Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ PHÚ MỸ

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2024/HS-ST

Ngày: 15-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Hoàng Bảo Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Bạch Gương

2. Ông Nguyễn Thế Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Phú Mỹ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 58/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn N, (tên gọi khác: Không) sinh năm 2002 tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nơi cư trú: Ấp B, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tư K (đã chết) và bà Trương Thị Hồng V, sinh năm 1965; Gia đình bị cáo có 02 người con, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình. Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/11/2023 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt tại phiên tòa).

2. Họ và tên: Nguyễn Thanh K1, (tên gọi khác: Không), sinh năm 2004 tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nơi cư trú: Ấp C, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1970 và bà Võ Thị N1, sinh năm 1978; Gia đình bị cáo có 04 người con, bị cáo là con thứ tư trong gia đình. Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/11/2023 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt tại phiên tòa).

2

3. Họ và tên: Nguyễn Gia Đ, (tên gọi khác: Không) sinh năm 2005 tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nơi cư trú: Ấp D, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh V1 và bà Nguyễn Thị Mỹ D; Gia đình bị cáo có 02 người con, bị cáo là con thứ hai trong gia đình. Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/11/2023 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Ông Trần Lương Trọng N2, sinh năm 1977; Cư trú tại: Khu phố C, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị Mỹ T, sinh năm 1995; cư trú tại: Áp A, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)

- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thảo N3, sinh năm 2001; (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp B, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tạ Thị Uyên T1 có quan hệ quen biết với chị Lê Thị Mỹ T và anh Trần Lương T2. Do T1 và T có mâu thuẫn với nhau nên vào ngày 13/7/2023 anh N2 đã rủ chị T và T1 đến quán “Hùng Ký”, địa chỉ: ấp B, xã T, thị xã P, tỉnh BR-VT, cùng nhậu và tạo điều kiện cho cả hai giảng hòa với nhau. T1 và Tiên đồng ý. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, anh N2 và chị T, chồng của chị T và chị Nguyễn T3 - là bạn của chị T4 cùng đến quán “Hùng Ký" để nhậu. Sau khi nhậu được một lúc thì chồng chị T bận công việc nên về trước, chỉ còn anh N2, chị T và chị N3 cùng ngồi nhậu với nhau. Cả ba người vừa nhậu vừa đợi T1 ra, anh N2 đã gọi điện cho T1 nhưng T1 vẫn không ra quán, sau đó T1 nhắn cho anh N2 nội dung “Anh kêu tôi ra để cho tụi nó đánh tôi hay gì” nên giữa anh N2 và T1 đã mâu thuẫn với nhau.

Về phía T1: Khi anh N2 rủ đến quán “Hùng Ký” để giảng hòa với T thì lúc đầu T1 đồng ý nên gọi điện qua ứng dụng Messenger cho Nguyễn N và Nguyễn Thanh K1 kể về mâu thuẫn với T cùng việc anh N2 rủ T1 ra quán N4 và rủ N, K1 đi cùng. Cả hai đồng ý. N rủ thêm Nguyễn Gia Đ cùng đi thì Đ đồng ý. Sau đó N điều khiển xe mô tô BKS: 7261-885.74 (trong cốp xe có 01 cây ba khúc) chạy đến nhà Đ. Khi N đang ở nhà Đ thì T1 tiếp tục gọi cho N, K1 nói rằng nhóm chị T đang lừa T1 ra để đánh, không phải giảng hòa và nhờ N, K1 đi đánh nhóm T. Nguyên và K1 tiếp tục đồng ý. Sau khi nghe T1 nhờ đi đánh nhóm T thì N nói lại với Đ và rù Đ đi cùng. Đ đồng ý nên cầm theo 01 khúc gỗ

3

rồi lên xe và nói N chạy đến đơn K1 để đi cùng (Đ và K1 có quan hệ quen biết với nhau).

Còn Nguyễn Thanh K1: sau khi được T1 nhờ đi đánh nhóm chị T, K1 đồng ý và nói T1 kêu người đến đón thì T1 nói có N đến chở K1 đi. Sau đó, K1 vào trong nhà lấy 01 đoạn tuýp sắt đợi nhóm N đến. Một lúc sau, N và Đ đi xe mô tô đến nhà K1 chờ K1. Cả ba cũng đi đến quán “H1 kỳ", trên đường đi Đ chỉ đường cho N đến khu vực bụi cây nơi chòi cá của nhà Đ để đổi khúc cây gỗ lấy con dao tự chế mang đi đánh nhau. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, N, K1, Đ đi ngang qua quán "Hùng Ký" thì nhìn thấy trong quán chỉ có duy nhất một nhóm 03 người đang ngồi nhậu nên N điều khiển xe đến khu vực chờ xe buýt trước cổng Trường C rồi gọi điện cho T1 nói đã đến thì T1 cho biết nhóm chị T vẫn đang ngồi nhậu trong quán. Nghe vậy, N chắc chắn nhóm 3 người đang ngồi trong quán là nhóm chị T nên gọi lại hỏi T1 có tiếp tục đánh nhóm của chị T không hay đợi T1 đến giải quyết. T1 nói N đánh nhóm chị T, còn T1 không đến. Nhóm Nguyên ngồi chờ một lúc thì nhóm chị T nhậu xong và lấy xe mô tô đi về. Lúc này, anh N2 điều khiển xe chở chị T, chị N đi xe một mình. Thấy vậy, N điều khiển xe chạy theo đến gần khu vực cây xăng T thuộc ấp B, xã T, thị xã P, tỉnh BR - VT thì N ép 02 xe của nhóm chị T dừng lại. Sau đó, K1 dùng cây sắt, Đ dùng dao tự chế, N lấy dưới yên xe ra 01 cây gậy ba khúc rồi lao đến đánh trúng vào vai trái, bàn tay trái, khuỷu tay phải của anh N2. Bị đánh nên anh N2 bỏ chạy, nhóm N đuổi theo nhưng không kịp nên quay lại lấy xe thì thấy chị T đang đứng ở đó và biết chị T chính là người có mâu thuẫn với T1 nên N và K1 đã dùng tay tát vào mặt chị T rồi lên xe bỏ đi. Anh N2 được chị T đưa về nhà, đến sáng ngày 14/7/2023 thì anh N2 được anh Nguyễn Văn H2 đưa đi điều trị vết thương tại Bệnh viện B. Qua trình điều tra, Nguyễn N, Nguyễn Thanh K1, Nguyễn Gia Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 386/KL ngày 18/9/2023 của Trung Tâm Pháp y tỉnh B-VT, kết luận:

1. Các kết quả chính:

  • - Kết quả khám giám định: 03 sẹo trung bình.
  • - Kết quả cận lâm sàng: Gãy xương bản IV, V bản tay trái (còn định kết hợp xương).

2. Kết luận:

  • - Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Lương Trọng N2 tại thời điểm giám định là: 15%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
  • - Vật tác động là gì, cơ chế hình thành vết thương:

4

  • + Thương tích 1, 2: Được gây ra do sự tác động tương hỗ bởi vật cứng có cạnh sắc, tác động với lực tác động mạnh vào vị trí thương tích theo chiều hướng từ sau ra trước.
  • + Thương tích 3: Phù hợp với tổn thương cơ bản là “Vết chém hay băm bổ", được gây ra do sự tác động của vật có diện rộng hoặc có trọng lượng lớn tác động với lực mạnh vào cơ thể như dao rựa, dao phay, búa, rìu, tác động vào vị trí thương tích theo chiều hướng sau ra trước.

Tại Cáo trạng số 56/CT-VKS-PM ngày 18/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã truy tố Nguyễn N, Nguyễn Thanh K1, Nguyễn Gia Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích”; đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Buộc bị cáo Nguyễn N phải chấp hành hình phạt từ 18 đến 24 tháng tù;

Buộc bị cáo Nguyễn Thanh K1 phải chấp hành hình phạt từ 15 đến 18 tháng tù;

Buộc bị cáo Nguyễn Gia Đ phải chấp hành hình phạt từ 15 đến 18 tháng tù.

Xử lý vật chứng:

Tuyên tịch thu sung công 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki 150, màu xanh đen, BKS: 72E1-885.74.; 01 điện thoại di động hiệu Realme, màu đen; 01 điện thoại di động hiệu Vsmart, màu tím; 01 điện thoại di dộng hiệu Iphone 12 Promax, màu xám;

Tuyên tịch thu tiêu huỷ: 01 cây bằng kim loại màu trắng, hình trụ dài 65cm, đường kính 02cm; 01 con dao tự chế bằng kim loại dài 94cm, phần lưỡi dài 50cm, phần cán dao dài 44cm đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật. Đối với 01 cây ba khúc: quá trình điều tra không thu giữ được nên không xem xét giải quyết.

Về trách nhiệm dân sự:

Gia đình bị cáo Nguyễn N, Nguyễn Thanh K1, Nguyễn Gia Đ đã bồi thường cho anh Trần Lương Trọng N2 số tiền 60.000.000 đồng, bồi thường cho chị Lê Thị Mỹ T số tiền 12.000.000 đồng. Anh N2 và chị T đã nhận tiền và không yêu cầu gì thêm.

Bị cáo Nguyễn N, Nguyễn Thanh K1, Nguyễn Gia Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng truy tố.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

5

[1] Về tố tụng: Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Qua xem xét toàn bộ hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử thấy rằng trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Điều tra và Viện kiểm sát đã tuân thủ nghiêm thủ tục tố tụng trong việc thu thập chứng cứ theo quy định tại các điều 88, 98, 105 Bộ luật Tố tụng hình sự; Quá trình điều tra không có bức cung, nhục hình. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án và tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai bị hại cũng như các lài tiệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, do vậy đủ căn cứ kết luận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 13/7/2023 tại ấp B, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Nguyễn N, Nguyễn Thanh K1, Nguyễn Gia Đ đã có hành vi sử dụng 01 cây ba khúc, 01 cây tuýp sắt và 01 con dao tự chế chém vào người anh Trần Lương Trọng N2. Hậu quả: anh N2 bị thương tích 15%. Do đó hành vi của Nguyễn N, Nguyễn Thanh K1, Nguyễn Gia Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ đối với hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, ngoài ra còn tác động xấu đến tình hình trật tự, trị an ở địa phương. Các bị cáo là người trưởng thành, nhận thức được hành vi Cố ý gây thương tích là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Vì vậy, cần phải xử phạt các bị cáo nghiêm minh trước pháp luật, nhằm giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ngoài ra các bị cáo đã bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây ra và được bị hại làm đơn xin giảm nhẹ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo Nguyễn N, Nguyễn Thanh K1, Nguyễn Gia Đ đã bồi thường cho anh Trần Lương Trọng N2 số tiền 60.000.000 đồng, bồi thường cho chị Lê Thị Mỹ T số tiền 12.000.000 đồng. Anh N2 và chị T đã nhận tiền và không yêu cầu gì thêm.

[8] Về xử lý vật chứng:

6

Do là công cụ phương tiện phạm tội nên tuyên tịch thu sung công đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki 150, màu xanh đen, BKS: 72E1-885.74; 01 điện thoại di động hiệu Realme, màu đen; 01 điện thoại di động hiệu Vsmart, màu tím; 01 điện thoại di dộng hiệu Iphone 12 Promax, màu xám;

Tuyên tịch thu tiêu huỷ đối với 01 cây bằng kim loại màu trắng, hình trụ dài 65cm, đường kính 02cm; 01 con dao tự chế bằng kim loại dài 94cm, phần lưỡi dài 50cm, phần cán dao dài 44cm.

Đối với 01 cây ba khúc: quá trình điều tra không thu giữ được nên không xem xét giải quyết.

[9] Về vấn đề khác:

Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, Tạ Thị Uyên T1 đã bỏ trốn khỏi địa phương và bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã P truy nã. Vì vậy khi nào bắt được T1 sẽ điều tra, truy tố, xét xử sau.

Đối với việc chị Lê Thị Mỹ T bị Nguyễn NNguyễn Thành K2 dùng tay đánh nhưng do không gây thương tích và chị T không yêu cầu xem xét xử lý đối với hành vi trên nên không xem xét giải quyết.

[10] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn N, Nguyễn Thanh K1, Nguyễn Gia Đ, phạm tội “Cố ý gây thương tích”

2. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự;

  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/11/2023.
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh K1 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/11/2023.
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Gia Đ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/11/2023.

3. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên không xem xét.

4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 cây bằng kim loại màu trắng, hình trụ dài 65cm, đường kính 02cm; 01 dao tự chế bằng kim loại màu trắng dài 94cm phần cán dao hình trụ tròn dài 44cm, được hàn với lưỡi dao dài 50cm, mũi nhọn.

7

  • - Tuyên tịch thu sung công: 01 Xe mô tô hai bánh hiệu Suzuki, số loại Raider, màu xanh đen, biển số 72E1 – 885.74, số máy: CGA 1570026, số khung: RLSDL11ANNV170061, xe đã cũ; 01 điện thoại di động hiệu Realme, màu đen; 01 điện thoại di động hiệu Vsmart, màu tím, số Imel 1: 353442110789804, số Imel 2: 353442110789812, máy đã cũ; 01 Điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu xám, máy đã bị khoá nên không kích hoạt được để tìm số Imel, mặt sau và camera bị nứt, vỏ máy đã cũ không hoạt động.

(Toàn bộ vật chứng trên đang được quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số 74/BB-CCTHADS ngày 18/3/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Phú Mỹ).

5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn N, Nguyễn Thanh K1, Nguyễn Gia Đ mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt, thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh BÀ RỊA-VŨNG TÀU ;
  • - VKSND tỉnh BÀ RỊA-VŨNG TÀU ;
  • - Sở Tư pháp tỉnh BÀ RỊA-VŨNG TÀU ;
  • - PV 06, Công an tỉnh BÀ RỊA-VŨNG TÀU;
  • - VKSND TX.Phú Mỹ;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TX.Phú Mỹ;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TX.Phú Mỹ;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Bảo Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2024/HS-ST ngày 15/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 59/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tòa tuyên các bị cáo Nguyễn N, Nguyễn Thanh K1, Nguyễn Gia Đ phạm tội cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger