|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 59/2024/HS -ST Ngày: 15/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thanh Hương và ông Hoàng Đức Thịnh.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai tham gia phiên tòa: Bà Đào Giang Lệ - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 61/2024/TLST - HS ngày 18 tháng 10 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 82/2024/QĐXXST – HS ngày 01 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Dương Bá T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 02/01/1984; tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi tạm trú và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố B, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Họ và tên C: Dương Bá T1, sinh năm 1963; Họ và tên mẹ: Lê Thị H, sinh năm 1960; Vợ: Lê Thị L, sinh năm 1981; Con: Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 05/6/2024 bị Công an thị xã N, tỉnh Thanh Hóa khởi tố về tội: “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điểm c khoản 1 Điều 290 Bộ luật hình sự; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/8/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thị xã H; có mặt.
Bị hại: Anh Đào Trọng H1, sinh năm 1998, vắng mặt.
Địa chỉ: Khu H, xã Đ, huyện H, tỉnh Phú Thọ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Lê Thị L, sinh năm 1981, có mặt.
Địa chỉ: Tổ dân phố B, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa;
Anh Hồ Sỹ T2, sinh năm 2000, vắng mặt.
Địa chỉ: Khối Y, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 27/7/2024, Dương Bá T sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook có tên “Lê Nhị” cài đặt trên chiếc điện thoại iphone 6s, màu hồng của T vào mạng xã hội Facebook để tìm mua điện thoại di động cũ về sử dụng thì thấy tài khoản Facebook "H1 buôn táo” của anh Đào Trọng H1, sinh năm 1998, trú tại khu H, xã Đ, huyện H, tỉnh Phú Thọ rao bán 02 chiếc điện thoại có đặc điểm: 01 (một) điện thoại nhãn hiệu iphone 11 pro, màu trắng, đã bị vỡ màn hình và 01 (một) điện thoại nhãn hiệu iphone 11 pro, màu xanh đen. Sau đó T có nhắn tin với anh H1 qua ứng dụng Messegger để trao đổi mua bán 02 chiếc điện thoại nêu trên. Để cho T biết đặc điểm cụ thể 02 chiếc điện thoại, anh H1 đã chụp hình ảnh 02 chiếc điện thoại gửi qua tài khoản M là “Lê Nhị” cho T và hai bên thống nhất giá bán là 9.700.000 đồng (Chín triệu bảy trăm nghìn đồng) và hình thức vận chuyển là T nhận, kiểm tra hàng rồi thanh toán tiền cho H1 qua đơn vị dịch vụ chuyển phát. Do muốn chiếm đoạt một trong hai chiếc điện thoại nên T đã không cung cấp tên tuổi, địa chỉ nơi ở cụ thể của T mà lấy tên người nhận hàng là “Lê Nhị”, địa chỉ nhận hàng là thôn Đ, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An, số điện thoại liên hệ nhận hàng là 0912.778.xxx. Sau đó, để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của anh H1 thì T đã chuẩn bị 01 (một) chiếc điện thoại iphone 6s, màu xám, hư hỏng, mặt sau điện thoại T dán giấy, tem giống đặc điểm của chiếc điện thoại iphone 11 pro màu xanh đen mà anh H1 chụp ảnh gửi cho T để khi nhận hàng, T lợi dụng sơ hở của nhân viên giao hàng để tráo đổi, chiếm đoạt tài sản trong đơn hàng. Vào khoảng 17 giờ, ngày 01/08/2024, anh Hồ Sỹ T2, là nhân viên giao hàng của Viettel post thị xã H gọi điện liên hệ với T qua số điện thoại 0912.778.xxx để nhận đơn hàng mà T đã đặt mua của anh H1, T yêu cầu và hẹn anh T2 giao hàng tại khu vực thôn Đ, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Sau đó, T lấy chiếc điện thoại iphone 6s, màu xám hư hỏng đã chuẩn bị trước đó để vào túi quần và điều khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha, loại Jupiter, màu đỏ đen, biển số 36P1 – 4963 đến điểm hẹn. T đến điểm hẹn, được một lát thì thấy anh T2 đến và đưa cho T đơn hàng là 01 (một) hộp giấy được dán kín, T mở hộp kiểm tra chiếc điện thoại iphone 11 pro màu trắng thấy chiếc điện thoại này không lên nguồn nên T đưa lại cho anh T2 kiểm tra. Lúc này, lợi dụng sơ hở của anh T2 nên T lấy chiếc điện thoại iphone 6s, màu xám, đã bị hư hỏng trong túi quần trước bên phải đã chuẩn bị trước đó để tráo đổi với chiếc iphone 11 pro màu xanh đen, sau đó T tự kiểm tra chiếc điện thoại iphone 6s, màu xám để tránh sự chú ý của anh T2. T lấy lý do điện thoại hư hỏng, không như thỏa thuận (máy không lên nguồn) nên không nhận hàng, trả lại điện thoại cho anh T2 và trả số tiền là 89.000 đồng (tám mươi chín nghìn đồng) tiền vận chuyển rồi nhanh chóng đi xe máy về nhà. Trên đường về, tránh sự phát hiện của anh T2 và anh H1 nên T đã tắt nguồn chiếc điện thoại iphone 6s, màu hồng mà T sử dụng để liên hệ với anh H1, anh T2. Khi đến nhà, T mở nguồn điện thoại iphone 6s, màu hồng và thực hiện thoát tài khoản “Lê N” ra khỏi ứng dụng Facebook và M cài đặt trong điện thoại iphone 6s, màu hồng nói trên. Ngày 08/8/2024, anh T2 ra trụ sở Công an xã Q để trình báo sự việc anh T2 bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản là 01 (một) điện thoại nhãn hiệu iphone 11 pro, màu xanh đen. Cùng ngày, trong quá trình Công an xã Q đang tiến hành xác minh, T biết hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của mình đã bị phát hiện nên đã đến Công an xã Q, thị xã H để đầu thú và khai báo hành vi phạm tội của mình và giao nộp 01 (một) chiếc điện thoại iphone 11 pro, màu xanh đen mà T đã chiếm đoạt. Tại Bản kết luận định
giá tài sản số: 16/KL-ĐGTS ngày 12/8/2024 Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thuộc UBND thị xã H kết luận: 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu iphone 11 pro màu xanh đen, bên cạnh lỗ cổng sạc pin có dán tem màu xanh lá cây, phía trên tem có ghi dòng chữ “197”, có số IMEI: 353845104627253, IMEI 2: 353845104689246, điện thoại đã qua sử dụng, tình trạng sử dụng bình thường có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng).
Tại bản cáo trạng số 61/CT-VKS-HM, ngày 16 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai đã truy tố bị cáo Dương Bá T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Dương Bá T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm s, khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Dương Bá T từ 06-09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/8/2024.
Về hình phạt bổ sung: Điều kiện hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn về kinh tế nên miễn phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng và tài sản thu giữ:
- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iphone 11 pro, màu xanh đen, bên cạnh lỗ cổng sạc pin có dán tem màu xanh lá cây, phía trên tem có dòng chữ “197” có số IMEI: 353845104627253, số IMEI 2: 353845104689246, điện thoại đã qua sử dụng do Dương Bá T giao nộp, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H đã trả lại cho chủ sử hữu anh Đào Trọng H1.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iphone 6s, màu hồng, đã qua sử dụng, bên trong có chứa thẻ sim điện thoại số 0912.778.xxx, số seri FK3QPVR6GRYF, số IMEI 355429075768244 thu giữ của Dương Bá T. Do bị cáo dùng liên lạc vào việc phạm tội.
- Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iphone 6s, màu xám, đã bị hư hỏng, không lên nguồn, thu giữ của Dương Bá T. Do bị cáo dùng để tráo đổi việc phạm tội không còn giá trị sử dụng.
- Trả lại cho bị cáo 01 (một) xe máy, nhãn hiệu Yamaha, loại Jupiter, màu đỏ đen, biển số 36P1 - 4963, số khung B9508Y024415, số máy 5B95024415, xe đã qua sử dụng thu giữ của Dương Bá T. Do tài sản chung duy nhất của vợ chồng dùng để đi lại, kiếm sống, lao động.
Về trách nhiệm dân sự:
Anh Đào Trọng H1 đã nhận lại được tài sản, không có yêu cầu gì thêm nên miễn xét.
Đối với người có tài khoản Facebook có tên “Lê N” là do trước đây Dương Bá Thành L1 cho con gái Dương Thị Hoài T3 (sinh năm 2005) để phục vụ quá trình học tập. Dương Thị Hoài T3 không biết T dùng tài khoản trên để thực hiện hành vi phạm tội, nên Dương Thị Hoài T3 không phải chịu trách nhiệm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đó được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đó thực hiện đều hợp pháp.
[2] Đối chiếu lời khai của bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu có trong hồ sơ, xét thấy phù hợp về thời gian, địa điểm mà bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt; có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 01/8/2024, tại thôn Đ, xã Q, thị xã H, Nghệ An Dương Bá T sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook có tên “Lê N” để đặt mua điện thoại của anh Đào Trọng H1, sinh năm 1998, trú tại khu H, xã Đ, huyện H, tỉnh Phú Thọ sau đó dùng thủ đoạn gian dối là chuẩn bị sẵn một chiếc điện thoại cũ đã hỏng của mình có đặc điểm giống chiếc điện thoại mà T đặt mua của anh H1, để lợi dụng sơ hở của nhân viên giao hàng tráo đổi và chiếm đoạt tài sản là chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iphone 11 pro, màu xanh đen trong đơn hàng, có trị giá tại thời điểm chiếm đoạt là 3.500.000 đồng.
Quá trình phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức và điều khiển hành vi phạm tội của mình là trái pháp luật nhưng do không muốn lao động chân chính, coi thường pháp luật nên đã thực hiện tội phạm một cách liều lĩnh nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản để thỏa mãn nhu cầu cá nhân.
Hành vi của bị cáo thực hiện nêu trên có đủ căn cứ kết luận Dương Bá T phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội gây hoang mang, lo lắng trong cuộc sống bình thường của nhân dân. Bởi vậy, căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội và giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt cần thiết phải xử phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện.
[4] Bị cáo Dương Bá T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đầu thú. Bị cáo phạm tội ít nghiệm trọng số tiền chiếm đoạt ít có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Tuy nhiên bị cáo có nhân thân nên cần xử phạt tù nhưng giảm nhẹ cho bị cáo một phần để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật. Vì vậy xử phạt bị cáo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[5] Về hình phạt bổ sung: Điều kiện hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn về kinh tế nên miễn phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.
[6] Vật chứng vụ án:
- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iphone 11 pro, màu xanh đen, bên cạnh lỗ cổng sạc pin có dán tem màu xanh lá cây, phía trên tem có dòng chữ
“197” có số IMEI: 353845104627253, số IMEI 2: 353845104689246, điện thoại đã qua sử dụng do Dương Bá T giao nộp, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H đã trả lại cho chủ sử hữu anh Đào Trọng H1 nên miễn xét.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iphone 6s, màu hồng, đã qua sử dụng, bên trong có chứa thẻ sim điện thoại số 0912.778.xxx, số seri FK3QPVR6GRYF, số IMEI 355429075768244 thu giữ của Dương Bá T. Do bị cáo dùng liên lạc vào việc phạm tội.
- Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iphone 6s, màu xám, đã bị hư hỏng, không lên nguồn, thu giữ của Dương Bá T. Do bị cáo dùng để tráo đổi việc phạm tội không còn giá trị sử dụng.
- Trả lại cho bị cáo 01 (một) xe máy, nhãn hiệu Yamaha, loại Jupiter, màu đỏ đen, biển số 36P1 - 4963, số khung B9508Y024415, số máy 5B95024415, xe đã qua sử dụng thu giữ của Dương Bá T. Do tài sản chung duy nhất của vợ chồng dùng để đi lại, lao động, kiếm sống.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Anh Đào Trọng H1 đã nhận lại được tài sản, không có yêu cầu gì thêm nên miễn xét.
[8] Đối với người có tài khoản Facebook có tên “Lê N” là do trước đây Dương Bá Thành L1 cho con gái Dương Thị Hoài T3 (sinh năm 2005) để phục vụ quá trình học tập. Dương Thị Hoài T3 không biết T dùng tài khoản trên để thực hiện hành vi phạm tội, nên Dương Thị Hoài T3 không phải chịu trách nhiệm.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Dương Bá T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1, Điều 174; điểm s, khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Dương Bá T 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/8/2024.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iphone 6s, màu hồng, đã qua sử dụng, bên trong có chứa thẻ sim điện thoại số 0912.778.xxx, số seri FK3QPVR6GRYF, số IMEI 355429075768244 thu giữ của Dương Bá T.
- Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iphone 6s, màu xám, đã bị hư hỏng, không lên nguồn, thu giữ của Dương Bá T.
- Trả lại cho bị cáo 01 (một) xe máy, nhãn hiệu Yamaha, loại Jupiter, màu đỏ đen, biển số 36P1 - 4963, số khung B9508Y024415, số máy 5B95024415, xe đã qua sử dụng thu giữ của Dương Bá T.
Các vật chứng có tại biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thị xã H và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoàng Mai ngày 17/10/2024.
Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban T4; Buộc bị cáo Dương Bá T phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại,
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Duy Tuấn |
Bản án số 59/2024/HS -ST ngày 15/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự)
- Số bản án: 59/2024/HS -ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
