Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

***

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

***

Bản án số: 59/2024/HS-ST

Ngày: 24/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Liên.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lương Thị Cúc.
  • Ông Lâm Thuận Quang.
  • Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Đức - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Nhẫm - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Phan Ngọc Thái C;

Sinh ngày: 17/02/1985; Tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: 212B/20 đường NT, phường NCT, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 149/36 đường LTR, phường BT, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Phụ buôn bán; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phan Kim M và bà: Nguyễn Ngọc T; Có vợ: Là bà Nguyễn Lê Bích T1 và con: Có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giữ từ ngày 10/11/2023.

(bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Lê Nhựt B;

Sinh năm: 1978; Thường trú: 33 đường PĐTV, Phường K, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 23/13 (lầu 1) đường PĐTV, Phường K, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.

(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 10/11/2023, tổ công tác 363 - Số 1 thuộc Công an Quận 6 trên đường tuần tra phát hiện Lê Nhựt B điều khiển xe gắn máy biển số 59H1-634.34 chở Phan Ngọc Thái C chạy đến trước nhà số 42 đường KDV, Phường M, Quận F có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Thấy Công an, C hất 01 gói nylon chứa tinh thể không màu đang kẹp dưới lòng bàn chân phải của C xuống đường, nhưng bị tổ công tác phát hiện thu giữ. Sau đó, tổ công tác đã giao C, B cùng vật chứng nêu trên cho Cơ quan điều tra Công an Quận 6 giải quyết.

Tại Cơ quan điều tra, Phan Ngọc Thái C khai: Khoảng 16 giờ ngày 10/11/2023, C, Quí cùng một số người bạn của Quí (đều không rõ lai lịch) ngồi nhậu tại quán CR, địa chỉ 14 NCT, Phường B, Quận J. Đến 18 giờ cùng ngày, C hẹn đi hát karaoke cùng một nhóm bạn khác. Lúc này có một người thanh niên (trong nhóm bạn của Quí) đưa cho C 01 gói nylon (bên trong chứa ma túy khay) và kêu C sử dụng thử. C đồng ý, nhận gói ma túy cất vào trong túi quần phía sau bên phải, rồi đi về nhà. Đến 19 giờ cùng ngày, C rủ Lê Nhựt B đi hát karaoke, đồng thời đón xe Honda ôm qua chỗ B. Sau đó, B điều khiển xe gắn máy biển số 59H1-634.34 chở C (trước khi lên xe, C lấy gói ma túy trong túi quần ra kẹp dưới lòng bàn chân phải) và khi cả hai chạy đến trước nhà số 42 đường KDV thì bị kiểm tra bắt giữ như nêu trên.

Lê Nhựt B khai không biết nguồn gốc ma túy ở đâu Phan Ngọc Thái C có và B cũng không nhìn thấy C lấy gói ma túy trong túi quần ra kẹp dưới lòng bàn chân phải, chỉ khi bị bắt thì B mới biết.

Theo kết quả xét nghiệm chất ma túy ngày 11 tháng 11 năm 2023 của Trạm y tế Phường M, Quận F, Phan Ngọc Thái C âm tính với ma túy, còn Lê Nhựt B dương tính với Ketamine.

Tại Kết luận giám định số: 12701/KL-KTHS ngày 17 tháng 11 năm 2023, Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Phan Ngọc Thái C, Võ Hoàng S (người chứng kiến) và hình dấu Công an Phường M, Quận F (ký hiệu m) cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,0157g (hai phẩy không một năm bảy gam), loại Ketamine.

Ngày 13 tháng 11 năm 2023, Cơ quan điều tra Công an Quận 6 ra quyết định khởi tố vụ án hình sự (Quyết định số: 196/QĐ-ĐCSMT); khởi tố bị can đối với Phan Ngọc Thái C về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» (Quyết định số: 200/QĐ-ĐCSMT).

Đối với Lê Nhựt B, quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi cất giữ ma túy của Phan Ngọc Thái C, nên không truy cứu trách nhiệm hình sự. Còn hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lê Nhựt B thì ngày 13/6/2023, Công an Phường M, Quận F đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng đối với B về hành vi này (Quyết định số: 0008102/QĐ-XPHC).

Đối với người thanh niên cho Phan Ngọc Thái C gói ma túy, hiện chưa xác định được lai lịch. Cơ quan điều tra đang tiến hành xác minh, khi nào làm rõ xử lý sau.

Tại Cáo trạng số: 52/CT-VKS-Q6 ngày 17 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Phan Ngọc Thái C về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Bị cáo Phan Ngọc Thái C khai gói nylon (bên trong chứa tinh thể không màu) mà Công an thu giữ dưới đất (tại trước nhà số 42 đường KDV, Phường M, Quận F) vào lúc 20 giờ ngày 10/11/2023 là ma túy khay. Sô ma túy này là của một người bạn không rõ lai lịch đưa cho bị cáo cất giữ để đem đến quán karaoke sử dụng. Bị cáo xác nhận Lê Nhựt B hoàn toàn không biết việc bị cáo có đem theo ma túy và cất giữ ma túy trong người.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phan Ngọc Thái C như bản cáo trạng và sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Phạt bị cáo Phan Ngọc Thái C từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» theo điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Không phạt tiền đối với bị cáo, do bị cáo không có khả năng thi hành.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 gói ma túy bên ngoài có ghi vụ số: 2462/23, có chữ ký niêm phong lại của Giám định viên Trịnh Hải Th và cán bộ điều tra Trịnh Ri S. Bên trong chứa 1,6373 gam Ketamine (mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định).

Trả lại bị cáo Phan Ngọc Thái C 01 chiếc điện thoại di động màu vàng, loại Iphone, số Imei 1: 352192204195878, số Imei 2: 352192204011224 (bên trong có 01 sim điện thoại số 0931.779.xxx) và 01 chiếc điện thoại di động màu xanh, loại Iphone, số Imei 1: 353997890710569, số Imei 2: 353997890719438 (bên trong có 01 sim điện thoại số 0902.311.xxx) đều đã được niêm phong, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Mai Trọng T (Điều tra viên), Phan Ngọc Thái C và hình dấu tròn của Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

Còn các vật chứng khác, Cơ quan điều tra Công an Quận 6 đã xử lý xong, nên không đề nghị xử lý.

Lời nói sau cùng, bị cáo Phan Ngọc Thái C nhận thức được hành vi của bị cáo là sai, là vi phạm pháp luật nên không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình, có cơ hội làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người làm chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

  2. Đối chiếu lời khai của bị cáo Phan Ngọc Thái C tại phiên tòa với Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu; Kết luận giám định số: 12701/KL-KTHS ngày 17/11/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh; lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Lê Nhựt B và của người làm chứng tại Cơ quan điều tra cùng những tài liệu, chứng cứ, lời khai khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phan Ngọc Thái C đã phạm tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy». Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự năm 2015).

    Bị cáo Phan Ngọc Thái C đã cất giữ chất ma túy ở thể rắn và thời điểm bắt quả tang (vào lúc 20 giờ ngày 10/11/2023 tại trước nhà số 42 đường KDV, Phường M, Quận F) đã thu giữ của bị cáo 01 gói nylon, bên trong có 2,0157 gam ma túy, loại Ketamine (bị cáo khai số ma túy này là của bị cáo cất giữ để dành sử dụng, không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy khác). Hành vi của bị cáo không những đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về chế độ độc quyền trong việc quản lý, trao đổi, cất giữ chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an xã hội. Hành vi này đủ yếu tố cấu thành tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» thuộc trường hợp «Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam» theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 truy tố bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên, là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

    Bị cáo Phan Ngọc Thái C là người đã trưởng thành, bị cáo hoàn toàn nhận thức được tác hại của ma túy, nhận thức được hành vi cất giữ trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật, được quy định trong Bộ luật hình sự, nhưng để thỏa mãn lối sống không lành mạnh và nhất là xem thường pháp luật, nên bị cáo đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội nêu trên, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.

  3. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Phan Ngọc Thái C là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp nghiêm trọng. Mặt khác, ma túy nói chung và các chất ma túy khác ở thể rắn như Ketamine nói riêng là chất gây nghiện độc hại, việc sử dụng ma túy đã gây tác hại rất lớn và ảnh hưởng rất xấu đến sức khỏe, làm mất khả năng lao động, học tập của chính người sử dụng và đây cũng chính là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, do đó Hội đồng xét xử thấy cần phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, nhằm đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo và để phòng ngừa chung, góp phần vào công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm trong tình hình hiện nay, nhất là các tội phạm về ma túy. Tuy nhiên, xét bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu (chưa có tiền án, tiền sự); là con cháu của gia đình có công cách mạng (có cha là ông Phan Kim M được Chủ tịch nước Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng thưởng Huy chương chiến sĩ vẻ vang; được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng tặng Bằng khen vì đã hoàn thành tốt nhiệm vụ trong thời gian tại ngũ, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc, ...), nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo khi lượng hình theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

  4. Những nhận định trên cũng là căn cứ để chấp nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

  5. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, bị cáo Phan Ngọc Thái C còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo phạm tội không vụ lợi, là lao động tự do, thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

  6. Việc xử lý vật chứng:

    1. Đối với 01 gói ma túy bên ngoài có ghi vụ số: 2462/23, có chữ ký niêm phong lại của Giám định viên Trịnh Hải Th và cán bộ điều tra Trịnh Ri S. Bên trong chứa 1,6373 gam Ketamine (mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định), là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

    2. Đối với 02 chiếc điện thoại di động cùng hiệu Iphone (01 chiếc màu màu vàng, số Imei 1: 352192204195878, số Imei 2: 352192204011224, bên trong có 01 sim điện thoại số 0931.779.xxx; 01 chiếc màu xanh, số Imei 1: 353997890710569, số Imei 2: 353997890719438, bên trong có 01 sim điện thoại số 0902.311.xxx), đều đã được niêm phong, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Mai Trọng T (Điều tra viên), Phan Ngọc Thái C và hình dấu tròn của Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh thu giữ của bị cáo Phan Ngọc Thái C. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị trả lại cho bị cáo vì không đủ căn cứ xác định do bị cáo phạm tội mà có hay bị cáo đã hoặc sẽ dùng vào việc phạm tội. Xét đề nghị của Viện kiểm sát là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

      (theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 21/PNK ngày 03 tháng 4 năm 2024 của Công an Quận 6; Quyết định chuyển vật chứng số: 43/QĐ-VKS-Q6 ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 6; Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12 tháng 6 năm 2024 giữa Công an Quận 6 và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6)

    3. Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh và chiếc xe gắn máy biển số 59H1-634.34 thu giữ của Lê Nhựt B, Cơ quan điều tra Công an Quận 6 đã bàn giao cho Công an Phường M, Quận F xử lý (theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 11/11/2023 - BL180), do đó Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

  7. Đối với Lê Nhựt B, quá trình điều tra và tại phiên tòa, Viện kiểm sát xác định không liên quan đến hành vi cất giữ ma túy của bị cáo Phan Ngọc Thái C, nên không truy cứu trách nhiệm hình sự. Còn hành vi sử dụng ma túy của Lê Nhựt B thì ngày 13/6/2023, Công an Phường M, Quận F đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng đối với B về hành vi này, do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

    1. Đối với người thanh niên cho bị cáo Phan Ngọc Thái C gói ma túy, do bị cáo khai không rõ nhân thân lai lịch, nên không có cơ sở điều tra làm rõ, do đó Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

  8. Về án phí: Bị cáo Phan Ngọc Thái C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • - Xử phạt bị cáo Phan Ngọc Thái C 01 (một) năm tù về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy». Thời hạn tù tính từ ngày 10/11/2023.
  • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) gói ma túy bên ngoài có ghi vụ số: 2462/23, có chữ ký niêm phong lại của Giám định viên Trịnh Hải Th và cán bộ điều tra Trịnh Ri S. Bên trong chứa 1,6373 (một phẩy sáu ba bảy ba) gam Ketamine.
  • - Căn cứ khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Trả lại bị cáo Phan Ngọc Thái C 01 (một) chiếc điện thoại di động màu vàng, loại Iphone, số Imei 1: 352192204195878, số Imei 2: 352192204011224, bên trong có 01 (một) sim điện thoại số 0931.779.xxx và 01 (một) chiếc điện thoại di động màu xanh, loại Iphone, số Imei 1: 353997890710569, số Imei 2: 353997890719438, bên trong có 01 (một) sim điện thoại số 0902.311.xxx, đều đã được niêm phong, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Mai Trọng T (Điều tra viên), Phan Ngọc Thái C và hình dấu tròn của Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • (theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12 tháng 6 năm 2024 giữa Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh)
  • - Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
  • Bị cáo Phan Ngọc Thái C phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  • Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  • - Bị cáo Phan Ngọc Thái C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND Quận 6;
  • - Công an Quận 6;
  • - TAND Tp. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Công an Tp. Hồ Chí Minh (Phòng PV06);
  • - Chi cục THADS Quận 6;
  • - Sở Tư pháp Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ đến vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thùy Liên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 59/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Căn cứ điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. - Xử phạt bị cáo Phan Ngọc Thái C 01 (một) năm tù về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy». Thời hạn tù tính từ ngày 10/11/2023. - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) gói ma túy bên ngoài có ghi vụ số: 2462/23, có chữ ký niêm phong lại của Giám định viên Trịnh Hải Th và cán bộ điều tra Trịnh Ri S. Bên trong chứa 1,6373 (một phẩy sáu ba bảy ba) gam Ketamine. - Căn cứ khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Trả lại bị cáo Phan Ngọc Thái C 01 (một) chiếc điện thoại di động màu vàng, loại Iphone, số Imei 1: 352192204195878, số Imei 2: 352192204011224, bên trong có 01 (một) sim điện thoại số 0931779688 và 01 (một) chiếc điện thoại di động màu xanh, loại Iphone, số Imei 1: 353997890710569, số Imei 2: 353997890719438, bên trong có 01 (một) sim điện thoại số 0902311212, đều đã được niêm phong, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Mai Trọng T (Điều tra viên), Phan Ngọc Thái C và hình dấu tròn của Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh. (theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12 tháng 6 năm 2024 giữa Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh) - Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo Phan Ngọc Thái C phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. - Bị cáo Phan Ngọc Thái C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger