Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 59/2024/HS-PT

Ngày: 22/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hùng;

Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Thái Lan và bà Đậu Thị Quy;

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Linh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Hồng – Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 60/2024/TLPT-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Trần Văn T và đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2024/HS-ST ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên.

- Các bị cáo có kháng cáo:

1. Trần Văn T, sinh ngày 20/7/1977 tại Phú Yên; Nơi cư trú: Thôn D, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Làm biển; Trình độ văn hóa (học vấn): 02/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Con ông Trần Văn T1 (đã chết) và bà Trần Thị H, sinh năm 1940; Có vợ: Nguyễn Thị S, sinh năm 1977 và 06 con, lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

2. Trần Thị Kim S1, sinh ngày 06/9/1997 tại Phú Yên; Nơi cư trú: Thôn D, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ văn hóa (học vấn): 03/12; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Trần Văn T, sinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1977; Có chồng: Lý K, sinh năm 1995 và 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

3. Trần Văn M (Tên gọi khác: T2), sinh ngày 20/02/1995; Nơi cư trú: Thôn D, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Trình độ văn hóa (học vấn): 06/12. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Trần Văn H1, sinh năm 1939 và bà Tô Thị B (đã chết). Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ tại Nhà Tạm giữ Công an thị xã S từ ngày 26/4/2023 đến ngày 28/4/2023. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

4. Trần Bảo Q, sinh ngày 14/4/2000 tại Phú Yên; Nơi cư trú: Thôn D, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Làm biển. Trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Trần Văn L (đã chết) và bà Đào Thị K1, sinh năm 1978. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

5. Phạm Văn R, sinh ngày 20/9/1999 tại Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn D, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Nuôi tôm; Trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Phạm L1, sinh năm 1965 và Bà Huỳnh Thị Kim X, sinh năm 1965. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 30/3/2022, bị Công an thị xã S xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000đ về hành vi Đánh bạc, nộp phạt ngày 18/4/2022. Bị bắt tạm giữ tại Nhà Tạm giữ Công an thị xã S từ ngày 26/4/2023 đến ngày 28/4/2023. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

6. Nguyễn Văn T3 (Tên gọi khác: Cu L2), sinh ngày 01/01/1971 Nơi cư trú: Thôn D, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Nghề nghiệp: Làm biển; Trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn C (đã chết) và bà Nguyễn Thị K2, sinh năm 1948; Có vợ: Phạm Thị Ngọc M1, sinh năm 1983 và 04 con, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2010. Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 19/4/2022, bị Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 BLHS (thời điểm thực hiện hành vi phạm tội đánh bạc ngày 26/4/2023 thì Nguyễn Văn T3 chưa chấp hành xong thời gian thử thách của án treo). Nhân thân: Ngày 10/8/2023, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã S ra Quyết định khởi tố bị can về các tội Cướp tài sản và Hủy hoại tài sản. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra, vụ án còn có bị cáo Dương Sơn C1, Nguyễn Văn T4, Huỳnh Thị N, Trần Đang T5, Trần Văn N1 nhưng không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào các ngày 24/4/2023 và 25/4/2023, tại khu vực sân nhà của Trần Thị Kim S1 thuộc thôn D, xã X thị xã S, Trần Văn T (là cha ruột của S1) làm cái đánh bạc dưới hình thức đánh xóc đĩa được thua bằng tiền với những người tham gia đánh bạc gồm: Dương Sơn C1, Trần Bảo Q, Nguyễn Văn T4 và một số người khác (không xác định được nhân thân, lai lịch), dụng cụ dùng đánh bạc gồm 01 chiếu nhựa, 01 bộ chén đĩa đều do T lấy tại nhà của S1, số tiền từng lần đánh bạc đều dưới 5.000.000 đồng. Tuy không có bàn bạc thoả thuận từ trước nhưng khi T tiến hành hoạt động đánh bạc trái phép tại khu vực sân nhà và sử dụng chiếu nhựa, bộ chén đĩa của S1 thì S1 đều biết và đồng ý để cho T sử dụng đánh bạc. Ngoài ra, S1 còn bán nước uống cho những người tham gia đánh bạc để lấy tiền lời với số tiền khoảng 50.000 đồng và S1 được Dương Sơn C1 cho số tiền 300.000 đồng.

Khoảng 15 giờ ngày 26/4/2023, Trần Văn T cùng với Trần Văn M, Trần Bảo Q nhậu và chơi đánh bài tiến lên (ghi điểm để tính tiền nhậu) tại khu vực trước sân nhà của Trần Thị Kim S1, các dụng cụ để chơi bài gồm 01 chiếu nhựa do T lấy tại nhà của S1 và 01 bộ bài “T6 lơ khơ” do T chuẩn bị từ trước. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, M rủ TQ đánh bài thắng thua bằng tiền thì T nói: “Đánh bài tiến lên hồi sớm tới giờ mệt rồi, giờ chơi xóc đĩa” thì MQ đồng ý rồi Q vào nhà của S1 lấy 01 cái kéo cắt 04 con nhị hình tròn từ lá bài “chuồn” của bộ bài đang đánh, còn T đi vào nhà S1 lấy 01 bộ chén đĩa sứ để làm dụng cụ đánh xóc đĩa. Trần Văn T làm cái xóc đĩa cho Trần Văn M, Trần Bảo Q tham gia đặt cược, sau đó có Phạm Văn R, Nguyễn Văn T3, Trần Đang T5, Nguyễn Văn T4, Huỳnh Thị N, Trần Thị Kim S1, Dương Sơn C1, Trần Văn N1 đến tham gia đánh bạc (do các ngày 24/4/2023 và 25/4/2023 T đã làm cái xóc đĩa tại sân nhà của S1 nên khi T tổ chức đánh xóc đĩa vào ngày 26/4/2023 thì những người này đã biết từ trước nên đến nhà của S1 tham gia đánh bạc). Sòng bạc diễn ra liên tục đến khoảng 21 giờ cùng ngày thì trời mưa nên di chuyển vào đánh bạc tại phòng khách nhà S1. Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, Công an xã X tiến hành kiểm tra, phát hiện bắt quả tang và bắt giữ Nguyễn Văn T4, Dương Sơn C1, Trần Văn M, Phạm Văn R, những người tham gia đánh bạc còn lại chạy thoát. Quá trình bắt quả tang, Cơ quan Công an đã thu giữ tại chiếu bạc số tiền 11.490.000 đồng và các dụng cụ dùng đánh bạc gồm: 01 bộ chén đĩa bằng sứ, 04 con nhị (đồng vị) hình tròn, 01 bộ bài “T6 lơ khơ”, 01 chiếu nhựa.

Đã xác định được những người tham gia đánh bạc, số tiền đánh bạc và kết quả thắng thua của từng người cụ thể như sau:

Trần Văn T sử dụng số tiền 900.000 đồng làm cái đánh bạc nhiều ván từ khi bắt đầu đến khi bị bắt quả tang, kết quả thắng số tiền 1.100.000 đồng. Khi bị bắt quả tang thì T để lại số tiền 2.000.000 đồng trên chiếu bạc và chạy thoát.

Trần Văn M đem theo số tiền 5.300.000 đồng. Trong đó M sử dụng số tiền 300.000 đồng đánh bạc nhiều ván và cho Phạm Văn R mượn số tiền 5.000.000 đồng để R đánh bạc. Sau đó do R thua hết tiền nên M về nhà lấy thêm số tiền 10.000.000 đồng đưa R để R đánh bạc. Kết quả M thua hết số tiền 300.000 đồng và đứng xem khoảng 03 - 04 ván thì bị bắt quả tang.

Phạm Văn R sử dụng số tiền 4.000.000 đồng đánh bạc nhiều ván (có lúc R mở chén làm cái xóc đĩa), sau khi thua hết số tiền 4.000.000 đồng thì Ri mượn của M 02 lần tổng cộng số tiền 15.000.000 đồng để tiếp tục đánh bạc và thua thêm 8.000.000 đồng (khi bị bắt quả tang, R đã thua tổng cộng số tiền 12.000.000 đồng), còn lại số tiền 7.000.000 đồng Ri để lại trên chiếu bạc.

Dương Sơn C1 sử dụng số tiền 1.000.000 đồng đánh bạc nhiều ván, kết quả thắng số tiền 2.000.000 đồng, khi bị bắt quả tang thì C1 để lại số tiền 3.000.000 đồng trên chiếu bạc. Cơ quan Công an tạm giữ số tiền 5.140.000 đồng trên người của C1, đây là số tiền C1 sử dụng cá nhân, không sử dụng để đánh bạc.

Nguyễn Văn T4 sử dụng số tiền 700.000 đồng đánh bạc nhiều ván, kết quả thua hết số tiền 700.000 đồng và đứng xem khoảng 03 - 04 ván thì bị bắt quả tang.

Trần Bảo Q sử dụng số tiền 800.000 đồng đánh bạc nhiều ván, kết quả thắng số tiền 200.000 đồng. Khi bị bắt quả tang thì Q đem theo số tiền 1.000.000 đồng chạy thoát. Quá trình điều tra, Q giao nộp lại số tiền 1.000.000 đồng.

Trần Đang T5 sử dụng số tiền 480.000 đồng đánh bạc nhiều ván, kết quả thua số tiền 460.000 đồng. Quá trình điều tra, T5 giao nộp lại số tiền 20.000 đồng.

Nguyễn Văn T3 tham gia đánh bạc nhiều ván (có lúc T3 mở chén làm cái xóc đĩa), quá trình đánh bạc T3 thua hết tiền sử dụng đánh bạc và ở lại sòng bạc để xem đánh bạc (không xác định được số tiền T3 dùng đánh bạc vì T3 không thừa nhận hành vi phạm tội).

Trần Thị Kim S1 sử dụng số tiền 220.000 đồng đánh bạc nhiều ván, kết quả thắng số tiền 200.000 đồng.

Huỳnh Thị N sử dụng số tiền 150.000 đồng đánh bạc nhiều ván, kết quả thua số tiền 80.000 đồng. Quá trình điều tra, N nộp lại số tiền 70.000 đồng

Trần Văn N1 sử dụng số tiền 150.000 đồng đánh bạc nhiều ván, kết quả thua số tiền 100.000 đồng. Quá trình điều tra, N1 nộp lại số tiền 50.000 đồng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2024/HSST ngày 31/5/2024 của TAND thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên đã tuyên các bị cáo Trần Văn T, Trần Thị Kim S1, Trần Văn M, Trần Bảo Q phạm tội “Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc”; Các bị cáo Phạm Văn R, Nguyễn Văn T3 phạm tội “Đánh bạc”. Áp dụng điểm a, c khoản 1, 3 Điều 322; khoản 1, 3 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, điểm a khoản 1, 2 Điều 55 BLHS đối với bị cáo Trần Văn T, Trần Thị Kim S1, Trần Văn M, Trần Bảo Q. Riêng bị cáo M, Q áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 BLHS; khoản 1, 3 Điều 321, điểmi, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS đối với bị cáo Phạm Văn R; khoản 1, 3 Điều 321, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, khoản 2 Điều 56, khoản 5 Điều 65 BLHS đối với bị cáo Nguyễn Văn T3; Xử phạt:

- Bị cáo Trần Văn T 02 (Hai) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc” và 01 (Một) năm tù về tội “Đánh bạc”. Buộc bị cáo chấp hành chung hình phạt tù của hai tội là 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Phạt bổ sung bị cáo Trần Văn T số tiền 10.000.000₫ về tội Đánh bạc và 20.000.000₫ về tội Tổ chức đánh bạc. Tổng cộng phạt bị cáo T số tiền 30.000.000₫ nộp ngân sách Nhà nước.

- Bị cáo Trần Thị Kim S1 01 (Một) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc” và 06 (S2) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Buộc bị cáo chấp hành chung hình phạt tù của hai tội là 01 (Một) năm 06 (S2) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Phạt bổ sung bị cáo Trần Thị Kim S1 số tiền 10.000.000₫ về tội Đánh bạc và 20.000.000đ về tội Tổ chức đánh bạc. Tổng cộng phạt bị cáo S1 số tiền 30.000.000₫ nộp ngân sách Nhà nước.

- Bị cáo Trần Văn M 01 (Một) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc” và 06 (S2) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Buộc bị cáo chấp hành chung hình phạt tù của hai tội là 01 (Một) năm 06 (S2) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ vào thời gian tạm giữ từ ngày 26/4/2023 đến ngày 28/4/2023. Phạt bổ sung bị cáo Trần Văn M số tiền 10.000.000đ về tội Đánh bạc và 20.000.000đ về tội Tổ chức đánh bạc. Tổng cộng phạt bị cáo M số tiền 30.000.000₫ nộp ngân sách Nhà nước.

- Bị cáo Trần Bảo Q 01 (Một) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc” và 06 (S2) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Buộc bị cáo chấp hành chung hình phạt tù của hai tội là 01 (Một) năm 06 (S2)tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Phạt bổ sung bị cáo Trần Bảo Q số tiền 10.000.000₫ về tội Đánh bạc và 20.000.000₫ về tội Tổ chức đánh bạc. Tổng cộng phạt bị cáo Q số tiền 30.000.000₫ nộp ngân sách Nhà nước.

- Bị cáo Nguyễn Văn T3 02(Hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Buộc bị cáo T3 chấp hành hình phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự, tại bản án số: 17/2022/HSST ngày 19/4/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên. Tổng hợp hình phạt chung, buộc bị cáo Nguyễn Văn T3 phải chấp hành chung hình phạt của hai bản án là 02 (Hai) năm 09(Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ vào thời gian tạm giữ từ ngày 04/4/2021 đến ngày 13/4/2021. Phạt bổ sung bị cáo Thông số tiền 10.000.000đ để nộp ngân sách Nhà nước.

- Bị cáo Phạm Văn R 01 (Một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ vào thời gian tạm giữ từ ngày 26/4/2023 đến ngày 28/4/2023. Phạt bổ sung bị cáo R số tiền 10.000.000đ để nộp ngân sách Nhà nước.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phạt đối với các bị cáo Dương Sơn C1, Nguyễn Văn T4, Huỳnh Thị N, Trần Đang T5, Trần Văn N1; phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

- Ngày 03/6/2024, bị cáo Phạm Văn R, Nguyễn Văn T3 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt;

- Ngày 10/6/2024, các bị cáo Trần Văn T, Trần Bảo Q kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo Trần Thị Kim S1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt thấp nhất hoặc bằng hình phạt tiền thấp nhất;

- Ngày 12/6/2024, bị cáo Trần Văn M kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà, các bị cáo T, S1, Q, R, M vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã tuyên. Bị cáo T3 thay đổi nội dung kháng cáo kêu oan.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo – Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo Nguyễn Văn T3 không thừa nhận hành vi có tham gia đánh bạc với hình thức xóc đĩa tại nhà bị cáo S1, bị cáo chỉ thừa nhận có mặt tại nhà bị cáo S1. Tuy nhiên, căn cứ vào lời khai của các bị cáo Q, T4, M, T5, R tại cơ quan điều tra và tại phiên toà đều khẳng định bị cáo T3 có mặt tại nhà bị cáo S1 ngày 26/4/2023 và có tham gia đặt cược, thỉnh thoảng đặt cược 01 ván chứ không liên tục. Do đó, bị cáo T3 kháng cáo kêu oan cho rằng mình không có tham gia đánh bạc tại nhà bị cáo S1 vào ngày 26/4/2023 là không có cơ sở chấp nhận. Lời khai nhận tội của các bị cáo Trần Văn T, Trần Thị Kim S1, Trần Văn M, Trần Bảo Q, Phạm Văn R tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo khác trong cùng vụ án, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 26/4/2023, tại khu vực sân nhà của Trần Thị Kim S1 thuộc thôn D, xã X thị xã S, Trần Văn T, Trần Bảo Q chuẩn bị dụng cụ để đánh xóc đĩa, Trần Văn M rủ thêm bị cáo Dương Sơn C1 tham gia đánh bạc; Trần Thị Kim S1 để cho các bị cáo T, M, Q sử dụng sân nhà và trong phòng khách nhà ở, cho sử dụng kéo, chén đĩa của mình để tổ chức đánh xóc đĩa, ngoài ra bị cáo S1 còn mua nước phục vụ cho việc đánh bạc để kiếm lời. Trần Văn T làm cái xóc đĩa cho Trần Văn M, Trần Bảo Q tham gia đặt cược, sau đó có Phạm Văn R, Nguyễn Văn T3, Trần Đang T5, Nguyễn Văn T4, Huỳnh Thị N, Trần Thị Kim S1, Dương Sơn C1, Trần Văn N1 đến tham gia đánh bạc. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, Công an xã X tiến hành kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại chiếu bạc số tiền 11.490.000 đồng và các dụng cụ dùng đánh bạc. Do đó, cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử các bị cáo Trần Văn T, Trần Thị Kim S1, Trần Văn M, Trần Bảo Q phạm tội “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc”; theo điểm a, c khoản 1 Điều 322 và khoản 1 Điều 321 BLHS; Các bị cáo Phạm Văn R, Nguyễn Văn T4, Huỳnh Thị N, Dương Sơn C1, Trần Văn N1, Trần Đang T5, Nguyễn Văn T3 phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 BLHS là có căn cứ, đúng tội.

[2] Xét kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

[2.1] Đối với kháng cáo của các bị cáo Trần Văn T, Trần Thị Kim S1, Trần Văn M, Trần Bảo Q: Hành vi phạm tội của các bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm an toàn, trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo cùng lúc phạm nhiều tội nên cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Tại cấp phúc thẩm, các bị cáo Trần Văn M cung cấp tài liệu chứng minh có cha mẹ là người có công cách mạng, có giấy chứng nhận tham gia dân công hoả tuyến. Bị cáo Trần Bảo Q có ông nội được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì, bà nội là quân y kháng chiến chỗng Mỹ. Tuy nhiên, xét mức hình phạt mà cấp sơ thẩm áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp. Do đó, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của các bị cáo mà chấp nhận ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với các bị cáo.

[2.2] Đối với kháng cáo của bị cáo Phạm Văn R: Bị cáo dùng số tiền 19.000.000₫ để đánh bạc, tham gia đánh nhiều ván. Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2022 bị Công an thị xã S xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000đ về hành vi “Đánh bạc” nhưng không sửa chữa lỗi lầm mà tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật rất kém nên cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp tài liệu chứng minh gia đình bị cáo có công cách mạng, có ông nội thứ tên Phạm Văn X1 được tặng huân chương hạng ba và các bằng khen vì hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến đấu. Tuy nhiên, xét mức hình phạt cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là phù hợp. Do đó, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo mà chấp nhận ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo.

[2.3] Đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T3: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo không thành khẩn, khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS nên cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Khi lượng hình án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo để xử phạt bị cáo 02 năm tù là phù hợp. Do đó, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo mà chấp nhận ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo.

Bị cáo T3 bị Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu xử phạt bị cáo 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng về tội Đánh bạc tại bản án hình sự sơ thẩm số 17/2022/HSST ngày 19/4/2022, đến ngày 26/4/2023 bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời gian thử thách của bản án trước nên áp dụng Điều 56, khoản 5 Điều 65 BLHS, buộc bị cáo Nguyễn Văn T3 phải chấp hành hình phạt chung của nhiều bản án theo quy định của pháp luật.

[3] Các bị cáo kháng cáo không được chấp nhận phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 356 BLTTHS; không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Văn T, Trần Thị Kim S1, Trần Văn M, Trần Bảo Q, Phạm văn R1, Nguyễn Văn T3 – Giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với các bị cáo;

Tuyên bố: Các bị cáo các bị cáo Trần Văn T, Trần Thị Kim S1, Trần Văn M, Trần Bảo Q phạm tội “Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc”; Các bị cáo Phạm Văn R, Nguyễn Văn T3 phạm tội “Đánh bạc”.

  1. Về hình phạt: Áp dụng điểm a, c khoản 1, 3 Điều 322; khoản 1, 3 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55 BLHS đối với bị cáo Trần Văn T, Trần Thị Kim S1, Trần Văn M, Trần Bảo Q. Riêng bị cáo M, Q áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 BLHS; Xử phạt:
    • - Bị cáo Trần Văn T - 02 (Hai) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc” và 01 (Một) năm tù về tội “Đánh bạc”. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai tội là: 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

      Phạt bổ sung bị cáo Trần Văn T số tiền 10.000.000đ về tội “Đánh bạc” và 20.000.000₫ về tội “Tổ chức đánh bạc”. Tổng cộng phạt bị cáo T số tiền 30.000.000₫ nộp ngân sách Nhà nước.

    • - Bị cáo Trần Thị Kim S1 - 01 (Một) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc” và 06 (S2) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai tội là: 01 (Một) năm 06 (S2) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

      Phạt bổ sung bị cáo Trần Thị Kim S1 số tiền 10.000.000đ về tội Đánh bạc và 20.000.000₫ về tội Tổ chức đánh bạc. Tổng cộng phạt bị cáo S1 số tiền 30.000.000đ nộp ngân sách Nhà nước.

    • - Bị cáo Trần Văn M - 01 (Một) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc” và 06 (S2) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai tội là: 01 (Một) năm 06 (S2) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ vào thời gian tạm giữ từ ngày 26/4/2023 đến ngày 28/4/2023.

      Phạt bổ sung bị cáo Trần Văn M số tiền 10.000.000đ về tội Đánh bạc và 20.000.000₫ về tội Tổ chức đánh bạc. Tổng cộng phạt bị cáo M số tiền 30.000.000₫ nộp ngân sách Nhà nước.

    • - Bị cáo Trần Bảo Q 01 (Một) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc” và 06 (S2) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai tội là: 01 (Một) năm 06 (S2)tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

      Phạt bổ sung bị cáo Trần Bảo Q số tiền 10.000.000đ về tội Đánh bạc và 20.000.000₫ về tội Tổ chức đánh bạc. Tổng cộng phạt bị cáo Q số tiền 30.000.000đ nộp ngân sách Nhà nước.

    • Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS; Xử phạt:

      - Bị cáo Phạm Văn R - 01 (Một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ vào thời gian tạm giữ từ ngày 26/4/2023 đến ngày 28/4/2023.

      Phạt bổ sung bị cáo Phạm Văn R số tiền 10.000.000đ để nộp ngân sách Nhà nước.

    • Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 56; khoản 5 Điều 65 BLHS; Xử phạt:

      - Bị cáo Nguyễn Văn T3 – 02 (Hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Buộc bị cáo T3 chấp hành hình phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự, tại bản án số: 17/2022/HSST ngày 19/4/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Văn T3 phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là: 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ vào thời gian tạm giữ từ ngày 04/4/2021 đến ngày 13/4/2021.

      Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Văn T3 số tiền 10.000.000đ để nộp ngân sách Nhà nước.

  2. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

    Các bị cáo Trần Văn T, Trần Thị Kim S1, Trần Văn M, Trần Bảo Q, Phạm Văn R, Nguyễn Văn T3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao Đà Nẵng (1);
  • - VKSND cấp cao ĐN (1);
  • - TAND thị xã Sông Cầu (2);
  • - VKSND tỉnh Phú Yên (2);
  • - VKSND thị xã Sông Cầu (1);
  • - Công an thị xã Sông cầu (1);
  • - Sở tư pháp (1);
  • - Người tham gia tố tụng (1);
  • - Lưu án văn (1); lưu hồ sơ (2).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Việt Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2024/HS-PT ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về hình sự phúc thẩm (tổ chức đánh bạc và đánh bạc)

  • Số bản án: 59/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn T và đp Tổ chức đánh bạc; đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger