Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2024/HS-ST

Ngày: 16 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thu Hiền

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Đình Đậu

2. Ông Lê Anh Dũng

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Trung Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thanh Vân - Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa.

Ngày 16 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 52/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024 và theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 53/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Tiến K - sinh ngày 20 tháng 5 năm 1977 tại thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Nơi ĐKHKTT: Khu H, xã Đ, huyện Y, tỉnh Phú Thọ; Chỗ ở hiện nay: Không xác định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn É, sinh năm 1947 và bà Đinh Thị T, sinh năm 1950; bị cáo có vợ là Đặng Thị Thanh L, sinh năm 1983 và 3 con, con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án: Không; tiền sự: 01 tiền sự: Quyết định số 04/QĐ-TA ngày 05/02/2021 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Tiến K. Khanh chấp hành xong ngày 06/02/2023; nhân thân: Bản án số 173/2012/HSST ngày 20/7/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì xử phạt Nguyễn Tiến K 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/6/2014. Nộp án phí ngày 20/7/2012. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 08/01/2024 đến ngày 14/01/2024, chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P. (Có mặt).

2. Lê Trung K1 - sinh ngày 05 tháng 12 năm 1987 tại huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn C, xã B, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Lê Trung H, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1957; bị cáo có vợ là Dương Thị T2, sinh năm 1988 (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2013; tiền án: Không; tiền sự: 01 tiền sự: Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 18/QĐ-TA ngày 28/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc đối với Lê Trung K1. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Khương chưa thi hành; nhân thân: Bản án số 34/2020/HS-ST ngày 10/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Lê Trung K1 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/5/2021. Nộp án phí ngày 28/7/2020. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 08/01/2024 đến ngày 14/01/2024, chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P. (Có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Tiến K: Ông Bùi Đức D - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P. (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 09 giờ 50 phút ngày 08/01/2024, Tổ công tác của Công an thành phố V đang làm nhiệm vụ tại tổ B, phố T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ phát hiện 01 người đàn ông có biểu hiện vi phạm pháp luật. Tổ công tác tiến hành kiểm tra, người đàn ông tự khai nhận họ tên là Nguyễn Tiến K. Quá trình kiểm tra, K tự giác giao nộp cho tổ công tác 02 gói nilon có đặc điểm là 02 gói nilon màu trắng, bên trong cả 02 gói đều có chứa chất bột cục màu trắng được cất giấu trong túi áo bên trái phía trước K đang mặc mục đích cất giấu để sử dụng cho bản thân. Tại chỗ, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với K, thu giữ và niêm phong 02 gói ma tuý có đặc điểm như đã nêu trên theo quy định. Ngoài ra còn thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen, đã cũ, số IMEI: 358408/04/754068/5, kèm 01 sim số 0398231780 và tiền Việt Nam: 40.000đ (Bốn mươi nghìn đồng).

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ khi bị bắt quả tang, Nguyễn Tiến K khai nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma túy khoảng gần 8 giờ ngày 08/01/2024, Nguyễn Tiến K dùng điện thoại di động gắn sim số 0398231780 gọi vào số điện thoại di động 0366.745.xxx của Lê Trung K1, nhưng do điện thoại hết tiền nên K chỉ nháy máy. Sau đó, K1 gọi điện thoại lại cho K, K hỏi mua của K1 600.000₫ (Sáu trăm nghìn đồng) ma túy Heroine. K1 đồng ý và bảo K cứ đi xuống huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. K đi nhờ xe máy của người không quen biết qua đường xuống đến địa phận xã B, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, K nháy máy điện thoại cho K1, K1 gọi điện thoại lại cho K, K thông báo với K1, K đã đi gần đến nơi, K1 hẹn gặp K ở khu vực cầu K, xã B, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. K xuống xe đi bộ đến nơi hẹn. Tại nơi hẹn, K đưa cho K1 600.000 đồng, K1 nhận tiền rồi đưa lại cho K 02 gói nilon màu trắng bên trong cả 02 gói đều có chứa chất bột, cục màu trắng là ma tuý heroine, K cầm 02 gói ma túy heroine vừa mua được đi bộ ra khu vực vắng người gần đó mở 01 gói ma túy heroine ra tách lấy một phần sử dụng cho bản thân, phần ma túy còn lại Khanh gói lại như cũ và cất 02 gói ma túy trong túi áo bên trái phía trước K đang mặc rồi đi nhờ xe máy người không quen biết qua đường về thành phố V đến khu vực hồ C thuộc phường T, thành phố V, K xuống xe để xem câu cá thì bị tổ công tác của Công an thành phố V phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Căn cứ vào lời khai của Nguyễn Tiến K, cùng ngày 08/01/2024, Cơ quan điều tra dẫn giải K đi xác định vị trí mua bán ma túy giữa K với K1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V triệu tập K1 đến Cơ quan Công an để làm việc. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V, K1 đã tự giác khai nhận toàn bộ hành vi K1 bán ma túy cho K. K1 đã tự giao nộp số tiền 1.400.000 đồng trong đó có 600.000 đồng là tiền Khương bán ma túy cho K, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia đã cũ màu xanh có số imei: 359045/04/906374/8 kèm theo sim số 0366745087. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lê Trung K1 và ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Lê Trung K1 có địa chỉ trên. Quá trình khám xét không thu giữ gì.

Về nguồn gốc số ma túy mà K1 bán cho K, K1 khai mua được của Nguyễn Thị Thúy N, sinh năm 2005, nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố N, thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc vào khoảng hơn 19 giờ ngày 07/01/2024 tại khu vực cổng trường tiểu học thuộc thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc với giá 600.000 đồng được 03 gói ma túy đều được gói bằng nilon màu trắng bên ngoài. K1 đã cầm 03 gói ma túy vừa mua được của N đi về nhà rồi lấy 01 gói ma túy sử dụng hết cho bản thân, còn 02 gói ma túy K1 đã bán lại cho K vào sáng ngày 08/01/2024 với giá 600.000 đồng.

Căn cứ lời khai của Lê Trung K1, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của N tại tổ dân phố N, thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, nhưng nhà N khóa cổng, khóa cửa nên Cơ quan cảnh sát điều tra không thi hành được, sau đó Cơ quan điều tra đã triệu tập N đến trụ sở để làm việc. Tại Cơ quan điều tra, N không thừa nhận việc đã bán ma túy cho K1 ngày 07/01/2024.

Ngày 08/01/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với chất bột cục màu trắng thu giữ của Nguyễn Tiến K. Tại bản kết luận giám định số 69/KL-KTHS ngày 11/01/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh P kết luận:

“Chất bột, cục màu trắng chứa bên trong 02 gói nilon gửi đến giám định có khối lượng là: 0,199 gam, là ma túy, loại Heroine (heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất.”

H1 lại đối tượng giám định: 0,126 gam chất bột, cục màu trắng là mẫu vật còn lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, được niêm phong dán kín trong 01 túi niêm phong, bên ngoài túi niêm phong có 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K2 - Công an tỉnh P và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán.

Kết quả xét nghiệm ma tuý (test nhanh nước tiểu) ngày 08/01/2024 của Nguyễn Tiến K và Lê Trung K1: Nguyễn Tiến K và Lê Trung K1 có sử dụng ma túy heroine.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Tiến K và Lê Trung K1 do K và K1 đã sử dụng hết nên không xác định được khối lượng, Công an thành phố V đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với K và K1 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, hình thức phạt: Cảnh cáo.

Ngày 12/01/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Tiến K về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự và khởi tố bị can đối với Lê Trung K1 về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 điều 251 Bộ luật hình sự.

Cáo trạng số 49/CT-VKS-VT ngày 16/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì truy tố bị can Nguyễn Tiến K về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự và truy tố bị can Lê Trung K1 về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tiến K khai nhận như sau: Cáo trạng truy tố hoàn toàn đúng với hành vi mà bị cáo thực hiện. Bị cáo đúc 02 gói ma túy Heroin có khối lượng 0,199 gam vừa mua được của K1 với giá 600.000₫ (Sáu trăm nghìn đồng) ở túi áo bên trái phía trước đang mặc với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Công an kiểm tra thu giữ. Ngoài ra Công an còn tạm giữ của bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen, đã cũ, kèm 01 sim số 0398231780 là điện thoại dùng liên lạc cá nhân và trao đổi mua bán ma túy với K1 vào sáng ngày 08/01/2024 và số tiền 40.000đ (Bốn mươi nghìn đồng) là tiền của bị cáo do lao động mà có. Bị cáo lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản có giá trị.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Trung K1 khai nhận như sau: Cáo trạng truy tố hoàn toàn đúng với hành vi mà bị cáo thực hiện. Khi bị bắt bị cáo bị tạm giữ: 1.400.000 đồng trong đó có 600.000 đồng là tiền bán ma túy cho K, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia đã cũ màu xanh kèm theo sim số 0366745087 là điện thoại của bị cáo dùng liên lạc cá nhân và trao đổi mua bán ma túy với K ngày 08/01/2024. Bị cáo không có tài liệu, chứng cứ gì, không ai biết việc N bán ma tuý cho bị cáo ngày 07/01/2024. Bị cáo lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản có giá trị.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì giữ quyền công tố giữ nguyên cáo trạng truy tố, trình bày luận tội, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 điều 249, điểm s khoản 1 điều 51; điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Tiến K.

Áp dụng khoản 1, khoản 5 điều 251, điểm s khoản 1 điều 51, điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Trung K1.

Tuyên bố:

Bị cáo Nguyễn Tiến K phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Bị cáo Lê Trung K1 phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tiến K từ 30 tháng tù đến 33 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ là ngày 08/01/2024.

Phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Tiến K: Tịch thu của bị cáo Nguyễn Tiến K số tiền 40.000đ (Bốn mươi nghìn đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.

Xử phạt: Bị cáo Lê Trung K1 từ 39 tháng tù đến 42 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ là ngày 08/01/2024.

Phạt bổ sung bị cáo Lê Trung K1: Tịch thu của bị cáo Lê Trung K1 số tiền 800.000đ (T3 trăm nghìn đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu của: Bị cáo Nguyễn Tiến K 0,126 gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định trong niêm phong số 69/KL-KTHS ngày 11/01/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh P; 01 thẻ sim thuê bao số 0398231780 được gắn trong điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen, đã cũ, số IMEI: 358408/04/754068/5 đang bị tạm giữ và bị cáo Lê Trung K1 01 thẻ sim thuê bao số 0366745087 được gắn trong điện thoại di động nhãn hiệu Nokia đã cũ màu xanh có số imei: 359045/04/906374/8 đang bị tạm giữ để tiêu hủy.

Tịch thu: của bị cáo Nguyễn Tiến K điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen, đã cũ, số IMEI: 358408/04/754068/5 và của bị cáo Lê Trung K1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia đã cũ màu xanh có số imei: 359045/04/906374/8 và số tiền 600.000₫ (Sáu trăm nghìn đồng) để nộp ngân sách Nhà nước. (Có tình trạng, đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ ngày 17/4/2024 và Biên lai thu tiền số 0004639 ngày 23/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ);

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 điều 12, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lê Trung K1 phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Tiến K.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Tiến K trình bày quan điểm: Nhất trí với bản cáo trạng truy tố bị cáo. Tuy nhiên trước khi đưa ra hình phạt đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện viện kiểm sát đưa ra để bị cáo được hưởng chính sách khoan hồng của pháp luật và cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo nhận thấy hành vi của các bị cáo là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo hưởng hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, các bị cáo không có ý kiến gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định:

Hồi 09 giờ 50 phút ngày 08/01/2024, tại tổ B, phố T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Tiến K đã có hành vi tàng trữ trái phép khối lượng 0,199 gam ma túy heroine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an thành phố V lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Hồi 08 giờ cùng ngày, tại khu vực chợ B thuộc xã B, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, Lê Trung K1 đã bán trái phép 02 gói ma tuý heroine cho Nguyễn Tiến K với giá 600.000₫ (Sáu trăm nghìn đồng).

Lời nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người chứng kiến phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án, kết luận trưng cầu giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận: Bị cáo Nguyễn Tiến K phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật hình sự; Bị cáo Lê Trung K1 phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 điều 251 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì truy tố các bị cáo về tội danh cũng như điều luật là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định: “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;………”

Tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:

“1.Người nào mua bán trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm;………”

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Tiến KLê Trung K1, Công an thành phố V đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

Đối với Nguyễn Thị Thúy N, K1 khai N bán đã bán ma túy cho K1, không có tài liệu khác chứng minh, Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để điều tra làm rõ.

[3]. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước được pháp luật hình sự bảo vệ nên cần phải được xử lý nghiêm. Các bị cáo đều là người có nhân thân không tốt, đều đã bị Tòa án xét xử về tội phạm ma túy, chấp hành hình phạt tù trở về địa phương, không từ bỏ được ma túy nên bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc rồi lại tiếp tục phạm tội, chứng tỏ các bị cáo coi thường pháp luật. Vì vậy, các bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi đã gây ra, cần áp dụng hình phạt tù cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện giáo dục các bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội. Lần phạm tội này, các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng cần áp dụng hình phạt đối với các bị cáo như đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì đề nghị là phù hợp. Mức án đó cũng đủ điều kiện để giáo dục các bị cáo sửa chữa được tội lỗi mà các bị cáo đã phạm.

[4]. Về hình phạt bổ sung:

Tại khoản 5 điều 249 và khoản 5 điều 251 của Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy, các bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập thấp, bị cáo K có tài sản là số tiền 40.000.đồng; bị cáo K1 có tài sản là số tiền 800.000 đồng đang bị tạm giữ nhưng không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là tịch thu tài sản trên để nộp ngân sách Nhà nước.

[5]. Về vật chứng và tài sản, đồ vật tạm giữ:

Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V thu giữ và chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì gồm:

Đối với bì niêm phong số 69/KL-KTHS ngày 11/01/2024 của Phòng K2 - Công an tỉnh P hoàn trả lại sau khi trích mẫu giám định: 0,126 gam chất bột, cục màu trắng được niêm phong cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định là vật chứng thu giữ của K, vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu để tiêu hủy;

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen, đã cũ, số IMEI: 358408/04/754068/5, kèm 01 sim số 0398231780 thu giữ của K và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia đã cũ màu xanh có số imei: 359045/04/906374/8 kèm theo sim số 0366745087 thu giữ của K1 là điện thoại các bị cáo sử dụng trao đổi mua bán ma túy ngày 08/01/2024 là công cụ các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu 02 điện thoại để nộp ngân sách nhà nước còn 02 thẻ sim không có giá trị tịch thu để tiêu hủy;

Đối với số tiền 1.440.000đ (Một triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng), trong đó có: 40.000 đồng của bị cáo K do lao động mà có; 1.400.000 đồng của bị cáo K1 (trong đó: 600.000₫ là tiền bán ma tuý cho K, 800.000₫ là tiền Khương lao động mà có) nên 40.000 đồng của bị cáo K và 800.000 đồng của bị cáo K1 đã bị áp dụng hình phạt bổ sung tịch thu nộp ngân sách nhà nước, còn 600.000 đồng của bị cáo K1 do phạm tội mà có nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

[6]. Về án phí: Bị cáo Lê Trung K1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Tiến K là người thuộc hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí hình sự sơ thẩm nên căn cứ điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết 326 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo K.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; khoản 1 điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Tiến K.

Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 điều 251; điểm s khoản 1 điều 51; khoản 1 điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Trung K1.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tiến K phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Bị cáo Lê Trung K1 phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”;

Phạt Nguyễn Tiến K 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ là ngày 08/01/2024

Hình phạt bổ sung: Tịch thu của bị cáo Nguyễn Tiến K số tiền 40.000₫ (Bốn mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0004639 ngày 23/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ để nộp ngân sách nhà nước.

Phạt Lê Trung K1 39 (Ba mươi chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ là ngày 08/01/2024.

Hình phạt bổ sung: Tịch thu của bị cáo Lê Trung K1 số tiền 800.000đ (Tám trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0004639 ngày 23/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ để nộp ngân sách Nhà nước.

- Về xử lý vật chứng và tài sản bị tạm giữ, đồ vật tạm giữ: Căn cứ khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu của: Bị cáo Nguyễn Tiến K 0,126 gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định trong bì niêm phong số 69/KL-KTHS ngày 11/01/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh P; 01 thẻ sim thuê bao số 0398.231.780 được gắn trong điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen, đã cũ, số imei: 358408/04/754068/5 đang bị tạm giữ và bị cáo Lê Trung K1 01 thẻ sim thuê bao số 0366.745.087 được gắn trong điện thoại di động nhãn hiệu Nokia đã cũ màu xanh có số imei: 359045/04/906374/8 đang bị tạm giữ để tiêu hủy.

(Có tình trạng, đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ ngày 17/4/2024);

Tịch thu: của bị cáo Nguyễn Tiến K điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen, đã cũ, số imei: 358408/04/754068/5 và của bị cáo Lê Trung K1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia đã cũ màu xanh có số imei: 359045/04/906374/8 và số tiền 600.000₫ (Sáu trăm nghìn đồng) để nộp ngân sách Nhà nước. (Có tình trạng, đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ ngày 17/4/2024 và Biên lai thu tiền số 0004639 ngày 23/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ);

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 điều 12, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lê Trung K1 phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Tiến K.

-Về quyền kháng cáo: Căn cứ điều 331 và khoản 1 điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Việt Trì;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ;
  • - Bị cáo; Người bào chữa cho bị cáo;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ;
  • - Chi cục THADS TP. Việt Trì;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TP. Việt Trì;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Hà Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ về vụ án hình sự

  • Số bản án: 59/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tiến K phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý Bị cáo Lê Trung K1 phạm tội: Mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger