Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ

TỈNH THÁI NGUYÊN

Bản án số: 59/2024/HS - ST

Ngày: 10 - 12 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

——————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Nhường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Hải.

Bà Dương Thị Thu Hằng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Nam Thái - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Minh Trang - Chức danh: Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại nhà văn hóa xóm Q, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 55/2024/TLST - HS, ngày 20 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Lăng Văn C, sinh ngày 02/01/1980. Tên gọi khác: Không.
  2. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm B, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lăng Quốc T và bà Nông Thị L; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; có vợ là Phùng Bích T1 và có 01 con chung; Tiền sự: Không.

    Tiền án: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 127/2022/HS-ST ngày 20/7/2022 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Lăng Văn C 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong bản án ngày 18/5/2023.

    Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/8/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên - bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  3. Họ và tên: Hoàng Minh T2, sinh ngày 08/7/1979. Tên gọi khác: Không.
  4. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: TDP V, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Q và bà Lương Thị T3; Gia đình có 09 anh chị em, bị cáo là con thứ chín trong gia đình; bị cáo chưa có vợ con; Tiền sự: Không.

    Tiền án: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 31/2013/HS-ST ngày 26/6/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xử phạt Hoàng Minh T2 15 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong bản án ngày 08/11/2023.

    Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/8/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên - bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người chứng kiến:

  1. Ông Nguyễn Huy T4, sinh năm 1962/ vắng mặt.
  2. Trú tại: TDP V, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

  3. Ông Nguyễn Văn Q1, sinh năm 1978/ vắng mặt.
  4. Trú tại: TDP V, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 09 giờ 45 phút ngày 24/8/2024, tổ công tác Công an huyện Đ phối hợp cùng Công an thị trấn H tiến hành tuần tra, kiểm soát tại khu vực tổ dân phố V, phát hiện một người đàn ông đang đi bộ có biểu hiện liên quan đến ma tuý. Tổ công tác đã tiếp cận và yêu cầu kiểm tra. Người này chấp hành và khai nhận tên là Lăng Văn C rồi tự giác lấy từ túi quần phía trước bên phải của mình đang mặc ra 01 (một) gói giấy bạc màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng giao nộp cho tổ công tác (C khai là H). Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với C và thu giữ, niêm phong gói chất bột màu trắng nêu trên.

Tiến hành cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ của C là 0,17 gam và lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định (ký hiệu A1).

Quá trình điều tra, Lăng Văn C khai nhận: Khoảng 09 giờ ngày 24/8/2024, C một mình đi bộ từ nhà đến nhà Hoàng Minh T2 thuộc tổ dân phố V, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên để tìm mua Heroine cho bản thân sử dụng. Khoảng 09 giờ 20 phút cùng ngày, C đến nhà T2 và hỏi mua được của T2 01 gói Heroine, với giá 70.000 đồng. Mua được H, C cất giấu vào trong túi quần phía trước bên phải mình đang mặc rồi đi bộ về nhà. Khi đến khu vực thuộc tổ dân phố V, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên thì bị tổ công tác Công an huyện Đ phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng như nêu trên.

Hồi 14 giờ 00 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hoàng Minh T2, kết quả thu giữ tại túi quần phía sau bên phải T2 đang mặc: Số tiền 270.000₫ (Hai trăm bẩy mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng N1; 01 túi nilon màu trắng bên trong túi có 14 gói giấy bạc màu trắng đều chứa chất bột màu trắng và 02 gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng.

Tiến hành cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ của T2 là 0,97 gam và lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định (ký hiệu A2).

Tại bản kết luận giám định số 960/KL – KTHS ngày 01/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận:

Chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng là: 0,17 gam.

Chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A2 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng là: 0,97 gam.

Vật chứng của vụ án gồm:

  • - 04 (bốn) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu A1, A2, LK, LK1.
  • - Số tiền 270.000₫ (Hai trăm bẩy mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng N1.

Tại phiên tòa bị cáo Lăng Văn C và Hoàng Minh T2 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Bản cáo trạng số 58/CT -VKSĐ ngày 19/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Lăng Văn C ra trước TAND huyện Đ để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS; truy tố bị cáo Hoàng Minh T2 ra trước TAND huyện Đ để xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 BLHS.

Kết thúc phần xét hỏi đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, nhân thân của các bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lăng Văn C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo Hoàng Minh T2 phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” .

- Hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS; Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Lăng Văn C từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 251 BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS; Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Hoàng Minh T2 từ 04 năm tù đến 05 năm tù.

- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lăng Văn C và bị cáo Hoàng Minh T2.

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy 04 phong bì niêm phong ký hiệu A1, A2, LK, LK1.

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 70.000 đồng của bị cáo Hoàng Minh T2 do phạm tội mà có; tiếp tục tạm giữ số tiền 200.000 đồng thu giữ của Hoàng Minh T2 để đảm bảo thi hành án.

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về án, lệ phí buộc bị các cáo phải chịu án phí theo quy định.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt thấp nhất cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Lăng Văn C và Hoàng Minh T2 tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập được trong hồ sơ vụ án như: Biên bản phạm tội quả tang, biên bản khám xét, biên bản cân xác định trọng lượng và lấy mẫu giám định, Bản kết luận giám định, vật chứng thu giữ, lời khai của người chứng kiến và các chứng cứ tài liệu khác của vụ án được thu thập trong quá trình điều tra.

Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Hồi 09 giờ 20 phút ngày 24/8/2024, tại nhà ở của Hoàng Minh T2 thuộc tổ dân phố V, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, T2 đã bán cho Lăng Văn C 01 gói Heroine có khối lượng 0,17 gam với giá 70.000 đồng. Sau đó, C khi đi đến khu vực thuộc tổ dân phố V, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên thì bị tổ công tác Công an huyện Đ phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng. Khám xét chỗ ở của T2 thu giữ 0,97 gam Heroine.

Hành vi nêu trên của bị cáo Lăng Văn C đã phạm vào Tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Nội dung Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) ... Heroine ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;"

... 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”.

Hành vi nêu trên của bị cáo Hoàng Minh T2 đã phạm vào Tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS.

Nội dung Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

... 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”.

Ngoài hình phạt chính các bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 và 251 BLHS viện dẫn ở trên.

[2] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi phạm tội của bị cáo Lăng Văn C và Hoàng Minh T2 là hành vi nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng; xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về ma túy, làm tệ nạn ma túy diễn biến ngày càng phức tạp khiến dư luận quần chúng bất bình. Vì ma túy là nguồn gốc của nhiều loại tội phạm, con đường lây nhiễm nhiều bệnh nan y, là nguyên nhân làm tan vỡ hạnh phúc gia đình. Mặt khác ma túy còn hủy hoại sức khỏe, kinh tế của chính người nghiện. Các bị cáo có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện ma túy và có tiền án về tội phạm ma túy, vì vậy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục thành người lương thiện, đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung đối với mọi người.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Hai bị cáo đều phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan Cảnh sát điều tra và tại phiên tòa hai bị cáo thành khẩn nhận tội, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của hai bị cáo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do đó trong lượng hình, HĐXX đã có xem xét giảm nhẹ phần nào mức hình phạt đối với hai bị cáo.

[3] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thấy bị cáo Lăng Văn C mua ma túy về sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích bán cho người khác thu lời bất chính và bị cáo không có điều kiện, khả năng thi hành án nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Đối với bị cáo Hoàng Minh T2 Hội đồng xét xử thấy bị cáo bán ma túy nhằm mục đích thu lời bất chính nên cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo T2 là phạt tiền nộp ngân sách Nhà nước theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.

[4] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 04 phong bì niêm phong ký hiệu A1, A2, LK, LK1. Đối với số tiền 270.000 đồng thu giữ của bị cáo T2 khi khám xét, có 70.000 đồng là do bị cáo T2 bán ma túy cho bị cáo C mà có nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 70.000 đồng này của bị cáo Hoàng Minh T2 do phạm tội mà có. Số tiền 200.000 đồng còn lại của bị cáo Hoàng Minh T2 do lao động mà có cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[5] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt chính là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.

[6] Về nguồn gốc ma túy (H1) bị cáo T2 khai mua ma túy của một người đàn ông không rõ họ tên, tuổi, địa chỉ ở khu vực đầu cầu G, do vậy cơ quan Cảnh sát điều tra không có cơ sở để mở rộng điều tra vụ án.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước, theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[8]Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[9] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Cần tiếp tục tạm giam các bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lăng Văn C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo Hoàng Minh T2 phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt:
    • Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS; Điều 38 Bộ luật hình sự.
    • * Xử phạt bị cáo Lăng Văn C 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/8/2024.
    • Áp dụng Điều 329 BLTTHS ra quyết định tạm giam bị cáo Lăng Văn C 45 ngày, kể từ ngày tuyên án.
    • Áp dụng khoản 1 và khoản 5 Điều 251 BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS; Điều 38 Bộ luật hình sự.
    • * Xử phạt bị cáo Hoàng Minh T2 54 (năm mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/8/2024.
    • Áp dụng Điều 329 BLTTHS ra quyết định tạm giam bị cáo Hoàng Minh T2 45 ngày, kể từ ngày tuyên án.
    • Phạt bổ sung bị cáo Hoàng Minh T2 5.000.000đ (Năm triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
  3. Về xử lý vật chứng. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu tiêu hủy 04 phong bì niêm phong ký hiệu A1, A2, LK, LK1.
    • (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/12/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra của Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ).
    • - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 70.000 đồng của bị cáo Hoàng Minh T2 do phạm tội mà có.
    • - Tiếp tục tạm giữ số tiền 200.000 đồng thu giữ của bị cáo Hoàng Minh T2 để đảm bảo thi hành án.
  4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lăng Văn C và Hoàng Minh T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Đ;
  • - Công an huyện Đ;
  • - Chi cục THADS huyện Đ;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Cơ quan THAHS;
  • - Nhà tạm giữ CA huyện Đ, TTG;
  • - UBND xã M, thị trấn H;
  • - Bị cáo; người có QL & NV liên quan;
  • - Lưu: HS, VP, T.H.A HS.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Đỗ Hữu Nhường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2024/HS - ST ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN về vụ án hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 59/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồi 09 giờ 20 phút ngày 24/8/2024, tại nhà ở của Hoàng Minh T2 thuộc tổ dân phố V, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, T2 đã bán cho Lăng Văn C 01 gói Heroine có khối lượng 0,17 gam với giá 70.000 đồng. Sau đó, C khi đi đến khu vực thuộc tổ dân phố V, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên thì bị tổ công tác Công an huyện Đ phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng. Khám xét chỗ ở của T2 thu giữ 0,97 gam Heroine.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger