ Công an là vật chứng của vụ án cần chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh để đảm bảo công tác xét xử và thi hành án.

Tại bản cáo trạng số 45/CT-VKS ĐA ngày 18/3/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội đã truy tố các bị cáo Đàm Anh T và Lê Minh Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma Ty” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên toà:

  • - Các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
  • - Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Đàm Anh T và Lê Minh Đ theo tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 251, Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, 91, 101 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt Đàm Anh T từ 22 đến 26 tháng tù.
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 251, Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, 91, 101 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt Lê Minh Đ từ 15 đến 18 tháng tù.
    • - Các bị cáo đều chưa thành niên và không có công việc, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo.
    • - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
    • Đối với 11,5ml dung dịch màu trắng (Phòng PC09- CATP Hà Nội và C09- Bộ Công an đã thu mẫu tổng 11ml) bên trong 02 lọ nhựa màu trắng hình trụ tròn đường kính 2,4cm; cao 6,5 cm, nắp màu trắng, trên lọ có nhãn mác ghi Natriclorid 0,9% loại 10ml và 01 lọ nhựa màu trắng hình trụ tròn nắp màu trắng, đường kính 3,7cm, cao 14,5cm đều có ma Ty loại AB-CHMINACA nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

      Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sansung màu đen, số Imeil: 350060031052178/01; số Imei2: 357438811052175/01, lắp 02 sim số thuê bao: 0868388044 và số 0777921519 bị cáo Đàm Anh T khai dùng để liên lạc, trao đổi việc mua bán ma Ty với Nguyễn Văn L nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

      Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xphone màu vàng, số Imei: 355608074861874, số Imei2: 355608074861882, lắp sim số thuê bao: 0985101131 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám, số Imei: 353322075318213, không lắp sim thu giữ của Nguyễn Văn L cần tịch thu sung công; đối với số tiền 300.000đ tạm giữ của Nguyễn Văn L cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

  • - Người bào chữa cho hai bị cáo trình bày quan điểm: Về tội danh của các bị cáo Luật sư không tranh luận gì vì hành vi của các bị cáo bị truy tố về tội Mua bán trái phép chất ma tuý là đúng. Khi lượng hình đề nghị HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo, các bị cáo phạm tội dưới 18 tuổi, chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần nên hiểu biết còn hạn chế, đề nghị cho các bị cáo được hưởng hình phạt thấp hơn mức đề nghị của Viện kiểm sát để các bị cáo sớm được hòa nhập cuộc sống và cộng đồng.
  • - Đối với bị cáo Lê Minh Đ đề nghị HĐXX áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự do có cụ nội là ông Lê Văn Sổ được tặng huân huy chương kháng chiến và hiện đang thờ cúng liệt sĩ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Đông Anh, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh. Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Hội đồng xét xử xét thấy: Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản sự việc và các tài liệu và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ cở xác định: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 12/01/2024, tại khu vực Xóm Thượng, xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội, bị cáo Đàm Anh T và bị cáo Lê Minh Đ đã có hành vi bán trái phép 11,5ml dung dịch màu trắng loại ma Ty loại AB-CHMINACA thì bị bắt giữ cùng tang vật. Như vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Đàm Anh T và bị cáo Lê Minh Đ đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma Ty” theo khoản 1 Điều 251 luật Hình sự năm 2015 như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh đã truy tố.

    Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Các bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức hành vi mua bán trái phép chất ma tuý là phạm tội nhưng các bị cáo cố tình thực hiện. Do vậy, cân xử phạt các bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

  3. Về tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
    • - Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; các bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên được áp dụng Điều 91, 101 Bộ luật hình sự.
    • - Đối với bị cáo Lê Minh Đ có cụ nội là ông Lê Văn Sổ được tặng huân huy chương kháng chiến và hiện đang thờ cúng liệt sĩ nên bị cáo Đ được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
    • - Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án thấy: Bị cáo Đàm Anh T là người khởi xướng, trực tiếp liên lạc với người bán ma Ty, trực tiếp đi mua ma Ty nên có vai trò chủ yếu. Bị cáo Lê Minh Đ là người góp tiền và đi cùng T bán ma Ty cho người khác nên có vai trò thứ yếu hơn.
  4. Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000 đồng”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy các bị cáo đều là người chưa thành niên, không có thu nhập, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
  5. Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy: 11,5ml dung dịch màu trắng (Phòng PC09- CATP Hà Nội và C09- Bộ Công an đã thu mẫu tổng 11ml) bên trong 02 lọ nhựa màu trắng hình trụ tròn đường kính 2,4cm; cao 6,5 cm, nắp màu trắng, trên lọ có nhãn mác ghi Natriclorid 0,9% loại 10ml và 01 lọ nhựa màu trắng hình trụ tròn nắp màu trắng, đường kính 3,7cm, cao 14,5cm đều có ma Ty loại AB-CHMINACA.

    Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sansung màu đen, số Imei1: 350060031052178/01; số Imei2: 357438811052175/01, lắp 02 sim số thuê bao: 0868388044 và số 0777921519 thu giữ của bị cáo Đàm Anh T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xphone màu vàng, số Imei: 355608074861874, số Imei2: 355608074861882, lắp sim số thuê bao: 0985101131 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám, số Imei: 353322075318213, không lắp sim và 300.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn L.

  6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người đai diện hợp pháp của bị cáo Lê Minh Đ, người có quyền và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
  7. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh của các bị cáo: Tuyên bố các bị cáo Đàm Anh T và Lê Minh Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma Ty”.
  2. Về điều luật và hình phạt áp dụng đối với các bị cáo:
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015.
    • Xử phạt bị cáo: Đàm Anh T: 17 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/01/2024.

    • - Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015.
    • Xử phạt bị cáo: Lê Minh Đ: 13 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/01/2024.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
    • - Tịch thu tiêu hủy: 11,5ml dung dịch màu trắng (Phòng PC09- CATP Hà Nội và C09- Bộ Công an đã thu mẫu tổng 11ml) bên trong 02 lọ nhựa màu trắng hình trụ tròn đường kính 2,4cm; cao 6,5 cm, nắp màu trắng, trên lọ có nhãn mác ghi Natriclorid 0,9% loại 10ml và 01 lọ nhựa màu trắng hình trụ tròn nắp màu trắng, đường kính 3,7cm, cao 14,5cm đều có ma Ty loại AB-CHMINACA.
    • - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sansung màu đen, số Imei1: 350060031052178/01; số Imei2: 357438811052175/01, lắp 02 sim số thuê bao: 0868388044 và số 0777921519 thu giữ của bị cáo Đàm Anh T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xphone màu vàng, số Imei: 355608074861874, số Imei2: 355608074861882, lắp sim số thuê bao: 0985101131 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám, số Imei: 353322075318213, không lắp sim và 300.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn L.
    • (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22 tháng 3 năm 2024 giữa Công an huyện Đông Anh và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh và Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 21/3/2024).

  4. Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 136; 331; 333; 336; 337 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

    Buộc bị cáo Đàm Anh T và Lê Minh Đ mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

    Án xử sơ thẩm công khai, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về phần có liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản tống đạt án hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP Hà Nội;
  • - Sở Tư pháp TP Hà Nội;
  • - VKSND huyện Đông Anh;
  • - Công an huyện Đông Anh
  • - Cơ quan THA huyện Đông Anh;
  • - Các bị cáo;
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thu Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2024/HS-ST ngày 15/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma ty

  • Số bản án: 59/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma Ty
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đàm Anh T - Ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger