Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THẠCH HÀ

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 59/2024/HS-ST

Ngày: 22/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Huệ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Văn Thành và ông Bùi Bá Sơn

Thư ký phiên toà: Bà Bạch Thị Hà - Thư ký TAND huyện Thạch Hà.

- Đại diện VKSND huyện Thạch Hà tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn H - Kiểm sát viên.

Vào hồi 07 giờ 45 phút ngày 22 tháng 11 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 57/2024/TLST - HS, ngày 11 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2024/QĐXXST - HS, ngày 11 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Văn C; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Q. Sinh ngày: 01/12/1993, tại: xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Đội 4, thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn 9/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: L (Đã chết). Con bà: Võ Thị T; sinh năm 1956. Anh chị em ruột có 05 người, bị cáo là con thứ 05; Vợ: Trương Thị Ngọc M (không rõ thông tin). Con: Không rõ thông tin. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/7/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Anh Hoàng Văn Đ, sinh năm 1992. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trú tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt

Người làm chứng :

- Chị Lê Thị H1, sinh năm 1988, trú tại xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt

- Anh Nguyễn Huy P, sinh năm 1986, trú tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu năm 2023, Lê Văn C quen biết Hoàng Văn Đ, sinh năm 1992, trú tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh khi cả hai đang làm việc tại tỉnh Bình Phước. Đ biết C quê ở tỉnh Quảng Trị nên đã đặt vấn đề nhờ C mua hộ 15 hộp pháo nổ, loại 1 hộp có 49 quả để về sử dụng dịp Tết Nguyên đán.

Cuối tháng 6/2023, có việc về quê ở Quảng Trị nên C đi đến khu vực cửa khẩu L, ở xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị để hỏi mua pháo cho Đ với giá 01 hộp pháo loại 49 quả là 800.000 đồng. Sau đó, C thông báo cho Đ giá mua pháo là 01 hộp 850.000 đồng, tổng 15 hộp pháo là 12.750.000 đồng nhằm hưởng lợi 750.000 đồng và đồng thời cho Đ số tài khoản ngân hàng để Đ chuyển tiền.

Vào lúc 22 giờ 27 phút ngày 28/6/2023, Hoàng Văn Đ chuyển khoản số tiền 12.000.000 đồng đến số tài khoản ngân hàng do C cung cấp để mua pháo, số tiền 750.000 đồng còn lại Đ hẹn khi C vào tỉnh Bình Phước sẽ gửi tiền mặt. Sau khi chuyển khoản thành công, Hoàng Văn Đ đã chụp ảnh giao dịch chuyển khoản qua tài khoản Zalo cho C.

Sáng ngày 29/6/2023, C bắt xe khách quay lại khu vực cửa khẩu L, tỉnh Quảng Trị để mua pháo. Do người bán không nhận chuyển khoản nên C phải đổi tiền mặt để thanh toán 12.000.000 đồng mua 15 hộp pháo nổ như thỏa thuận.

Ngày 01/7/2023, C gửi 03 thùng cát tông chứa 15 hộp pháo, viết số điện thoại người gửi 0988.816.xxx (SĐT của C) và số điện thoại người nhận 0865.779.xxx của anh Nguyễn Huy P, sinh năm 1986, trú tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh lên 03 thùng cát tông, rồi gửi qua nhà xe T1 về B Hà Tĩnh đúng như yêu cầu của Đ. Trước khi gửi, C đã chụp hình lại đặc điểm thùng chứa pháo và biển số xe khách Tú Tạc, gửi qua tài khoản Zalo cho Hoàng Văn Đ biết. Khi anh Nguyễn Huy P nhận hộ số pháo trên thì đưa về nhà ở của Hoàng Văn Đ tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh.

Số tiền mặt còn lại là 750.000 đồng, Đ đã thanh toán xong cho C khi C trở lại Bình Phước làm việc.

Đến khoảng tháng 11/2023, Hoàng Văn Đ trở về Hà Tĩnh, đã sử dụng hết 3 hộp pháo. Ngày 29/12/2023, khi Đ đang sử dụng 3 hộp pháo thì bị Phòng cảnh sát kinh tế Công an tỉnh H phát hiện và thu giữ thêm 09 hộp pháo chưa được sử dụng.

Tại kết luận giám định số 113/KL-TKTHS, ngày 01/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận về 12 hộp pháo thu giữ của Hoàng Văn Đ như sau: 03 (ba) hộp hình khối chữ nhật, bên ngoài có nhiều hoa văn và chữ nước ngoài, bên ngoài các hộp ghi số 49, kích thước mỗi khối hộp (10x17x17cm), trong đó, mỗi khối hộp có 49 vật hình trụ tròn liên kết với nhau gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng là 5,4kg (năm phẩy bốn kilogam); 09 (chín) hộp hình khối chữ nhật,

bên ngoài có nhiều hoa văn và chữ nước ngoài, bên ngoài các hộp ghi số 49, kích thước mỗi khối hộp (10x17x17cm), trong đó, mỗi khối hộp có 49 vật hình trụ tròn liên kết với nhau và 01 khối hộp đã bị rách giấy dán bên ngoài gồm 28 vật hình trụ tròn liên kết với nhau gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng là 15kg (mười lăm kilogam). Tổng khối lượng pháo mà Hoàng Văn Đ tàng trữ là 20,4kg.

Ngày 06/01/2024, CQCSĐT Công an huyện T đã ra Quyết định khởi tố bị can đối với Hoàng Văn Đ về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c, khoản 1, Điều 191 Bộ luật hình sự. Hiện vụ án này đã kết thúc điều tra, truy tố, xét xử theo đúng quy định. Đối với hành vi của Lê Văn C, CQCSĐT Công an huyện T tách để thụ lý, giải quyết riêng.

Lê Văn C đã bán cho Hoàng Văn Đ tổng số 15 hộp pháo nổ, loại mỗi hộp có 49 quả. Tuy nhiên, do Hoàng Văn Đ đã sử dụng hết một số lượng pháo, không thu giữ được số pháo mà Đ đã sử dụng nên không có căn cứ xác định khối lượng pháo. Do đó, Lê Văn C phải chịu trách nhiệm hình sự đối với khối lượng 20,4kg pháo thu giữ từ H.

Quá trình giải quyết vụ án, Lê Văn C biết việc Hoàng Văn Đ bị cơ quan chức năng bắt, xử lý nhưng C vẫn làm việc tại các tỉnh phía Nam. Đến ngày 20/7/2024, Lê Văn C đến CQCSĐT Công an huyện T đầu thú. Tại Cơ quan điều tra, Lê Văn C thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng của vụ án: Số pháo Lê Văn C bán cho Hoàng Văn Đ mà Cơ quan điều tra đã thu giữ nói trên đã được giải quyết trong vụ án Tàng trữ hàng cấm xảy ra vào ngày 29/12/2023, tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Trong vụ án này, Cơ quan điều tra không thu giữ đồ vật, tài liệu gì khác.

- Với hành vi trên, tại cáo trạng số 62/CT-VKSTH, ngày 09 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Lê Văn Cường về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.

- Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Lê Văn C phạm tội "Buôn bán hàng cấm". Xử phạt bị cáo Lê Văn C từ 27 đến 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam. Áp dụng khoản 4 Điều 190, Điều 35 Bộ luật hình sự phạt bổ sung bị cáo từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng. Truy thu từ bị cáo số tiền thu lợi bất chính 750.000 đồng để sung công quỹ nhà nước. Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng truy tố và không có ý kiến tranh luận gì.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì.

Lời nói sau cùng bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của quyết định và hành vi của các cơ quan và những người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của những người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng; phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng cuối tháng 6/2023, tại khu vực cửa khẩu L, thuộc xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị, do có thỏa thuận mua bán từ trước nên Lê Văn C đã mua của 01 người phụ nữ 15 hộp pháo nổ, loại mỗi hộp có 49 quả với giá 12.000.000 đồng, sau đó Lê Văn C gửi số pháo nói trên về B Hà Tĩnh để bán lại cho Hoàng Văn Đ, sinh năm 1992, trú tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh với giá 12.750.000 đồng, hưởng lợi số tiền 750.000 đồng. Hoàng Văn Đ đã sử dụng 03 hộp pháo, tổng số pháo còn lại thu giữ được từ Hoàng Văn Đ mua từ Lê Văn C trước đó là 12 hộp, có khối lượng là 20,4kg.

Hành vi của Lê Văn C đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự. Do vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Tình tiết tăng nặng: Không

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo” theo quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo đầu thú nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo Lê Văn C là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với một số mặt hàng cấm kinh doanh, cấm sử dụng và lưu hành tại Việt Nam. Quá trình điều tra, xử lý đối với Hoàng Văn Đ, mặc dù Lê Văn C biết nhưng vẫn làm việc tại các tỉnh phía Nam, cố tình không liên lạc với mọi người gây khó khăn cho công tác điều tra và

phải tách riêng vụ án, điều đó cho thấy ý thức chấp hành pháp luật kém, khối lượng pháo mà bị cáo thực hiện hành vi phạm tội lớn. Vì vậy, cần được xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục phòng ngừa chung. Tuy nhiên, quá trình lượng hình cũng cần xem xét cho bị cáo phạm tội lần đầu, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự đến cơ quan điều tra để đầu thú nên cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

Mức hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên cần được chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội nhằm thu lợi hưởng tiền chênh lệch nên áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng là phù hợp.

[6] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[7] Các biện pháp tư pháp:

Đối với số tiền 12.000.000 đồng mua pháo, do không xác định được người bán nên không truy thu được. Đối với số tiền 750.000 đồng là tiền thu lợi bất chính do bị cáo bán pháo mà có nên cần truy thu sung công quỹ nhà nước.

[8] Về các vấn đề khác:

- Đối với chị Lê Thị H1, là người mà C đã chuyển khoản để đổi tiền mặt thanh toán tiền mua pháo. Tuy nhiên, chị H1 là người làm dịch vụ đổi tiền chuyển khoản thành tiền mặt, không quen biết C, không biết C đổi tiền để thực hiện việc mua pháo. Vì vậy, CQCSĐT Công an huyện T không có căn cứ xử lý đối với chị Lê Thị H1.

- Đối với người phụ nữ mà Lê Văn C khai nhận gặp tại khu vực cửa khẩu L, tỉnh Quảng Trị và bán pháo cho C. Do thông tin Lê Văn C cung cấp không đầy đủ nên CQCSĐT Công an huyện T không thể xác định danh tính cụ thể của người này.

- Anh Nguyễn Huy P, là người đã nhận 03 thùng cát tông chứa pháo từ Bến xe khách H đưa về nhà ở của Hoàng Văn Đ. Tuy nhiên, Đ chỉ nói với anh P nhận giúp quà gửi về cho gia đình, anh P không biết bên trong thùng cát tông có chứa pháo, không có tài liệu, chứng cứ nào xác định anh P có sự thỏa thuận với Đ để mua, bán số pháo nói trên. Vì vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý đối với anh Nguyễn Huy P.

- Lê Văn C khai nhận đã sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, số loại A8 để liên lạc, mua, bán pháo với Hoàng Văn Đ. Tuy nhiên chiếc điện thoại này C khai đã bị hỏng và đã vứt bỏ nên CQCSĐT Công an huyện T không thu giữ được.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự:

1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn C phạm tội "Buôn bán hàng cấm".

2. Về hình phạt.

2.1. Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Lê Văn C 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (24/7/2024).

2.2. Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 4 Điều 190, Điều 35 Bộ luật hình sự phạt tiền bị cáo Lê Văn C số tiền là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).

3. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS: Truy thu của bị cáo Lê Văn C sung công quỹ nhà nước số tiền là 750.000 đồng (bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Văn C phải nộp 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Sở Tư pháp Hà Tĩnh;
  • - VKSND huyện Thạch Hà;
  • - Công an huyện Thạch Hà;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Thạch Hà;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu Hồ sơ; VT

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thanh Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2024/HS-ST ngày 22/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH về buôn bán hàng cấm (điều 190 bộ luật hình sự)

  • Số bản án: 59/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm (Điều 190 Bộ luật Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Lê Văn C phạm tội "Buôn bán hàng cấm".
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger