|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐỐP TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 59/2024/HS-ST Ngày 23/8/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐỐP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Nghĩa
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Hồng.
- Bà Trần Thị Thúy Hằng
- Thư ký phiên tòa: ông Lý Văn Hơn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Thành Trung - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 56/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 08 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 08 năm 2024, đối với các bị cáo:
01/Họ và tên: Nguyễn Xuân H; sinh năm: 1995; giới tính: Nam;
Tên gọi khác: Úc
Nơi thường trú: thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.
Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không;
Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Không
Cha: Nguyễn Xuân D, Sinh năm: 1962;
Mẹ: Nguyễn Thị Kim T, Sinh năm: 1970, cùng nơi thường trú: thôn B, xã Đ, tỉnh Bình Phước.
Bị cáo có 02 người anh, lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 1992;
Tiền án:
- Ngày 07/8/2020 bị TAND huyện Bù Gia Mập xử phạt 09 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 40/HSST ngày 07/08/2020;
- Ngày 09/9/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 43/2022/HSST ngày 09/09/2022. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/5/2023.
Tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/4/2024 đến nay.
02/Họ và tên: Nguyễn Hoàng A; sinh năm: 1987; giới tính: Nam;
Tên gọi khác: Mèo
Nơi thường trú: thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.
Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa;
Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Không
Cha: Nguyễn Văn Đ, Sinh năm: 1963;
Mẹ: Phạm Thị B, Sinh năm: 1960, cùng nơi thường trú: thôn B, xã Đ, tỉnh Bình Phước.
Bị cáo có 05 người anh, chị em, lớn nhất sinh năm 1979, nhỏ nhất sinh năm 1994;
Tiền án:
- Ngày 28/09/2019 bị Tòa án nhân dân Quận 9, TP . xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội: "Trộm cắp tài sản" theo Bản án số: 40/2020 ngày 28/04/2020, Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/3/2023, chưa đóng án phí.
Tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/4/2024 cho đến nay.
-Bị hại:
- + Nông Văn K, sinh năm:1990 ( Có mặt)
- Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước.
- + Nguyễn Thị Q, sinh năm: 1981( vắng mặt)
- Địa chỉ: thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước.
-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- + Quách Quốc T1, sinh năm: 1965 ( vắng mặt do có đơn xin vắng mặt)
- Địa chỉ: khu phố T, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Phước.
- + Điểu H1, sinh năm 1994( vắng mặt)
- +Điểu Thị X, sinh năm: 2005 ( vắng mặt)
- Địa chỉ: ấp B, xã H, huyện B, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 19/4/2024, Nguyễn Hoàng A điều khiển xe mô tô hiệu Satria màu đỏ đen, không gắn biển kiểm soát chở theo Nguyễn Xuân H đi lòng vòng từ khu vực xã T đến khu vực xã T, huyện B nhằm mục đích trộm cắp tài sản. Khi đến đoạn đường đất thuộc ấp T, xã T, huyện B, H phát hiện 01 mô tô hiệu Yamaha loại xe Jupiter màu đen, biển kiểm soát: 93G1-159.28 dựng bên lề đường, trên gác ba ga xe có để một máy cưa hiệu STIHL màu cam nhưng không có người trông coi. Lúc này H nói Hoàng A dừng xe lại để H xuống lấy trộm máy cưa và được Hoàng A đồng ý. Khi Hoàng A dừng xe, H đi đến lấy trộm máy cưa rồi cùng Hoàng A chở đi tiêu thụ.
Khi chạy được 200m, phát hiện có người truy đuổi nên H vứt bỏ máy cưa xuống đường, Hoàng A và H tiếp tục bỏ chạy được khoảng 1,5km thì bị ngã xe và bị anh K, anh Q1 chạy đến bắt giữ, thông báo cho Công an xã T, huyện B đến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Ngoài vụ trộm nêu trên, Nguyễn Xuân H khai nhận còn cùng Nguyễn Đức P thực hiện 01 vụ trộm cắp tài sản tại xã P, huyện B,tỉnh Bình Phước, cụ thể như sau:
Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 08/01/2024, Nguyễn Xuân H điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu xám đen, biển biển kiểm soát: 93G1-273.87 chở phía sau Nguyễn Đức P đến điểm thu mua mủ cao su của nhà H ở Thôn B, xã P, huyện B. Khi đi ngang qua nhà chị Nguyễn Thị Q, H phát hiện trong sân nhà chị Q có để 01 xe đạp điện hiệu Asista BMN không có người trông coi nên nảy sinh ý định lấy trộm mang bán kiếm tiền tiêu xài. Ngay sau đó H chở Nguyễn Đức P quay lại và chạy vào sân nhà chị Q, phát hiện xe đạp điện bị hư không đi được nên H và P bê xe đạp điện bỏ lên yên xe mô tô rồi cùng chở đến tiệm thu mua phế liệu của anh Quách Quốc T1 ở khu phố T, TT T, huyện B bán được 400.000 đồng chia nhau tiêu xài
Tại kết luận định giá tài sản số 583/2024/KL-HĐĐGTS ngày 24/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự huyện B, xác định: 01 máy cưa hiệu STILL màu cam, loại MS-180 tại thời điểm ngày 19/4/2024 có giá trị là: 3.214.800 đồng (Ba triệu hai trăm mười bốn ngàn, tám trăm đồng)
Tại kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS ngày 24/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự huyện B xác định: Tại thời điểm ngày 08/01/2024, 01 xe đạp điện nhãn hiệu ASISTA BMM có giá trị là 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng)
Về vật chứng thu giữ trong vụ án gồm:
- + 01 xe đạp điện nhãn hiệu ASISTA BMM của bị hại Nguyễn Thị Quỳnh .
- + 01 đĩa CD bên trong lưu giữ clip video trích xuất từ camera an ninh nhà chị Nguyễn Thị Quỳnh .
- + 01 máy cưa hiệu STIHL màu cam, loại MS-180 của bị hại Nông Văn K.
- +01 xe mô tô hiệu Yamaha loại Sirius màu xám-đen, biển kiểm soát: 93G1-273.87 của chị Điểu Thị X ( chị X cho Điểu H1 mượn).
- + 01 xe mô tô hiệu Satria màu đỏ đen, có biển kiểm soát: 93H1-414.49 (nhưng không gắn vào xe mà để trong cốp xe), số khung: RLSDL11ANMV154584; số máy: CGA155440301 thu giữ của Nguyễn Hoàng A.
- + 01 Điện thoại di động hiệu Iphone, màu đen-trắng thu giữ của Nguyễn Hoàng A.
- +01 mũ bảo hiểm màu đen, 01 áo nam dài tay bằng vải màu đen và 01 quần dài nam bằng vải jean màu xanh đen thu giữ của Nguyễn Hoàng A.
- + 01 áo sơ mi nam dài tay màu xám trên áo có chữ SION OF THE TIME; 01 quần thun nam màu đen, 01 mũ bảo hiểm màu đen có lưỡi trai và 01 áo sơ mi nam dài tay, trên áo có nhiều đốm (hoa văn) màu đen và trắng quần jean lửng màu xám thu giữ của Nguyễn Xuân H.
- +01 Điện thoại di động hiệu Masstel màu đen và 01 điện thoại di động hiệu VIVO màu xanh-đen thu giữ của Nguyễn Xuân H.
- +01 Áo sơ mi dài tay có sọc trắng và 01 quần thun dài có sọc xanh bên hông thu giữ của Nguyễn Đức P;
- Trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Q đã nhận lại tài sản và tiền bồi thường theo yêu cầu nên không yêu cầu gì thêm.
Bị hại Nông Văn K đã nhận lại tài sản và tại phiên tòa yêu cầu 02 bị cáo bồi thường tiền sửa máy cưa là 1500.000đồng.
Tại bản cáo trạng số 54/CT-VKS ngày 05/08/20234 Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đốp đã truy tố bị các cáo Nguyễn Xuân H và Nguyễn Hoàng A về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- - Đại diện Viện kiểm sát thực hiện quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Xuân H và Nguyễn Hoàng A về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 17; 32; Điều 38; Điều 50, 58 điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân H mức án từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù.
- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 17; 32; Điều 38; Điều 50, 58 điểm s khoản 1 Điều 51;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng A mức án từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.
-Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nông Văn K yêu cầu các bị cáo bồi thường tiền sửa máy cưa là 1.500.000 đồng. Các bị cáo đồng ý mỗi bị cáo chịu ½ (750.000 đồng). Đề nghị ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị hại Nông Văn K và các bị cáo.
-Về vật chứng:
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
-Tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với 01 xe mô tô hiệu Satria màu đỏ đen, có biển kiểm soát: 93H1-414.49 (nhưng không gắn vào xe mà để trong cốp xe), số khung: RLSDL11ANMV154584; số máy: CGA155440301 thu giữ của Nguyễn Hoàng A;
-Tuyên trả:
- + 01 Điện thoại di động hiệu Iphone, màu đen-trắng cho Nguyễn Hoàng A.
- + 01 Điện thoại di động hiệu Masstel màu đen và điện thoại di động hiệu VIVO màu xanh-đen cho Nguyễn Xuân H
-Tuyên tịch thu tiêu hủy:
- +01 mũ bảo hiểm màu đen; 01 áo nam dài tay bằng vải màu đen và 01 quần dài nam bằng vải jean màu xanh đen thu giữ của Nguyễn Hoàng A.
- +01 áo sơ mi nam dài tay màu xám trên áo có chữ SION OF THE TIME; 01 quần thun nam màu đen, 01 mũ bảo hiểm màu đen có lưỡi trai và 01 áo sơ mi nam dài tay, trên áo có nhiều đốm (hoa văn) màu đen và trắng quần jean lửng màu xám thu giữ của Nguyễn Xuân H.
- + 01 Áo sơ mi dài tay có sọc trắng và 01 quần thun dài có sọc xanh bên hông thu giữ của Nguyễn Đức P.
- + Đối 01 đĩa CD bên trong lưu giữ clip video trích xuất từ camera an ninh nhà chị Nguyễn Thị Q được lưu giữ trong hồ sơ vụ án làm chứng cứ nên không đề cập xử lý.
-Đối với Nguyễn Đức P đã cùng Nguyễn Xuân H trộm cắp xe đạp điện của chị Nguyễn Thị Q, tuy nhiên giá trị tài sản dưới hai triệu đồng nên chưa đủ yếu tố cấu thành tội “trộm cắp tài sản” theo Điều 173 Bộ luật hình sự, vì vậy Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với P nên không đề cập xử lý.
-Đối với Quách Quốc T1 không biết xe đạp điện mua của Nguyễn Xuân H có nguồn gốc do phạm tội mà có nên không đề cập xử lý; Điểu H1 không biết H và P mượn xe mô tô đi trộm cắp tài sản nên không đề cập xử lý là có cơ sở.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đốp, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xét lời nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai người bị hại cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định: Do muốn có tiền tiêu xài một cách nhanh chóng mà không phải bỏ công sức ra lao động chân chính nên khoảng 11 giờ 30 phút ngày 19/4/2024, Nguyễn Hoàng A điều khiển xe mô tô hiệu Satria màu đỏ đen có biển kiểm soát: 93H1-414.49 (nhưng không gắn vào xe mà để trong cốp xe) chở Nguyễn Xuân H đi lòng vòng từ khu vực xã T đến khu vực ấp T, xã T, huyện B. Tại đây, H phát hiện 01 mô tô hiệu Yamaha loại xe Jupiter màu đen, biển kiểm soát: 93G1-159.28 dựng bên lề đường, trên gác ba ga xe có để một máy cưa hiệu STIHL màu cam nhưng không có người trông coi. H bảo Hoàng A dừng xe lại để H lấy trộm máy cưa và được Hoàng A đồng ý. H đi đến lấy trộm máy cưa rồi cùng Hoàng A tẩu thoát. Khi chạy được 200m, phát hiện có người truy đuổi nên H vứt bỏ máy cưa xuống đường, Hoàng A và H tiếp tục bỏ chạy được khoảng 1,5km thì bị ngã xe và bị anh Q1, anh K đuổi theo bắt giữ, thông báo cho Công an xã T, huyện B đến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại kết luận định giá tài sản số 583/2024/KL-HĐĐGTS ngày 24/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự huyện B, xác định: 01 máy cưa hiệu STILL màu cam, loại MS-180 tại thời điểm ngày 19/4/2024 có giá trị là: 3.214.800 đồng (Ba triệu hai trăm mười bốn ngàn, tám trăm đồng)
Ngoài ra bị cáo H còn khai nhận trước đó vào ngày 08/01/2024, bị cáo H điểu khiển xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu xám đen, biển kiểm soát: 93G1-273.87 chở Nguyễn Đức P đi ngang qua nhà chị Nguyễn Thị Q thuộc thôn B, xã P, huyện B lấy trộm 01 xe đạp điện của chị Q bỏ lên yên xe mô tô rồi cùng chở đến tiệm thu mua phế liệu của anh Quách Quốc T1 ở khu phố T, thị trấn T, huyện B bán được 400.000 đồng.
Tại kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS ngày 24/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện B xác định: Tại thời điểm ngày 08/01/2024, 01 xe đạp điện nhãn hiệu ASISTA BMM có giá trị là 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng), tuy số tiền này chưa đủ định lượng khởi tố bị cáo H
nhưng do bị cáo có một tiền án chưa được xóa án tích nên Cơ quan điều tra công an huyện B, tỉnh Bình Phước đã ra quyết định khởi vụ án số 19 ngày 21/02/2024 và khởi tố bị can số 43 ngày 21/02/2024 về tội “Trộm cắp tài sản” theo Điều 173 BLHS và ngày 19/06/2024 chuyển vụ án về Cơ quan điều tra công an huyện B theo quyết định nhập vụ án số 370A để cùng giải quyết trong vụ án này. Do vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự.
[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ; ngoài ra còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương. Các bị cáo ý thức được hành vi phạm tội của mình là sẽ bị pháp luật xử lý nghiêm nhưng vì mục đích tư lợi cá nhân nên các bị cáo đã cố ý thực hiện.
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự bàn bạc thống nhất trước. Trong đó, bị cáo H giữ vai trò chính là người trực tiếp thực hiện hành vi lấy trộm tài sản 02 lần, bị cáo Hoàng A thực hiện 01 lần với vai trò giúp sức. Do vậy bị cáo H phải chịu hình phạt cao hơn bị cáo Hoàng A.
[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Đối với bị cáo Nguyễn Xuân H phạm tội khi còn tiền án, cụ thể: Tại bản án số 43/2022/HSST ngày 09/09/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; bản án này bị cáo đã bị áp dụng tiết “tái phạm”.
Đối với bị cáo Nguyễn Hoàng A phạm tội khi còn tiền án, cụ thể: Tại bản án số: 40/2020/HSST bị Tòa án nhân dân Quận 9, TP . xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội: "Trộm cắp tài sản", bản án này bị cáo đã bị áp dụng tình tiết “tái phạm nguy hiểm”.
Do vậy lần phạm tội này các bị cáo phải chịu tình tiết định khung là “Tái phạm nguy hiểm” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo H còn phải chịu tình tiết tăng nặng là “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo có tình tiết giảm nhẹ như: “Thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo H có thêm tình tiết được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự do gia đình bồi thường thiệt hại cho một trong hai bị hại ( chị Nguyễn Thị Q).
Với phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có tù hạn để các bị cáo có điều kiện cải tạo, rèn luyện bản thân trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội cũng như để răng đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa, bị hại Nông Văn K yêu cầu các bị cáo bồi thường chi phí sửa máy cưa bị hỏng là 1500.000 đồng( mỗi bị cáo chịu ½) các bị cáo H và Hoàng A đồng ý. Xét thấy sự thỏa thuận này là tự nguyện, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với bị hại Nguyễn Thị Q trong quá trình điều tra, gia đình bị cáo H đã bồi thường và tài sản cũng được trả lại, chị Q không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: anh Quách Quốc T1 không yêu cầu các bị cáo trả lại 400.000 đồng nên Hội đồng xét xử không xét.
Chị Điểu Thị X và anh Điểu H1 đã nhận lại tài sản là chiếc xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu xám đen, biển kiểm soát: 93G1-273.87(xe chị X cho anh H1 mượn, anh H1 cho H với Phước mượn) nên Hội đồng xét xử không xét.
[6] Về vật chứng:
- +Đối với 01 xe mô tô hiệu Satria màu đỏ đen, có biển kiểm soát: 93H1-414.49 (nhưng không gắn vào xe mà để trong cốp xe), số khung: RLSDL11ANMV154584; số máy: CGA155440301 của Nguyễn Hoàng A dùng làm phương tiện phạm tội, cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- + Đối với 01 Điện thoại di động hiệu Iphone, màu đen-trắng là tài sản cá nhân của Nguyễn Hoàng A không liên quan trong quá trình phạm tội, cần tuyên trả lại cho Nguyễn Hoàng A.
- + Đối với 01 Điện thoại di động hiệu Masstel màu đen và 01 điện thoại di động hiệu VIVO màu xanh-đen là tài sản cá nhân của Nguyễn Xuân H không liên quan trong quá trình phạm tội, cần tuyên trả lại cho Nguyễn Xuân H.
- +Đối với 01 mũ bảo hiểm màu đen; 01 áo nam dài tay bằng vải màu đen và 01 quần dài nam bằng vải jean màu xanh đen thu giữ của Nguyễn Hoàng A nhưng đã qua sử dụng, bị cáo không yêu cầu nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
- +Đối với 01 áo sơ mi nam dài tay màu xám trên áo có chữ SION OF THE TIME; 01 quần thun nam màu đen, 01 mũ bảo hiểm màu đen có lưỡi trai và 01 áo sơ mi nam dài tay, trên áo có nhiều đốm (hoa văn) màu đen và trắng quần jean lửng màu xám thu giữ của Nguyễn Xuân H nhưng đã qua sử dụng, bị cáo không yêu cầu nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
- + Đối với 01 Áo sơ mi dài tay có sọc trắng và 01 quần thun dài có sọc xanh bên hông thu giữ của Nguyễn Đức P nhưng đã qua sử dụng, anh P không yêu cầu nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
- +Đối với 01 đĩa CD bên trong lưu giữ clip video trích xuất từ camera an ninh nhà chị Nguyễn Thị Q, dùng làm chứng cứ lưu hồ sơ vụ án. Do vậy Hội đồng xét xử không xét.
- -Đối với Nguyễn Đức P đã có hành vi cùng Nguyễn Xuân H trộm cắp xe đạp điện của chị Nguyễn Thị Q, tuy nhiên giá trị tài sản dưới hai triệu đồng nên chưa đủ
yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 Bộ luật hình sự, vì vậy Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với P nên không đề cập xử lý là có cơ sở.
-Về hành vi Quách Quốc T1 mua xe đạp điện của Nguyễn Xuân H có nguồn gốc phạm tội mà có, T1 không biết do H trộm cắp nên không đề cập xử lý là có cơ sở.
- Đối với việc Điểu H1 cho Nguyễn Xuân H và Nguyễn Đức P mượn xe, Điểu H1 không biết H và P mượn xe mô tô đi trộm cắp tài sản nên không đề cập xử lý là có cơ sở.
[7] Quan điểm của Kiểm sát viên về tội danh, hình phạt đối với các bị cáo là có căn cứ, phù hợp với qui định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Về tội danh và hình phạt:
-Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân H và Nguyễn Hoàng A phạm tội “Trộm cắp tài sản".
-Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 173, 17, 32, 38, 50, 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân H 04 (Bốn) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam (19/4/2024).
- Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 173, 17, 32, 38, 50, 58; điểm s khoản 1 Điều 51;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng A 04 (B1) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam (19/4/2024)
Tiếp tục tạm giam các bị cáo để đảm bảo thi hành án.
2.Về trách nhiệm dân sự:
-Áp dụng: Điều 584, khoản 1 Điều 586, 589 Bộ luật dân sự; Điều 48 Bộ luật hình sự;
Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị hại Nông Văn K với các bị cáo Nguyễn Xuân H và Nguyễn Hoàng A; Các bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Nông Văn K số tiền 1.500.000 đồng( Một triệu năm trăm nghìn đồng) mỗi bị cáo phải chịu ½( 750.000đồng).
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
3.Về vật chứng:
-Áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
+Tuyên tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô hiệu Satria màu đỏ đen, có biển kiểm soát: 93H1-414.49 số khung: RLSDL11ANMV154584, số máy: CGA155440301 của Nguyễn Hoàng A.
+T2 trả lại cho Nguyễn Hoàng A 01 Điện thoại di động hiệu Iphone, màu đen-trắng;
+Tuyên trả lại cho Nguyễn Xuân H 01 Điện thoại di động hiệu Masstel màu đen và 01 điện thoại di động hiệu VIVO màu xanh-đen.
+T2 tịch thu tiêu hủy 01 áo sơ mi nam dài tay màu xám trên áo có chữ SION OF THE TIME, 01 quần thun nam màu đen, 01 mũ bảo hiểm màu đen có lưỡi trai và 01 áo sơ mi nam dài tay, trên áo có nhiều đốm (hoa văn) màu đen và trắng, 01 quần jean lửng màu xám thu giữ của Nguyễn Xuân H.
+Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm màu đen, 01 áo nam dài tay bằng vải màu đen và 01 quần dài nam bằng vải jean màu xanh đen thu giữ của Nguyễn Hoàng A.
+Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 áo sơ mi dài tay có sọc trắng và 01 quần thun dài có sọc xanh bên hông thu giữ của nguyễn Đức P.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 0007935 ngày 02/08/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đốp).
4.Về án phí:
-Áp dụng: Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Nguyễn Thị Minh Nghĩa |
Bản án số 59/2024/HS-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐỐP, TỈNH BÌNH PHƯỚC về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 59/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐỐP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
