Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HƯNG HÀ

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2024/HS-ST

Ngày 20-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đinh Trọng Thanh
  2. Bà Vũ Thị Khánh Hòa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Trường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Hà Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2024/QĐXXST-HS, ngày 07 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:

Chu Sỹ Đ, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1961, tại huyện H, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn T, xã V, huyện H, tỉnh Thái Bình; Nơi ở hiện nay: Thôn G, xã V, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Chu Sỹ Đ1 và bà Vũ Thị T (đều đã chết); có vợ là chị Đỗ Thị D, sinh năm 1963; có 02 con, con lớn sinh năm 1989, con nhỏ sinh năm 1992; Gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ hai. Nhân thân: Năm 1981 tham gia Q đến năm 1985 xuất ngũ. Là Đảng viên Đ2, bị đình chỉ sinh hoạt đảng ngày 16-5-2024. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 13-3-2024, hiện tại ngoại - có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Đỗ Xuân M, sinh năm 1978; Nơi cư trú: Thôn T, xã V, huyện H, tỉnh Thái Bình; Nơi ở hiện nay: Thôn G, xã V, huyện H, tỉnh Thái Bình (có mặt).

- Những người làm chứng:

  1. Chị Nguyễn Thị D1, sinh năm 1980 (có mặt);
  2. Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1985 (vắng mặt);
  3. Anh Đỗ Xuân T2, sinh năm 2005 (vắng mặt);

Đều cư trú: Thôn G, xã V, huyện H, tỉnh Thái Bình.

  1. Anh Vũ Xuân L, sinh năm 1969; Nơi cư trú: Thôn T, xã V, huyện H, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do có mâu thuẫn từ trước về việc anh M làm nghề rửa xe thường xuyên dùng vòi nước xịt, rửa xe, rửa đường nên làm đọng rác, lá cây và bùn đất trước cửa nhà bị cáo Đ. Đã nhiều lần Điệm nhắc nhở nhưng anh M không có biện pháp khắc phục tình trạng trên. Khoảng 6 giờ 30 phút ngày 30-5-2023, tại đường Đ thuộc địa phận thôn G, xã V, huyện H, tỉnh Thái Bình, anh M dùng vòi nước xịt, rửa đường làm rác, lá cây và bùn đất trôi vào sân nhà bị cáo Đ, hai bên lời qua, tiếng lại, cãi chửi nhau dẫn đến xô xát. Bị cáo Đ dùng tay phải đấm liên tiếp 03 nhát trúng vào vùng thái dương bên trái (sau tai) của anh M làm rách da chảy máu, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 1%. Anh M tiếp tục cầm vòi nước xịt về phía bị cáo Đ, bị bị cáo Đ dùng hai tay đẩy vào người M làm anh M ngã đập đầu gối trái xuống nền sân bê tông, bị vỡ xương bánh chè trái, rách sụn chêm trong gối trái, đứt dây chằng chéo trước gối trái, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 26%. Sau khi sự việc xảy ra, anh M được người nhà đưa đi sơ cứu tại Trạm y tế xã V, huyện H; sau đó đi khám và điều trị tại các bệnh viện: Bệnh viện Đ3, Thái Bình; Bệnh viện H1, thành phố Hà Nội; Bệnh viện đa khoa tỉnh T và phòng khám Đ4, thành phố Hà Nội.

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 9459/KL-KTHS ngày 29/01/2024 của V Bộ C, kết luận: Sẹo vùng thái dương trái, kích thước nhỏ: 01%. Vỡ xương bánh chè trái trong bao khớp, can liền tốt, không di lệch: 02%; đứt dây chằng chéo trước bên trái điều trị phục hồi tốt: 11%; rách sụn chêm trong bên trái: 16%; áp dụng phương pháp xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể quy định tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Đỗ Xuân M tại thời điểm giám định là: 27%. Cơ chế hình thành thương tích của anh Đỗ Xuân M: tổn thương vùng thái dương trái do vật có diện tiếp xúc hẹp gây nên; tổn thương vùng gối trái do vật tày gây nên.

Bản cáo trạng số 59/CT-KSHH ngày 15-5-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Chu Sỹ Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự .

Tại phiên toà:

Bị cáo Chu Sỹ Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án và nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo xác định thương tích của anh M là do bị cáo gây nên. Bị cáo đã bồi thường cho anh M số tiền là 118.000.000 đồng để chữa trị thương tích.

Bị hại anh M trình bày: Vào sáng ngày 30-5-2023, anh có xịt nước để rửa đường vì nhà hàng xóm nhà anh làm nhà có đọng cát và bụi. Bị cáo Đ ra nhắc nhở anh, hai bên lời qua tiếng lại sau đó bị cáo Đ dùng tay đấm anh 03 nhát vào má và thái dương, anh cầm vòi xịt định quay lại để rửa trả phần đường nhà bị cáo Đ thì bị cáo Đ đẩy anh ngã xuống nền sân bê tông nhà anh T3. Sau đó anh được gia đình đưa đi điều trị, anh xác định thương tích của anh do bị cáo Đ gây ra. Về trách nhiệm dân sự, bị cáo Đ đã bồi thường cho anh số tiền 118.000.000 đồng để chữa trị thương tích. Anh không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm khoản tiền nào khác.

Người làm chứng chị D1 trình bày: Vào sáng ngày 30-5-2023, chị đang ở nhà thì chị T1 hàng xóm gọi chị thông báo với chị nội dung bị cáo Đ và chồng chị là anh M xảy ra xô xát, chị chạy ra thì bị cáo Đ đang đi về, anh M đang nằm trên sân trước bê tông, chị thấy anh M bị chảy máu ở sau tai nên đã đưa anh M đi chữa trị.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Chu Sỹ Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) tuyên bố bị cáo Chu Sỹ Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 38 khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Chu Sỹ Đ từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng. Giao bị cáo cho UBND xã V giám sát, giáo dục trong thời gian thủ thách. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện giữa bị cáo và bị hại về việc bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 118.000.000 đồng để chữa trị thương tích . Bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản tiền nào khác.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐX tuyên tịch thu để lưu hồ sơ vụ án 01 chiếc USB; Về án phí, bị cáo là người cao tuổi nên miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận.

Bị hại tranh luận đề nghị áp dụng tình tiết có tính chất côn đồ theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 134 đối với bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát đối đáp: Qua bản tự khai, lời khai của bị cáo, bị hại, những người làm chứng và đánh giá nguyên nhân dẫn đến hành vi gây thương tích của bị cáo đối với bị hại, đại diện Viện kiểm sát thấy do có mâu thuẫn từ trước giữa bị cáo với bị hại nên mới xảy ra sự việc sáng ngày 30-5-2023 sau khi hai bên có lời qua tiếng lại với nhau và bị cáo đã dùng tay để đấm và đẩy bị hại ngã, gây thương tích cho bị hại nên hành vi này của bị cáo không có tính chất côn đồ. Vì vậy đại diện viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm luận tội.

Bị cáo nói lời nói sau cùng đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương và hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Những người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Xét thấy tại giai đoạn điều tra họ đã có lời khai đầy đủ nên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử, vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về chứng cứ xác định có tội: Lời khai của bị cáo Chu Sỹ Đ tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ sau: Đơn trình báo và lời khai của bị hại anh Đỗ Xuân M; Biên bản kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc, sơ đồ hiện trường và bản ảnh do Công an xã V, huyện H lập ngày 07-9-2023; Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H lập ngày 13-12-2023; Biên bản xác minh thương tích ban đầu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H lập ngày 21-12-2023; Biên bản xác minh tình trạng thương tích khi vào viện của anh Đỗ Xuân M do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H ngày 22-12-2023 và Giấy chứng nhận thương tích ngày 20-9-2023 của Bệnh viện đa khoa Lâm Hoa Hưng H đối với anh Đỗ Xuân M; Giấy chứng nhận thương tích ngày 09-11-2023 của Bệnh viện đa khoa tỉnh T đối với anh Đỗ Xuân M; Giấy chứng thương ngày 21-9-2023 của Bệnh viện H1 đối với anh Đỗ Xuân M; Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 9459/KL-KTHS ngày 29-01-2024 của V Bộ C; Công văn số 582/C09-TT1 ngày 04-3-2024 của V Bộ C; Biên bản thu thập, kiểm tra, trích xuất hình ảnh dữ liệu camera và Bản ảnh do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H ngày 09-3-2024; Lời khai của những người làm chứng chị Nguyễn Thị D1; anh Vũ Xuân L; chị Nguyễn Thị T1; anh Đỗ Xuân T2 cùng toàn bộ các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Hồi 16 giờ 30 phút ngày 30-5-2023, tại đường ĐH60 thuộc địa phận thôn G, xã V, huyện H, tỉnh Thái Bình; bị cáo Chu Sỹ Đ có hành vi dùng tay phải đấm 03 nhát vào vùng thái dương trái (sau tai) anh Đỗ Xuân M làm anh M bị rách da chảy máu và dùng tay đẩy anh M ngã đập đầu gối trái xuống nền bê tông làm anh M bị vỡ xương bánh chè trái, rách sụn chêm trong gối trái, đứt dây chằng chéo trước gối trái. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với anh M là 27%.

Hành vi nêu trên của bị cáo Chu Sỹ Đ đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Tội phạm và hình phạt được quy định như sau:

“Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

  • Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
  • Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;
  • Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
  • Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;
  • Có tổ chức;
  • Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
  • Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
  • Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;
  • Có tính chất côn đồ;
  • Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Chu Sỹ Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Đối với đề nghị của bị hại về việc áp dụng tình tiết côn đồ theo điểm i khoản 1 Điều 134 đối với bị cáo, HĐXX thấy: Qua bản tự khai, lời khai của bị cáo, bị hại, người làm chứng và đánh giá đánh giá nhân thân của bị cáo thấy bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự; nguyên nhân dẫn đến hành vi gây thương tích của bị cáo đối với bị hại, do có mâu thuẫn từ trước giữa bị cáo với bị hại nên mới xảy ra sự việc sáng ngày 30-5-2023 sau khi hai bên có lời qua tiếng lại với nhau, bị cáo đã dùng tay để đấm và đẩy bị hại ngã, gây thương tích cho bị hại. Theo tinh thần của công văn hướng dẫn số 38/NCPL, ngày 06-01-1976 của Tòa án nhân dân tối cao thì hành vi này của bị cáo không có tính chất côn đồ. Vì vậy đề nghị này của bị hại là không có căn cứ chấp nhận.

[5] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng đối với hành vi phạm tội của bị cáo HĐXX thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền được bảo vệ về sức khỏe. Tội phạm mà bị cáo thực hiện thuộc loại tội ít nghiêm trọng.

[6] Về các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, HĐXX thấy: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo; bị cáo có thời gian tham gia Q nên bị cáo được áp dụng 04 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; lần đầu phạm tội, có nơi cư trú rõ ràng và có khả năng tự cải tạo bản thân do đó không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng có tác dụng giáo dục và cũng thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

[7] Về trách nhiệm bồi thường: Trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và bị hại đã thỏa thuận việc bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền là 118.000.000 đồng để chữa trị thương tích cho bị hại, bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản tiền nào khác. Xét thấy sự thỏa thuận này là tự nguyện, không trái pháp luật nên cần ghi nhận.

[8] Về vật chứng của vụ án: Trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu giữ 01 chiếc USB được niêm phong trong phong bì kèm theo hồ sơ vụ án, đây là tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án vì vậy cần lưu tại hồ sơ vụ án.

[9] Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà là phù hợp nên cần chấp nhận.

[10] Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi nên miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Chu Sỹ Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 134; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Chu Sỹ Đ 01 (một) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã V, huyện H, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

  1. Về trách nhiệm bồi thường: Áp dụng các Điều 584, Điều 585, Điều 586 Bộ luật Dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo người bị hại về việc bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại số tiền chữa trị thương tích là 118.000.000 đồng (Một trăm mười tám triệu đồng), bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản nào tiền khác.
  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu lưu hồ sơ vụ án 01 chiếc USB được niêm phong trong phong bì tại hồ sơ vụ án.
  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Chu Sỹ Đ.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Tòa án ND tỉnh Thái Bình;
  • - Công an huyện Hưng Hà;
  • - Viện kiểm sát ND tỉnh Thái Bình;
  • - Viện kiểm sát ND huyện Hưng Hà;
  • - Chi cục THADS huyện Hưng Hà;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(đã ký)

Nguyễn Bích Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2024/HS-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 59/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Chu Sy Đ phạm tội Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger