Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG HỒ

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

Bản án số: 59/2024/ HS-ST

Ngày: 20 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • -Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Công Bằng
  • -Các hội thẩm nhân dân.
  • 1. Ông Nguyễn Phương Thanh –Nguyên Chủ tịch Mặt trận tổ quốc huyện Long Hồ.
  • 2. Bà Nguyễn Thị Út – Nguyên Trưởng phòng Lao động, thương binh, xã hội huyện Long Hồ.
  • -Thư ký phiên tòa: Bà Trần Mỹ Huyền –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long
  • -Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ: Ông Dương Vũ Trường Giang – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số: 47/2024/ TLST- HS ngày 17 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 đối với:

-Bị cáo: Trương Văn Q, sinh ngày: 11/01/1993, tại Vĩnh Long.

Nơi cư trú: Số A, tổ A, ấp A, xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trương Văn Tài B, sinh năm: 1966; con bà Trần Kim C, sinh năm: 1968; Anh chị em ruột: có 02 người lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất là bị cáo; Vợ: Trần Thủy T, sinh năm: 1996; Con: 02 người lớn nhất sinh năm: 2020, nhỏ nhất sinh năm: 2021; Tiền sự: Không; Tiền án: Không.

Ngày 11/4/2024 điều khiển xe ô tô tải gây tai nạn giao thông đường bộ làm tử vong 01 người. Ngày 22/5/2024 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L khởi tố vụ án, khởi tố bị can và cho tại ngoại điều tra.

Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

-Bị hại:

Chị Nguyễn Thị Bạch M, sinh năm: 1976 ( đã chết)

Nơi cư trú: ấp A, xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long

-Đại diện hợp pháp của bị hại:

Anh Huỳnh Lâm T1, sinh năm: 1998 ( Có mặt).

Nơi cư trú: ấp A, xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Cháu Nguyễn Ngọc A, sinh năm: 2017 ( Vắng mặt)
  2. Nơi cư trú: ấp A, xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.

  3. Anh Phạm Nguyễn Phước H, sinh năm: 1986 ( Có mặt).
  4. Nơi cư trú: Số I, ấp L, xã L, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

  5. Anh Nguyễn Văn S, sinh năm: 1961 ( Vắng mặt).
  6. Nơi cư trú: Số A, đường T, phường A, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.

  7. Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm: 1977 ( Có mặt).
  8. Nơi cứ trú: Số A, tổ I, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

  9. Công ty B1 ( Vắng mặt).
  10. Địa chỉ: Số A, đường C, Quận N, thành phố Cần Thơ

-Đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Ngọc A:

  1. Chị Lê Ngọc M1, sinh năm: 1991 ( Vắng mặt).
  2. Nơi cư trú: ấp A, xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.

  3. Anh Đỗ Đức T3, sinh năm: 1986 ( Vắng mặt).
  4. Nơi cư trú: ấp A, xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trương Văn Q có giấy phép lái xe hạng C. Quí chạy xe thuê cho công ty Đ có cơ sở giáp Quốc lộ E bên phải hướng Trà Vinh - Vĩnh Long đoạn km 09+900 thuộc địa phận ấp A, xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.

Khoảng 13 giờ 00 ngày 11/4/2024, Trương Văn Q điều khiển xe ô tô tải loại Super Ace, trọng tải 1200 kg, biển kiểm soát 64C-106.85 đến đỗ trong khu vực sân của công ty Đ để lên hàng đi giao cho khách.

Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, Q điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 64C-106.85 lùi đi ra Quốc lộ E để điều khiển xe về hướng Vĩnh Long. Khi Q khởi hành xe lùi ra Q nhưng không nhờ người cảnh giới mà chỉ quan sát gương chiếu hậu của xe nên không phát hiện được các xe lưu thông trên đường hướng Trà Vinh - Vĩnh Long.

Khi Q vừa lùi xe ra Quốc lộ E được khoảng 01 mét thì va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 64B1-172.11 do chị Nguyễn Thị Bạch M, sinh năm 1976, cư trú: ấp A, xã L, huyện L điều khiển chở Nguyễn Ngọc A, sinh năm 2017 lưu thông từ hướng Trà Vinh - Vĩnh Long. Va chạm xảy ra làm chị M, cháu A cùng xe mô tô ngã ra đường. Liền lúc này xe ô tô tải biển kiểm soát 64C-016.37 do anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1977 điều khiển lưu thông hướng Trà Vinh - Vĩnh Long chạy đến. Anh T2 nhìn thấy nên đạp phanh và đánh lái xe về bên trái để tránh nhưng không kịp dẫn đến xe anh T2 điều khiển tiếp tục va chạm vào xe mô tô biển kiểm soát 64B1-172.11 đẩy xe và người văng về phía trước.

Hậu quả: Nguyễn Thị Bạch M được người dân đưa đi cấp cứu tại bệnh viện Đ1. Đến ngày 13/4/2024 chị M tử vong tại bệnh viện. Riêng Nguyễn Ngọc A bị xay xát nhẹ.

Kết luận giám định pháp y số 243/KLGĐTT-TTPY ngày 16/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh V: nguyên nhân tử vong của Nguyễn Thị Bạch M là do sốc chấn chấn thương kết hợp mất máu cấp.

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: đoạn đường xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng, mặt đường được trải nhựa bê tông bằng phẳng. Vị trí xảy ra tai nạn nằm trên phần đường phương tiện lưu thông hướng Trà Vinh - Vĩnh Long có chiều rộng rộng 5,20 mét; Tâm vùng va chạm đo vào lề là 1,10 mét.

Căn cứ vào biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám phương tiện, biên bản khám nghiệm tử thi và các tài liệu chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập được. Xác định nguyên nhân xảy ra tai nạn giao thông là do Trương Văn Q điều khiển xe ô tô tải 64C-106.85 lùi xe không đảm bảo an toàn. Vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 16 Luật giao thông đường bộ.

Đối với anh Nguyễn Văn T2 điều khiển xe ô tô tải 64C-016.37 đi đúng phần đường, làn đường quy định. Việc xe mô tô 64B1-172.11 bị tai nạn ngã văng ra thuộc trường hợp sự kiện bất ngờ. Vì vậy anh T2 không có lỗi dẫn đến tai nạn giao thông đường bộ.

Trong quá trình điều tra, đại diện gia đình bị hại yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự với số tiền 150.000.000đ. Bị can đã tự nguyện bồi thường xong. Đại diện bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị can.

Cáo trạng số 47/CT-VKS, ngày 16 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ truy tố Trương Văn Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, công nhận cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ đối với hành vi phạm tội của bị cáo là đúng, lỗi trong vụ án thuộc về bị cáo, bị cáo tham gia giao thông bị cáo lùi xe không đảm bảo an toàn gây tai nạn cho bị hại. Quá trình điều tra không có ai ép cung bị cáo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi phạm tội của bị cáo Trương Văn Q. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trương Văn Q phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Đề nghị xử phạt bị cáo Trương Văn Q mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 đến 03 năm.

Về trách nhiệm dân sự: Đã bồi thường xong, nên không xem xét.

Về vật chứng: Không.

Về án phí: Đề nghị áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo nộp 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

-Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo ở bên ngoài để có điều kiện chăm sóc cho các con còn nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định.

[2]. Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để xác định:

Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 11/4/2024, Trương Văn Q điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 64C-106.85 lùi xe từ khu vực sân công ty Đ ra quốc lộ E đoạn km 09+900 thuộc ấp A, xã L, huyện L. Quí điều khiển xe lùi ra phía sau nhưng không có người cảnh giới mà chỉ quan sát gương chiếu hậu của xe nên không phát hiện được các xe lưu thông trên đường Quốc lộ. Từ đó khi Q vừa lùi xe ra Q thì xảy ra va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 64B1-172.11 do Nguyễn Thị Bạch M điều khiển chở Nguyễn Ngọc A lưu thông hướng Trà Vinh - Vĩnh Long. Hậu quả xảy ra tai nạn làm chị Nguyễn Thị Bạch M tử vong.

Như vậy có đủ căn cứ để xác định hành vi của bị cáo Trương Văn Q đã phạm vào tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ truy tố là đúng người, đúng tội.

Đối với anh Nguyễn Văn T2 điều khiển xe đi đúng làn đường quy định, việc va chạm vào xe của bị hại là trường hợp sự kiện bất ngờ, anh T2 không có lỗi trong vụ án.

[3]. Về tính chất mức độ hành vi phạm tội:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe và tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo được học luật giao thông và được cấp giấy phép lái xe, đoạn đường nơi xảy ra tai nạn bị cáo cũng thường xuyên đi qua, biết rõ về tình hình lưu lượng xe tham gia giao thông, nhưng khi tham gia giao thông bị cáo cho xe lùi không đảm bảo an toàn gây tai nạn cho người bị hại, dẫn đến bị hại tử vong. Hành vi của bị cáo thể hiện sự xem thường pháp luật, xem thường sức khỏe, tính mạng của người khác, gây đau thương mất mát cho gia đình người bị hại. Lỗi trong vụ án thuộc về bị cáo. Vì vậy cần phải có một hình phạt thích đáng để răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên về hành vi gây tai nạn cho người bị hại, bị cáo không là người trực tiếp gây tai nạn cho bị hại, khi bị cáo cho lùi xe từ trong Công ty nơi bị cáo làm việc đi ra Quốc lộ E để bắt đầu tham gia giao thông trên tuyến đường hướng về Vĩnh Long thì va chạm với xe bị hại, sau đó xe của bị hại mới va chạm với xe ô tô tải biển số 64C – 016.37 do anh Nguyễn Văn T2 điều khiển, gây thương tích cho bị hại dẫn đến bị hại tử vong. Bị cáo không mong muốn hậu quả xảy ra. Sau khi sự việc xảy ra bị cáo cũng đã cố gắng khắc phục bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để tuyên một mức án phù hợp đối với hành vi phạm tội của bị cáo.

[4]. Về tình tiết, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khắc phục bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại, sau khi xảy ra tai nạn bị cáo chủ động đưa bị hại đi cấp cứu, bản thân bị cáo có tham gia dân quân tự vệ tại địa phương, bị cáo có vợ và có 02 con nhỏ, là trụ cột lo kinh tế cho gia đình. Tại phiên tòa đại diện bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường xong cho gia đình bị hại , đại diện bị hại không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7]. Về vật chứng: Đã được xử lý trong quá trình điều tra và phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9.]. Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Trương Văn Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s, khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trương Văn Q 01 ( Một) năm 06 ( Sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (Ba) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trương Văn Q cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện L giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  1. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  2. Về trách nhiệm dân sự: Đã bồi thường xong, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  3. Về vật chứng: Không.
  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Trương Văn Q nộp 200.000 đồng ( Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

  1. Quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • -TAND Tỉnh Vĩnh Long;
  • -VKSND tỉnh Vĩnh Long;
  • -Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Long;
  • -VKSND huyện Long Hồ;
  • -CC THADS huyện Long Hồ;
  • -Công an huyện Long Hô;
  • -Phòng hồ sơ Công an tỉnh Vĩnh Long;
  • -UBND xã Long An -LH-VL;
  • -Bị cáo;
  • -Đại diện hợp pháp của bị hại;
  • -Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
  • -Đại diện hợp pháp của người có quyền lợi,
  • nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
  • -Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Võ Công Bằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2024/HS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 59/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger