Hệ thống pháp luật

1

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KHÁNH HÒA
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2024/HS-ST

Ngày: 02-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • + Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thành
  • + Thẩm phán: Bà Lê Thị Hạng
  • + Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Ngọc Ánh
  • Ông Nguyễn Minh Cường
  • Ông Trần Văn Lý

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Thắm - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa: Ông Nguyễn Nam Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 02-7-2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 46/2024/TLST-HS ngày 20-5-2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2024/QĐXXST-HS ngày 03-6-2024, Thông báo hoãn ngày xét xử vụ án số 45/2024/TB-HS ngày 17-6-2024, đối với các bị cáo:

  1. Mai Xuân K, sinh năm 1999 tại Khánh Hòa; Nơi cư trú: 3 T, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Con ông: Mai Xuân D, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1973;

    Tiền án: Bản án hình sự phúc thẩm số 54/2018/HS-PT ngày 11-5-2018 của TAND tỉnh Khánh Hòa xử phạt 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích" theo điểm c khoản 3 Điều 134 (viễn dẫn điểm a, i khoản 1 Điều 134) Bộ luật Hình sự; Quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện số 16/2020/QĐ-TA ngày 03-8-2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa; Giấy Chứng nhận chấp hành xong án phạt tù cho người được tha tù trước thời hạn có điều kiện số 13/GCN ngày 27-6-2021 của Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố N.

    Tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12-7-2022. Có mặt.

  2. Trịnh Văn L (Tên gọi khác: Bố L1), sinh ngày 16/5/2001 tại Khánh Hòa; Nơi cư trú: Tổ C, thôn P, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Giới tính:

2

Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Học vấn: 6/12; Con ông Trịnh H1, sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1976

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân: Bản án số 56/2022/HSPT ngày 10-5-2022 của TAND tỉnh Khánh Hòa xử phạt 02 năm 08 tháng tù về tội "Gây rối trật tự công cộng" theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo bị bắt giam từ ngày 11-3-2022. Có mặt.

  1. Nguyễn Khắc Thanh L2 (Tên gọi khác: B1), sinh ngày 22/7/2003 tại Khánh Hòa. Nơi cư trú: Số D, đường V, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nguyễn Khắc L3, sinh năm 1968 và bà Dương Thị Thanh M, sinh năm 1971.

    Tiền án, tiền sự: Không

    Bị cáo bị bắt giam từ ngày 11-3-2022. Có mặt.

  2. Dương Hoàng T (Tên gọi khác: B2), sinh năm 2000 tại Khánh Hòa; Nơi cư trú: Số C, đường V, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Dương Hoàng T1, sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị Kiều Bích L4, sinh năm 1979.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt giam từ ngày 05-3-2023. Có mặt.

  3. Ngô Xuân K1, sinh năm 1999 tại Khánh Hòa; Nơi cư trú: Số A T, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; con ông Ngô Xuân H2, sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1978.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Bản án số 107/2021/HSPT ngày 12-11-2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xử phạt 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 (viện dẫn điểm a khoản 1 Điều 134) Bộ luật Hình sự.

    Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 15-01-2024. Có mặt.

  4. Nguyễn Ngọc D1, sinh năm 1992 tại Khánh Hòa; Nơi cư trú: Số I, đường V, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông Nguyễn Ngọc Đ và bà Nguyễn Thị P, có vợ: Phạm Thị Mộng T2, sinh năm 1995, có 01 con sinh năm 2017.

    Tiền án, tiền sự: Không

3

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

  1. Đinh Tấn D2 (Tên gọi khác: B3), sinh năm 1985 tại Khánh Hòa; Nơi cư trú: Số B, đường V, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; con ông Đinh Văn C, sinh năm 1941 và bà Nguyễn Thị M1, sinh năm 1944; có vợ là Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm 1988; có 02 con: lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2015.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Ngày 26-5-2005, bị UBND tỉnh K đưa vào trường giáo dưỡng 24 tháng theo Quyết định số 494/QĐ-CT.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

  2. Nguyễn Quốc P1, sinh năm 1990 tại Khánh Hòa. Nơi ĐKHKTT: SỐ A đường L, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Chỗ ở: thôn P, xã P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; con ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị K2, sinh năm 1972; có vợ: Phạm Thị Ngọc T3, sinh năm 1990, có 02 con: lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2018.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

  3. Trần Thanh T4 (Tên gọi khác: Ba C2), sinh năm 1991 tại Khánh Hòa. Nơi cư trú: Số A, đường P, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 3/12; Con ông Trần D3 (chết) và bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1959, có vợ là Võ Thị Mỹ L5, sinh năm 1995, có 02 con: lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2018.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2014/HSST ngày 22-01-2014 xử phạt 06 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt

Người bào chữa cho bị cáo Mai Xuân K: Ông Hồ Ngọc N1, Luật sư Văn phòng L6 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh K (theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng). Có mặt

Người bào chữa cho bị cáo Trịnh Văn L, Nguyễn Khắc Thanh L2: Ông Đặng Văn P2, ông Đặng Trường T5 - Luật sư Văn phòng luật sư Đặng Văn P2 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh K (theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng). Ông Đặng Văn P2 vắng mặt; ông Đặng Trường T5 có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Dương Hoàng T: Ông Nguyễn Văn H4, Luật sư Văn phòng luật sư Nguyễn Văn H4 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh K (theo yêu cầu

4

của cơ quan tiến hành tố tụng). Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Ngô Xuân K1: Bà Nguyễn Thị Như N2, Luật sư Văn phòng L7 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh K (theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng). Có mặt.

Bị hại: Ông Dương Đức T6, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Tổ A T, V, N, Khánh Hòa. Có mặt.

Người làm chứng:

  1. Ông Nguyễn Văn C3. Vắng mặt.
  2. Ông Hồ Minh T7. Vắng mặt.
  3. Ông Nguyễn Thanh T8. Vắng mặt.
  4. Bà Võ Thị Mỹ L5. Vắng mặt.
  5. Bà Đặng Thị Mỹ D4. Vắng mặt.
  6. Bà Nguyễn Thị Tuyết N. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 04-11-2021, Mai Xuân K, Mai Xuân K3, Nguyễn Khắc Thanh L2, Trịnh Văn L, Ngô Xuân K1, Dương Hoàng T, Nguyễn Xuân Q, ngồi nhậu tại nhà K, địa chỉ: 3 T, V, N thì K có nói với cả nhóm biết là K có mâu thuẫn với Nguyễn Văn C3. Đến 00g10 ngày 05-11-2021, C3 gọi điện thoại cho K hẹn ra ngã ba đường V và đường vào khu tái định cư V, N để nói chuyện giải quyết mâu thuẫn. Sau khi nghe điện thoại của C3, K có nói lại với cả nhóm: nếu đi ra chỗ hẹn gặp C3 và bị đánh thì sao? Trịnh Văn L nghe vậy thì nói: Nếu K bị đánh thì điện thoại về báo tin cho L biết, L và nhóm nhậu ở nhà K sẽ kéo ra đánh lại. Kỷ chỉ cho L và cả nhóm biết bao đựng hung khí (có từ trước) để tại nhà K. Sau đó, K cùng Ngô Xuân K1 (cả hai đều không mang hung khí) đi xe máy đến ngã ba V - khu tái định cư V gặp C3 để nói chuyện.

Sau đó, K, Ngô Xuân K1 lần lượt gặp: Nguyễn Văn C3, Dương Đức T6, Nguyễn Quốc P1, Trần Thanh T4, Võ Thị Mỹ L5, Nguyễn Ngọc D1, Hồ Minh T7, Nguyễn Thanh T8, Đinh Tấn D5 (đi tìm C3). Sau khi K, Ngô Xuân K1 nói chuyện với C3 xong, lên xe máy chuẩn bị rời đi thì T4, T6 cho rằng K và Ngô Xuân K1 nhỏ nhưng có thái độ nói chuyện xấc láo với C3 nên xông vào dùng tay, chân đánh K và Ngô Xuân K1. K và Ngô Xuân K1 dùng tay, chân đánh lại rồi bỏ chạy. Khi bị đuổi đánh, K gọi điện thoại cho L và nói với Ngô Xuân K1 cùng K đứng lại tiếp tục chửi bới, thách thức nhóm C3 với mục đích để chờ nhóm L đến để cùng đánh lại nhóm C3 (như đã bàn bạc, thống nhất với nhau trước đó ở nhà K). Lúc này Ngô Xuân K1 nói: "chạy đi đánh không lại", K đứng lại chửi bới, thách thức nhóm C3 một lúc rồi bỏ chạy về hướng chợ V, còn Ngô

5

Xuân K1 bỏ chạy về hướng đường V và bị Nguyễn Ngọc D1, T6 đuổi theo, D1 dùng xe máy đâm vào người nên Ngô Xuân K1 bỏ chạy vào trong hẻm và trốn vào nhà dân. Nhóm C3 đuổi đánh không kịp nên quay lại ngã ba Võ Thị S1 - Khu tái định cư V.

Sau khi nghe điện thoại từ K thì L, L2, T, Q, Mai Xuân K3 điều khiển xe máy cầm theo mác, dao tự chế chạy đến ngã ba Võ Thị S1 - Khu tái định cư V thì gặp nhóm người bên phía C3. Tại đây, thấy nhóm K cầm hung khí đến nên nhóm C3 bỏ chạy, nhóm K đuổi theo được một đoạn thì đuổi kịp T6 và D2. Mai Xuân K3, L2, L, T, Q cầm mác xông vào đánh, chém nhiều nhát vào đầu, mặt, cổ, gáy của T6 và D2 gây thương tích. Sau đó, nhóm K lên xe máy bỏ đi, còn T6, D2 được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh K đến ngày 08-11-2021 thì D2 xuất viện, đến ngày 12-11-2021 thì T6 xuất viện.

Tại Giấy chứng thương số 2021000452/CN ngày 19-11-2021 của Bệnh viện Đa khoa tỉnh K xác định tình trạng thương tích của Dương Đức T6 lúc vào viện:

  • Có 04 vết thương các ngón I, II, III, IV bàn tay trái, mỗi vết thương kích thước #03cm, đứt bán phần gân gấp sâu ngón II. Vết thương mặt ngoài khuỷu tay phải #15cm, gãy hở chỏm con xương cánh tay phải, đứt thần kinh quay, gần cơ cánh tay, toàn bộ gân cơ duỗi ngửa căng tay phải. Vết thương rách da phức tạp vùng góc hàm phải #07cm, lộ xương hàm dưới, chảy nhiều máu. Vết thương rách da lộ xương trán dài #12cm. Vết thương vùng tại phải #04cm. Vết thương vùng gáy trái #08cm. Vết thương rách da nông vùng hõm ức #05cm.
  • Cận lâm sàng có giá trị chuẩn đoán:
    • + X Quang: Theo dõi gãy đầu dưới xương mác phải. Mảnh bong xương vùng khuỷu tay phải.
    • + CT Scan sọ não: Tụ khí nội sọ. Vỡ thành xoang trán hai bên. Tụ dịch xoang trán hai bên.
    • + CT Scan cổ: Mất độ cong sinh lý cổ bình thường ...tổn thương có tụ khí + phù nề mô mềm vùng má – cổ phải.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 348/TgT-TTPY ngày 25-11-2021 của Trung tâm pháp y tỉnh K kết luận:

  • Vùng trán trái có 01 vết sẹo KT trung bình. Tỷ lệ thương tật 06%.
  • Vùng góc hàm phải có 01 vết sẹo KT trung bình. Tỷ lệ thương tật 06%.
  • Vùng vành tai phải có 01 vết sẹo. Tỷ lệ thương tật 2%.
  • Vùng gáy trái có 01 vết sẹo KT trung bình. Tỷ lệ thương tật 04%.
  • Vùng hõm ức có 01 vết sẹo KT trung bình. Tỷ lệ thương tật 02%.
  • Vùng khuỷu tai phải có 01 vết sẹo KT trung bình. Tỷ lệ thương tật 02%.
  • Vùng bàn tay trái ngón I có 01 vết sẹo KT nhỏ. Tỷ lệ thương tật 01%

6

  • Vùng bàn tay trái ngón II có 01 vết sẹo hình chữ V kích thước nhỏ. Tỷ lệ thương tật 01%
  • Vùng bàn tay trái ngón III có 01 vết sẹo KT nhỏ. Tỷ lệ thương tật 01%.
  • Vùng bàn tay trái ngón IV có 01 vết sẹo KT nhỏ. Tỷ lệ thương tật 01%.
  • Vỡ xoang trán. Tỷ lệ thương tật 09%.
  • Gãy đầu dưới xương cánh tay phải. Tỷ lệ thương tật 23%.

Tổng tỷ lệ % tổn thương cơ thể của Dương Đức T6 là 46%.

Tại Giấy chứng thương số 2021000437/CN ngày 15-11-2021 của Bệnh viện Đa khoa tỉnh K xác định tình trạng thương tích của Đinh Tấn D2 lúc vào viện:

  • Vết thương đầu vùng thái dương trái #12cm.
  • Cận lâm sàng có giá trị chuẩn đoán:
    • + CT Scan sọ não: Hiện tại chưa thấy bất thường nội sọ.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 349/TgT-TTPY ngày 25-11-2021 của Trung tâm pháp y tỉnh K kết luận:

Vùng thái dương trái có 01 vết sẹo KT trung bình. Tỷ lệ thương tật 02%.

Tổng tỷ lệ % tổn thương cơ thể của Đinh Tấn D2 là: 02%.

Vật chứng vụ án: 09 cây mác dài 1,2 m, cán bằng tre, lưỡi bằng kim loại dài 0,3 m, bản rộng 05 cm; 01 kiếm tự chế dài 0,8 m bằng kim loại, bản rộng 05 cm; 01 con dao bầu dài 0,4 m bằng kim loại, bản rộng 05 cm; 01 gây ba khúc màu đen bằng kim loại, dài 0,6 m; 01 lưỡi dao kim loại màu trắng, dài 10 cm, lưỡi dao cong, trên lưỡi dao có chữ "KIWI Brand”.

Trách nhiệm dân sự: Bị cáo Mai Xuân K, Nguyễn Khắc Thanh L2 đã bồi thường cho bị hại Dương Đức T6 số tiền 65.000.000 đồng; Mai Xuân K, Nguyễn Khắc Thanh L2, Dương Hoàng T đã bồi thường cho bị hại Đinh Tấn D2 số tiền 15.000.000 đồng.

Đối với các bị can Mai Xuân K3, Nguyễn Xuân Q đã bỏ trốn khỏi địa phương, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K đã ra Quyết định tạm đình chỉ, Quyết định truy nã, khi nào bắt được sẽ xử lý sau.

Tại bản Cáo trạng số 22/CT-VKSKH-P1 ngày 14-3-2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo Mai Xuân K, Trịnh Văn L. Nguyễn Khắc Thanh L2, Dương Hoàng T, Ngô Xuân K1 về tội “Giết người" theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Nguyễn Ngọc D1, Đinh Tấn D2, Nguyễn Quốc P1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự; bị cáo Trần Thanh T4 về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

7

  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa giữ nguyên Cáo trạng số 22/CT-VKSKH-P1 ngày 14-3-2024 và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 57, Điều 58 Bộ luật Hình sự với bị cáo Mai Xuân K, Trịnh Văn L, Nguyễn Khắc Thanh L2, Dương Hoàng T, Ngô Xuân K1; áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự với bị cáo L2, Ngô Xuân K1; xử phạt: bị cáo Mai Xuân K, Trịnh Văn L từ 12-13 năm tù; bị cáo Dương Hoàng T từ 8-9 năm tù; bị cáo Nguyễn Khắc Thanh L2 từ 7-8 năm tù; bị cáo Ngô Xuân K1 từ 7-8 năm tù. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt với các bị cáo Nguyễn Ngọc D1, Đinh Tấn D2, Nguyễn Quốc P1 từ 24-30 tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thanh T4 từ 9-12 tháng tù. Về bồi thường thiệt hại: Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận về việc bồi thường thiệt hại giữa bị hại và các bị cáo. Về vật chứng: đề nghị tịch thu tiêu hủy.
  • * Luật sư Hồ Ngọc N1 bào chữa cho bị cáo Mai Xuân K: Luật sư không tranh luận về tội danh Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa truy tố đối với bị cáo K; bị cáo K không có mặt tại hiện trường, không bàn bạc cách thức tấn công bị hại, không thực hiện hành vi tấn công bị hại nên đề nghị không áp dụng tình tiết định khung hình phạt “có tính chất côn đồ” theo điểm n khoản 1 Điều 123 đối với bị cáo K.
  • * Bị cáo Mai Xuân K trình bày: Không bổ sung ý kiến bào chữa của vị Luật sư.
  • * Luật sư Đặng Trường Tuyên T5 bào chữa cho bị cáo Trịnh Văn L và Nguyễn Khắc Thanh L2: Luật sư không tranh luận về tội danh Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa truy tố đối với các bị cáo L, L2; các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt, đồng ý với yêu cầu bồi thường của bị hại tại phiên tòa; bị cáo L đã bồi thường cho bị hại, bị cáo L2 lần đầu thực hiện hành vi phạm tội và không trực tiếp gây thương tích bị hại nên đề nghị áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo và áp dụng Điều 54 cho bị cáo L2.
  • * Chủ tọa phiên tòa công bố Luận cứ bào chữa của Luật sư Đặng Văn P2 cho bị cáo L, L2.
  • * Bị cáo Trịnh Văn L và Nguyễn Khắc Thanh L2 trình bày: Không bổ sung ý kiến bào chữa của Luật sư Đặng Trường T5 và Đặng Văn P2.
  • * Luật sư Nguyễn Văn H4 bào chữa cho bị cáo Dương Hoàng T: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường thiệt hại, đồng ý tiếp tục bồi thường thiệt hại tại phiên tòa, có 2 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có một phần lỗi của bị hại nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hình phạt tương xứng đối với bị cáo T.
  • * Bị cáo Dương Hoàng T trình bày: Đồng ý với trình bày bào chữa của Luật sư và không có ý kiến bổ sung.

8

  • * Luật sư Nguyễn Thị Như N2 bào chữa cho bị cáo Ngô Xuân K1: Bị cáo đã thừa nhận hành vi như bản Cáo trạng đã nêu nên Luật sư không có ý kiến về tội danh đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Án lệ số 17/2018/AL để không áp dụng tình tiết định khung hình phạt “có tính chất côn đồ” theo điểm n khoản 1 Điều 123 đối với bị cáo và đề nghị xem xét tình tiết người bị hại cũng có lỗi, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, để áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
  • * Bị cáo Ngô Xuân K1 trình bày: Đồng ý với ý trình bày bào chữa của Luật sư và không có ý kiến bổ sung.
  • * Bị cáo Nguyễn Ngọc D1 trình bày: Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận.
  • * Bị cáo Đinh Tấn D2 trình bày: Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo cũng là bị hại để giảm nhẹ hình phạt.
  • * Bị cáo Nguyễn Quốc P1 trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt vì bị cáo là lao động chính trong gia đình, bị cáo có đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự.
  • * Bị cáo Trần Thanh T4 trình bày: Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
  • * Bị hại Dương Đức T6 trình bày: Không có ý kiến tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo Mai Xuân K, Trịnh Văn L, Nguyễn Khắc Thanh L2, Dương Hoàng T, Ngô Xuân K1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Người làm chứng vắng mặt nhưng đã có lời khai tại hồ sơ và việc vắng mặt của họ không ảnh đến việc xét xử, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, của Cơ quan điều tra, của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên các hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Tòa án đã thông báo cho bị cáo Mai Xuân K và người bào chữa tại Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2024/QĐXXST-HS ngày 03-6-2024 biết Tòa án có thể xét xử bị cáo K thêm tình tiết định khung “Giết người” thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 123 Bộ

9

luật Hình sự. Vì vậy, Tòa án có quyền xét xử bị cáo Mai Xuân K về tình tiết định khung nêu trên theo quy định tại Điều 298 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[4] Tại phiên tòa, các bị cáo Mai Xuân K, Trịnh Văn L. Nguyễn Khắc Thanh L2, Ngô Xuân K1, Dương Hoàng T, Nguyễn Ngọc D1, Đinh Tấn D2, Nguyễn Quốc P1, Trần Thanh T4 đã khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và người làm chứng về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với dữ liệu điện tử được chứa trong phương tiện điện tử (USB) hiệu Kingston màu xanh 04GB, phù hợp với vật chứng thu được của vụ án, phù hợp Giấy chứng thương số 2021000452/CN ngày 19-11-2021 của Bệnh viện Đa khoa tỉnh K và Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 348/TgT-TTPY ngày 25-11-2021 của Trung tâm pháp y tỉnh K đối với Dương Đức T6, Giấy chứng thương số 2021000437/CN ngày 15-11-2021 của Bệnh viện Đa khoa tỉnh K và Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 349/TgT-TTPY ngày 25-11-2021 của Trung tâm pháp y tỉnh K đối với Đinh Tấn D2, phù hợp với các chứng cứ tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ để kết luận:

Tối ngày 04-11-2021, tại nhà của Mai Xuân K, địa chỉ 3 T, V, N, Mai Xuân K, Mai Xuân K3, Trịnh Văn L, Ngô Xuân K1, Dương Hoàng T, Nguyễn Khắc Thanh L2, Nguyễn Xuân Q đã chuẩn bị hung khí và thống nhất việc K và Ngô Xuân K1 đi gặp Nguyễn Văn C3 giải quyết mâu thuẫn mà bị đánh thì điện thoại về báo tin cho L, để cả nhóm kéo ra đánh lại. Khoảng 00 giờ 10 phút ngày 05-11-2021, tại khu vực ngã ba đường V - Khu tái định cư V, N, Khánh Hòa, K và Ngô Xuân K1 gặp C3 để nói chuyện giải quyết mâu thuẫn; khi nói chuyện, K, Ngô Xuân K1 có thái độ, lời nói thách thức nên Trần Thanh T4, Dương Đức T6, Nguyễn Quốc P1 xông vào dùng tay, chân đánh K và Ngô Xuân K1; K và Ngô Xuân K1 dùng tay, chân đánh lại và bỏ chạy vào trong khu tái định cư; trong lúc bỏ chạy, K gọi điện thoại báo cho L biết bị đánh, Ngô Xuân K1 nhìn thấy và biết K đã gọi điện thoại báo cho L. Khi K, Ngô Xuân K1 bỏ chạy được một đoạn thì T4, T6, P1 không đuổi theo nữa mà đi bộ ra ngã ba; T4 lên xe máy chở vợ là Võ Thị Mỹ L5 đi về nhà. Lúc này, K cùng Ngô Xuân K1 không tiếp tục bỏ chạy mà dừng lại chửi bới, thách thức T6, P1 với mục đích để chờ nhóm L đến để cùng đánh lại như đã bàn bạc, thống nhất với nhau trước đó. Thấy K và Ngô Xuân K1 chửi bới, thách thức nên P1 chở Đinh Tấn D2 tiếp tục đuổi đánh K và Ngô Xuân K1. K bỏ chạy về nhà còn Ngô Xuân K1 chạy lại đường V thì bị Nguyễn Ngọc D1 dùng xe máy đuổi theo, tông ngã. Ngô Xuân K1 chạy vào hẻm trên đường V thì bị D2 cầm 01 cây ba khúc, P1 cầm 01 con dao Thái Lan cùng D1, T6 đuổi đánh. Lúc này, Nguyễn Xuân Q, Mai Xuân K3, Trịnh Văn L, Dương Hoàng T, Nguyễn Khắc Thanh L2 đi xe máy đến, cầm mác xông đến đuổi chém gây thương tích cho Dương Đức T6 với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 46% và chém gây thương tích cho Đinh Tấn D2 với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 02%.

[5] Đối với hành vi của các bị cáo Mai Xuân K, Trịnh Văn L, Ngô Xuân K1, Dương Hoàng T, Nguyễn Khắc Thanh L2:

10

[5.1] Chỉ vì mẫu thuẫn trong quá trình sinh hoạt tại địa phương, Mai Xuân K, Trịnh Văn L, Ngô Xuân K1, Dương Hoàng T, Nguyễn Khắc Thanh L2 đã có hành vi chuẩn bị hung khí; sau đó, dùng mác đuổi, chém nhiều nhát vào vùng đầu, mặt, cổ, gáy của Dương Đức T6 làm T6 bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 46%; chém một nhát vào vùng đầu của Đinh Tấn D2 làm D2 bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 02%, thể hiện tính côn đồ khi thực hiện hành vi phạm tội. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo bỏ đi, bỏ mặc hậu quả xảy ra. Hành vi của các bị cáo thể hiện sự côn đồ, hung hãn, quyết liệt, coi thường tính mạng người khác, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” với tình tiết định khung “có tính chất côn đồ” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Đối với bị cáo Mai Xuân K đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý (bị xử phạt 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 (viễn dẫn điểm a, i khoản 1 Điều 134) Bộ luật Hình sự tại Bản án hình sự phúc thẩm số 54/2018/HSPT ngày 11-5-2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa); bị cáo K chấp hành hình phạt tù xong ngày 27/6/2021, chưa được xóa án tích; đến ngày 05-11-2021, bị cáo K thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” theo điểm p khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Do được cấp cứu kịp thời nên bị hại không chết là ngoài ý muốn chủ quan của các bị cáo; hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt và phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Giết người” theo quy định tại Điều 15 Bộ luật Hình sự.

[5.2] Hành vi phạm tội của các bị cáo Mai Xuân K, Trịnh Văn L, Ngô Xuân K1, Dương Hoàng T, Nguyễn Khắc Thanh L2 là đặc biệt nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo biết rõ hành vi dùng mác là hung khí nguy hiểm chém vào vùng đầu, mặt, cổ, gáy của bị hại là hành vi trái pháp luật, có khả năng tước đoạt mạng sống của bị hại nhưng vẫn cố tình thực hiện, bất chấp hậu quả xảy ra, thể hiện ý thức xem thường pháp luật. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến tính mạng của con người là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, đồng thời gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do vậy, cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc mới có tác dụng trừng trị, giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa, răn đe chung cho xã hội.

[5.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Mai Xuân K, Trịnh Văn L, Ngô Xuân K1, Dương Hoàng T, Nguyễn Khắc Thanh L2 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo L2 đã bồi thường cho bị hại T6 số tiền 35.000.000 đồng; bị cáo K đã bồi thường cho bị hại T6 số tiền 10.000.000 đồng; bị cáo L đã bồi thường cho bị hại T6 số tiền 5.000.000 đồng; bị cáo Ngô Xuân K1 đã bồi thường cho bị hại T6 số tiền 10.000.000 đồng; bị cáo T đã bồi thường cho bị hại T6 số tiền 10.000.000 đồng và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo L2, K, L, Ngô Xuân K1, T.

11

[5.4] Xét tính chất của đồng phạm và tính chất, mức độ tham gia phạm tội của từng bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, giữa các bị cáo không có sự cấu kết chặt chẽ nhau. Trong đó, bị cáo Mai Xuân K là người khởi xướng việc thực hiện tội phạm, bị cáo bị xét xử với 02 tình tiết định khung hình phạt; bị cáo Trịnh Văn L là người trực tiếp gây ra thương tích của bị hại; bản thân bị cáo L có nhân thân xấu nên cần quyết định mức hình phạt tù đối với bị cáo K và L tương đương nhau và cao hơn các bị cáo khác. Đối với các bị cáo Nguyễn Khắc Thanh L2, Dương Hoàng T là người thực hành tích cực; tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo là tương đương nhau; mức bồi thường cho bị hại của bị cáo L2 nhiều hơn nên mức hình phạt của các bị cáo thấp hơn bị cáo K, L và bị cáo L2 thấp hơn so với bị cáo T; bị cáo Ngô Xuân K1 là người giúp sức, tạo điều kiện cho các bị cáo khác thực hiện hành vi phạm tội; bị cáo có nhân thân xấu nên cần quyết định mức hình phạt nghiêm khắc và bằng bị cáo T. Các bị cáo T, L2, Ngô Xuân K1 có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 nên áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo. Các bị cáo phạm tội chưa đạt nên áp dụng khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với tất cả các bị cáo.

[5.5] Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự quyết định hình phạt của nhiều bản án đối với bị cáo Trịnh Văn L. Bị cáo Ngô Xuân K1 thực hiện hành vi phạm tội ngày 05-11-2021; ngày 12-11-2021, bị cáo Ngô Xuân K1 bị xử phạt 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án số 107/2021/HSPT của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa nên Tòa án quyết định hình phạt đối với tội phạm thực hiện trước và không tổng hợp hình phạt với bản án cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 2 Điều 7 Văn bản hợp nhất Nghị quyết Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo số 02/VBHN-TANDTC ngày 07-9-2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

[6] Đối với hành vi các bị cáo Đinh Tấn D2, Nguyễn Quốc P1, Nguyễn Ngọc D1, Trần Thanh T4: Trần Thanh T4 dùng tay chân rượt đuổi, đánh nhau với Mai Xuân K, Ngô Xuân K1; Đinh Tấn D2 dùng 01 cây ba khúc, Nguyễn Quốc P1 dùng 01 con dao Thái Lan, Nguyễn Ngọc D1 dùng xe máy rượt đuổi, tông xe, đánh nhau với Mai Xuân K, Ngô Xuân K1, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại khu vực ngã ba đường V - Khu tái định cư V, N, Khánh Hòa. Giữa các bị cáo không có sự bàn bạc, chuẩn bị hung khí, phân công vai trò trước khi phạm tội. Sau khi dùng tay chân đánh, rượt đuổi đánh K, Ngô Xuân K1 bỏ chạy ở giai đoạn đầu thì bị cáo T4 bỏ đi về; các bị cáo D2, P1, D1 tự mình “dùng hung khí” rượt đuổi, tông xe, đánh K, Ngô Xuân K1. Hành vi của bị cáo T4 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Hành vi của các bị cáo D2, P1, D1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” với tình tiết định khung “dùng hung khí” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Hành vi phạm tội của các bị cáo D2, P1, D1 là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc để trừng trị, giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa, đấu tranh

12

chống tội phạm. Hành vi phạm tội của bị cáo T4 là ít nghiêm trọng nhưng bị cáo là người đầu tiên xông vào đánh K và Ngô Xuân K1 dẫn đến việc đuổi đánh giữa hai nhóm nên cũng phải có hình phạt nghiêm khắc để trừng trị, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm. Tuy nhiên, các bị cáo D2, P1, D1, T4 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo. Bị cáo P1 đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

Bị cáo L2 đã bồi thường cho bị hại T6 số tiền 35.000.000 đồng; bị cáo K đã bồi thường cho bị hại T6 số tiền 10.000.000 đồng; bị cáo L đã bồi thường cho bị hại T6 số tiền 5.000.000 đồng; bị cáo Ngô Xuân K1 đã bồi thường cho bị hại T6 số tiền 10.000.000 đồng; bị cáo T đã bồi thường cho bị hại T6 số tiền 10.000.000 đồng;

Tại phiên tòa, bị hại Dương Đức T6 yêu cầu các bị cáo tiếp tục bồi thường 160.000.000 đồng. Các bị cáo K, L, Ngô Xuân K1, T, L2 thỏa thuận liên đới bồi thường theo yêu cầu của bị hại; mỗi bị cáo sẽ tiếp tục bồi thường cho bị hại 32.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy việc thỏa thuận bồi thường dân sự giữa bị hại và các bị cáo là hoàn toàn tự nguyện, đúng quy định của pháp luật nên công nhận.

Mai Xuân K, Nguyễn Khắc Thanh L2, Dương Hoàng T đã cùng nhau bồi thường cho Đinh Tấn D2 số tiền 15.000.000 đồng. Mai Xuân K, Nguyễn Khắc Thanh L2, Dương Hoàng T, Đinh Tấn D2 không có yêu cầu gì về khoản tiền này nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[8] Về xử lý vật chứng: 09 cây mác dài 1,2 m, cán bằng tre, lưỡi bằng kim loại dài 0,3 m, bản rộng 05 cm; 01 kiếm tự chế dài 0,8 m bằng kim loại, bản rộng 05 cm; 01 con dao bầu dài 0,4 m bằng kim loại, bản rộng 05 cm; 01 gây ba khúc màu đen bằng kim loại, dài 0,6 m; 01 lưỡi dao kim loại màu trắng, dài 10 cm, lưỡi dao cong, trên lưỡi dao có chữ "KIWI Brand” không có giá trị, sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25-10-2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa.

[9] Về án phí: Các bị cáo Mai Xuân K, Trịnh Văn L, Ngô Xuân K1, Dương Hoàng T, Nguyễn Khắc Thanh L2, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.600.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Các bị cáo Đinh Tấn D2, Nguyễn Quốc P1, Nguyễn Ngọc D1, Trần Thanh T4, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23; 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

13

[10] Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa về tội danh, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, mức hình phạt phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[11] Ý kiến người bào chữa cho bị cáo Mai Xuân K là ông Hồ Ngọc N1 và người bào chữa của bị cáo Ngô Xuân K1 là bà Nguyễn Thị Như N2 về việc đề nghị không áp dụng tình tiết định khung hình phạt “có tính chất côn đồ” theo điểm n khoản 1 Điều 123 đối với bị cáo K, bị cáo Ngô Xuân K1 không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận. Các ý kiến của người bào chữa về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[12] Đối với hành vi dùng mác gây thương tích cho Đinh Tấn D2 của Mai Xuân K, Trịnh Văn L, Ngô Xuân K1, Nguyễn Khắc Thanh L2, Dương Hoàng T có dấu hiệu của tội “Giết người” và hành vi đuổi đánh nhau của Dương Đức T6 với Mai Xuân K, Ngô Xuân K1 có dấu hiệu của tội “Gây rối trật tự công cộng” Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhưng không được Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa chấp nhận. Hội đồng xét xử kiến nghị các Cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Khánh Hòa tiếp tục điều tra, làm rõ để xử lý đúng quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Áp dụng điểm n, p khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57; Điều 58 Bộ luật Hình sự,

  • Xử phạt: Bị cáo Mai Xuân K 13 (mười ba) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12-7-2022.

2/ Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57; Điều 58 Bộ luật Hình sự,

  • Xử phạt: Bị cáo Trịnh Văn L 13 (mười ba) năm tù về tội “Giết người”.
  • Căn cứ Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt 02 (hai) năm 08 (tám) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” tại Bản án hình sự phúc thẩm số 56/2022/HS-PT ngày 10-5-2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, buộc bị cáo Trịnh Văn L phải chấp hành hình phạt chung là 15 (mười lăm) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11-3-2022.

3/ Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 15; khoản 3 Điều 57; Điều 58 Bộ luật Hình sự,

  • Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Khắc Thanh L2 07 (bảy) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11-3-2022.

4/ Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 15; khoản 3 Điều 57; Điều 58 Bộ luật Hình sự,

14

  • Xử phạt: Bị cáo Dương Hoàng T 08 (tám) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05-3-2023.

5/ Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 15; khoản 3 Điều 57; Điều 58 Bộ luật Hình sự,

  • Xử phạt: Bị cáo Ngô Xuân K1 08 (tám) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15-01-2024.

6/ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự,

  • Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc D1 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

7/ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự,

  • Xử phạt: Bị cáo Đinh Tấn D2 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

8/ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự,

  • Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc P1 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

9/ Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự,

  • Xử phạt: Bị cáo Trần Thanh T4 09 (chín) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

10/ Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 587, 589, 591 Bộ luật Dân sự, buộc các bị cáo Mai Xuân K, Trịnh Văn L, Ngô Xuân K1, Dương Hoàng T, Nguyễn Khắc Thanh L2 có trách nhiệm liên đới bồi thường cho bị hại Dương Đức T6 160.000.000 đồng. Trong đó, bị cáo Mai Xuân K bồi thường 32.000.000 đồng cho bị hại Dương Đức T6; bị cáo Trịnh Văn L bồi thường 32.000.000 đồng cho bị hại Dương Đức T6; bị cáo Ngô Xuân K1 bồi thường 32.000.000 đồng cho bị hại Dương Đức T6; bị cáo Dương Hoàng T bồi thường 32.000.000 đồng cho bị hại Dương Đức T6; bị cáo Nguyễn Khắc T9 Lực bồi thường 32.000.000 đồng cho bị hại Dương Đức T6.

Quy định: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân

15

sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

11/ Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 09 cây mác dài 1,2 m, cán bằng tre, lưỡi bằng kim loại dài 0,3 m, bản rộng 05 cm; 01 kiếm tự chế dài 0,8 m bằng kim loại, bản rộng 05 cm; 01 con dao bầu dài 0,4 m bằng kim loại, bản rộng 05 cm; 01 gây ba khúc màu đen bằng kim loại, dài 0,6 m; 01 lưỡi dao kim loại màu trắng, dài 10 cm, lưỡi dao cong, trên lưỡi dao có chữ "KIWI Brand” không có giá trị, sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25-10-2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa.

12/ Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc các bị cáo Mai Xuân K, Trịnh Văn L, Ngô Xuân K1, Dương Hoàng T, Nguyễn Khắc Thanh L2, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.600.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Các bị cáo Đinh Tấn D2, Nguyễn Quốc P1, Nguyễn Ngọc D1, Trần Thanh T4, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

13/ Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Mai Xuân K, Trịnh Văn L, Ngô Xuân K1, Dương Hoàng T, Nguyễn Khắc Thanh L2, Đinh Tấn D2, Nguyễn Quốc P1, Nguyễn Ngọc D1, Trần Thanh T4; bị hại Dương Đức T6 được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT I - TANDTC;
  • - TANDCC tại Đà Nẵng;
  • - VKSNDCC tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - PC02, PV06 - CA tỉnh Khánh Hòa;
  • - CQTHAHS (qua hồ sơ thi hành án phạt tù);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa;
  • - Cục THA dân sự tỉnh Khánh Hòa;
  • - Các bị cáo;
  • - NTGTT;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Trung Thành

16

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2024/HS-ST ngày 02/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về vụ án hình sự về tội "giết người" và "gây rối trật tự công cộng"

  • Số bản án: 59/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội "Giết người" và "Gây rối trật tự công cộng"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mai Xuân K và đông phạm bị xét xử về tội Giết người và gây roios trật tự công cộng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger