TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 59/2024/HS-ST Ngày: 11/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Công Đồng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đàm Đình Định: Cán bộ hưu.
Bà Nguyễn Thị Xuyến: Cán bộ hưu.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Thủy.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quân - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 11 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 43/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2024/QĐXXST-HS ngày 28/5/2024 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Trường T, sinh năm 1979; tên gọi khác: Tom Nguyen; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khu N, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam, Hoa Kỳ; con ông Nguyễn Trường T1, sinh năm 1954 và bà Hoàng Thị N, sinh năm 1955; gia đình có 03 anh em, bị cáo là thứ nhất; bị cáo sống chung như vợ chồng với chị Nicky D, sinh năm 1984 và có 02 con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/02/2024, hiện đang tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh B. Có mặt.
- Nguyễn Xuân T2, sinh năm 1983; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khu N, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trường T1, sinh năm 1954 và bà Hoàng Thị N, sinh năm 1955; gia đình có 03 anh em, bị cáo là thứ hai (là em ruột Nguyễn Trường T); có vợ là Nguyễn Thị H, sinh năm 1985 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/02/2024, hiện đang tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh B. Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Trường T1, sinh năm 1954; trú tại: Khu N, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Có mặt.
* Người làm chứng:
- Chị Bàn Thị C, sinh năm 2002; nơi ĐKHKTT: Khe Hóp, M, V, tỉnh Yên Bái; chỗ ở hiện nay: Khu A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.
- Chị Nguyễn Linh T3, sinh năm 2007; trú tại: Số B, đường L, khu B, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Phi H1, sinh năm 1985; trú tại: Khu N, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 08 giờ 30 phút ngày 20/02/2024, Tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B phối hợp với Công an phường N, thành phố B tiến hành kiểm tra hành chính phòng 1.401 khu nhà ở và dịch vụ công cộng V (chung cư V) tại số C, đường L, phường N, thành phố B phát hiện có 05 đối tượng gồm: Nguyễn Trường T, Nguyễn Xuân T2, Nguyễn Phi H1, Bàn Thị C và Nguyễn Linh T3 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Thu giữ:
- Trên mặt bàn kê cạnh đầu giường trong phòng ngủ 1: 01 đĩa sứ màu trắng, trên mặt đĩa sứ có bám dính chất tinh thể màu trắng; 01 ống hút được cuốn bằng tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng; 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Trường T đều bám dính chất tinh thể màu trắng. Tổ công tác thu chất tinh thể màu trắng trên mặt đĩa sứ vào 01 túi nilon màu trắng và niêm phong vào trong phong bì (ký hiệu M1); Niêm phong đĩa sứ màu trắng, ống hút được cuốn bằng tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng và căn cước công dân mang tên Nguyễn Trường T vào 01 túi nilon theo quy định pháp luật; 01 loa nhãn hiệu JBL và 01 đèn laze nhãn hiệu PARTY LIGHT đã qua sử dụng.
- Tại mặt bàn phòng khách: 01 túi nilon màu trắng chứa chất tinh thể màu trắng, được niêm phong vào phong bì (ký hiệu M2)
Tổ công tác lập biên bản vụ việc, quá trình làm việc Nguyễn Trường T, Nguyễn Xuân T2 đầu thú khai nhận về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng 1.401 chung cư V. T tự nguyện giao nộp 01 điện thoại S 5 lắp sim 12676342112; T2 tự nguyện giao nộp 01 điện thoại Iphone 15 Promax lắp sim 0973960666 và 01 xe ô tô nhãn hiệu Honda CRV, biển kiểm soát 30E-378.57.
Tiến hành kiểm tra nước tiểu các đối tượng, kết quả: Nguyễn Trường T, Nguyễn Xuân T2, Nguyễn Phi H1, Bàn Thị C phản ứng dương tính với chất ma túy; Nguyễn Linh T3 âm tính với chất ma túy.
Tại Kết luận giám định số: 576/KL-KTHS ngày 22/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
- + Chất tinh thể màu trắng bên trong phong bì thư kí hiệu M1 có khối lượng là 0,4730 gam; là ma túy; Loại ma túy: Ketamine;
- + Chất tinh thể màu trắng bên trong phong bì thư kí hiệu M2 có khối lượng là 0,0193 gam; là ma túy; Loại ma túy: Ketamine;
- + Chất tinh thể màu trắng bám dính trên đĩa sứ, ống hút và thẻ căn cước trong túi nilon gửi giám định có khối lượng là: 0,0130 gam; là ma túy; Loại ma túy: Ketamine.
Ketamine là chất ma túy được quy định tại Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất”.
Căn cứ lời khai của T, T2 và chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra thu thập trong hồ sơ vụ án xác định:
Nguyễn Trường T, Nguyễn Xuân T2, Nguyễn Phi H1 là anh em ruột. Khoảng 22 giờ ngày 19/02/2024, T, T2, H1 đi chơi ở quán Bar tại thành phố Hà Nội. Tại đây, một người bạn xã hội của T2 tên là M (T2 không biết họ, tuổi, lai lịch và địa chỉ cụ thể) cho T2 02 chỉ ma túy “ke” (tức ma túy Ketamine) và 02 viên ma túy “kẹo”. Ba anh em chơi ở quán Bar đến khoảng 23 giờ cùng ngày thì T2, T bảo H1 về thành phố B thuê khách sạn để nghỉ. H1 đồng ý. Trên đường từ Hà Nội về thành phố B, T2 điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Honda CRV, biển kiểm soát 30E-378.57 chở T ngồi ghế phụ bên phải. Do chơi ở quán Bar, H1 uống nhiều rượu nên khi vào xe ô tô đi về thì nằm ngủ ở hàng ghế sau. Trên đường đi về thành phố B, T2 nói với T về việc M cho ma túy và cả hai thống nhất thuê khách sạn nghỉ và sử dụng ma túy. Do T2 và T đã từng nghỉ ở chung cư V tại số C, đường L, phường N, thành phố B nên T2 điều khiển xe ô tô về thẳng đây. Tại chung cư V, T vào quầy lễ tân thuê phòng và được lễ tân bố trí phòng 1.401. Khi thuê phòng, T không nói cho lễ tân biết mục đích thuê phòng để sử dụng ma túy. Sau đó, T2 và H1 đi lên phòng 1.401 trước, T lấy từ xe ô tô 01 loa điện và 01 đèn laze mang lên phòng 1.401 mục đích để nghe nhạc trong khi sử dụng ma túy. Tại phòng 1.401, sau khi lắp loa, đèn xong, T sử dụng điện thoại Samsung Galaxy Zflip 5 lắp sim 12676342112 vào ứng dụng Telegram liên lạc với người bạn xã hội tên Đ (T không biết họ, tuổi, lai lịch, địa chỉ cụ thể), nhờ Đ gọi hộ 03 nhân viên nữ đến phòng 1.401 để chơi cùng. Sau đó, 03 nhân viên nữ gồm: Bàn Thị Cải, Nguyễn Linh T3 và một người phụ nữ tên A đến phòng 1.401. Lúc này, T2 bỏ ma túy ra bàn phòng khách, bẻ nhỏ 02 viên ma túy “kẹo”, đổ một phần ma túy “ke” ra chiếc đĩa sứ có sẵn trong phòng và bảo An xào “ke” để mọi người cùng sử dụng. T đưa cho A thẻ căn cước của mình để làm dụng cụ xào “ke”. A lấy tờ tiền loại 1.000 đồng của mình cuốn thành ống hút. Sau khi A xào ma túy xong, T, T2, H1, A, C tự lấy ma túy sử dụng, riêng T3 không dùng ma túy. Sau đó, T cầm theo chiếc đĩa sứ đựng ma túy “ke” chưa sử dụng hết cùng C đi vào phòng ngủ số 1 để ngủ và tiếp tục sử dụng ma túy; H1 và T3 vào phòng ngủ số 2 để nghỉ còn T2 và An nghỉ tại phòng khách. Đến sáng ngày 20/02/2024, A đi khỏi phòng 1.401, khoảng 1 giờ sau lực lượng Công an đến kiểm tra, bắt và thu giữ các đồ vật, ma túy như nêu trên. Đối với số ma túy còn lại trên bàn, T, T2 khai nhận mục đích để ra đĩa, bỏ ra bàn để mọi người trong phòng cùng sử dụng khi có nhu cầu.
Tiến hành kiểm tra điện thoại thu giữ của Nguyễn Xuân T2 và của Nguyễn Trường T không phát hiện tin nhắn, cuộc gọi nào với người tên Đ; T khai nhận sau khi liên hệ với Đ qua ứng dụng Telegram Thành đã xóa lịch sử liên lạc.
Tại Cáo trạng số: 55/CT-VKS-P1 ngày 15/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố Nguyễn Trường T, Nguyễn Xuân T2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo T và T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Hai bị cáo trình bày việc tổ chức sử dụng ma túy đêm ngày 19/02/2024 là do bột phát và là lần đầu hai bị cáo thực hiện, việc Viện kiểm sát truy tố hai bị cáo theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội đã phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt:
- Nguyễn Trường T từ 7 năm đến 7 năm 6 tháng tù.
- Nguyễn Xuân T2 từ 5 năm 6 tháng đến 6 năm tù. Thời hạn tù đối với hai bị cáo đều tính từ ngày 20/02/2024.
Đại diện Viện kiểm sát cũng đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với hai bị cáo; tịch thu tiêu hủy vật chứng hoàn lại sau giám định; tịch thu sung công 01 loa nhãn hiệu JBL; 01 đèn laze nhãn hiệu PARTY LIGHT; 01 phong bì niêm phong có 01 tờ tiền mệnh giá 1000 đồng do có liên quan đến hành vi phạm tội.
- - Trả lại cho Nguyễn Trường T: 01 thẻ căn cước công dân mang tên Nguyễn Trường T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Zfip 5 của T, số tiền 5.200.000 đồng nhưng tạm giữ số tiền để đảm bảo thi hành án.
- - Trả lại cho Nguyễn Xuân T2: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax đã qua sử dụng có 1 sim không liên quan đến hành vi phạm tội; số tiền 5.200.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Hai bị cáo, người liên quan đều nhất trí, không tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát, trong lời nói sau cùng, các bị cáo rất ân hận về hành vi của bản thân và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Đối với hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo T và T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; đơn xin đầu thú, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, vì vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng hơn 23 giờ ngày 19/02/2024, Nguyễn Trường T thuê phòng 1.401 chung cư V tại số C, đường L, phường N, thành phố B và chuẩn bị công cụ gồm: loa điện, đèn laze, thẻ căn cước; Nguyễn Xuân T2 chuẩn bị 02 chỉ ma túy “ke” (Ketamine) và 02 viên ma túy “kẹo” (ma túy tổng hợp); cùng với Nguyễn Phi H1 và Bàn Thị C sử dụng trái phép chất ma túy. Đến 8 giờ 30 phút ngày 20/02/2024, lực lượng Công an vào kiểm tra, phát hiện, thu giữ số ma túy còn lại bám dính trên các dụng cụ sử dụng ma túy và 01 túi ma túy ở trên mặt bàn phòng khách, tổng khối lượng là 0,5053 gam Ketamine cùng toàn bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Kết quả xét nghiệm (T5) xác định: T, T2, H1, C dương tính với ma túy. Về nguồn gốc số ma túy các đối tượng sử dụng và bị thu giữ do người tên M, là bạn xã hội với T2 cho T2. Vì vậy, có đủ căn cứ để xét xử bị cáo Nguyễn Trường T và Nguyễn Xuân T2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý chất ma túy. Ma túy còn là nguồn gốc dẫn tới nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm khác, hành vi phạm tội của hai bị cáo thể hiện sự ăn chơi, xa đọa và gây mất trật tự trị an tại địa phương, do vậy cần xử lý phạt nghiêm khắc bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[3] Xét vai trò, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của hai bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Đây là vụ án hai bị cáo phạm tội có tính đồng phạm giản đơn. Bị cáo T là anh nhưng là người thuê phòng, chuẩn bị các công cụ, phương tiện để sử dụng ma túy, nếu bị cáo không đồng ý thì T2 không thể cùng phạm tội. Vì vậy, T giữ vai trò lớn hơn T2; bị cáo T2 là người cung cấp ma túy cho mọi người sử dụng, là em ruột bị cáo T nên có vai trò nhẹ hơn T.
Về nhân thân: Cả hai bị cáo đều phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, hai bị cáo đều thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; hai bị cáo có bố đẻ là ông Nguyễn Trường T1 là bệnh binh, được tặng thưởng HHuy chương kháng chiến hạng Nhì trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước; bị cáo T, T2, mỗi bị cáo được ông T1 nộp 5.200.000 đồng tại Cục thi hành án dân sự để đảm bảo xét xử nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo T2 đã từng cứu giúp người bị tai nạn đuối nước nên được coi là có thành tích xuất sắc theo điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; gia đình có tích cực ủng hộ phong trào phòng chống dịch bệnh Covid 19; bị cáo T được UBND thị trấn Cao Thượng tặng Giấy khen do có thành tích trong công tác Hội chữ thập đỏ thị trấn Cao Thượng năm 2023, nên các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng tình tiết giảm nhẹ hai bị cáo ra đầu thú là không chính xác vì các bị cáo bị kiểm tra, bắt giữ ngay, không thể hiện tự đến cơ quan điều tra khai báo,
Xét thấy, hành vi của hai bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội nên cần cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành công dân có ích. Đối với Nguyễn Xuân T2 có nhiều tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo giữ vai trò nhẹ hơn, lại là em ruột bị cáo T nên cho bị cáo hưởng dưới mức khởi điểm của khung hình phạt. Do hai bị cáo không có việc làm ổn định nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung.
[4] Đối với vật chứng đã thu giữ cần tịch thu tiêu hủy 01 túi đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định; đối với 01 loa nhãn hiệu JBL; 01 đèn laze nhãn hiệu PARTY LIGHT; 01 phong bì niêm phong có 01 tờ tiền mệnh giá 1000 đồng liên quan, dùng thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu sung công.
- - Đối với 01 thẻ căn cước công dân mang tên Nguyễn Trường T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu S1; số tiền 5.200.000 đồng ông T1 nộp thay cho bị cáo không liên quan tới hành vi phạm tội cần trả lại cho T, riêng số tiền cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax của T2 và 5.200.000 đồng ông T1 nộp thay cho bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên cũng cần trả lại cho T2 và tạm giữ tiền để đảm bảo thi hành án.
[5] Liên quan trong vụ án còn có đối tượng tên M là người cho T2 chất ma túy và người phụ nữ tên A có hành vi xào “ke” cho các đối tượng sử dụng ma túy, do T2 và T không biết rõ tên, tuổi cụ thể nên chưa có cơ sở để xác minh. Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ, xử lý sau là phù hợp.
- - Đối với bà Nguyễn Thị T4 là quản lý chung cư V cho T thuê phòng 1401. Khi thuê phòng T không nói với lễ tân mục đích để sử dụng ma túy và bà T4 không biết việc T thuê phòng để sử dụng ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.
- - Đối với Nguyễn Phi H1 và Bàn Thị C có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, ngày 22/4/2024 Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” bằng hình thức Cảnh cáo là đúng quy định của pháp luật.
- - Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Honda CRV, biển kiểm soát 30E-378.57 mang tên Nguyễn Xuân T2. Quá trình điều tra xác định, xe ô tô là tài sản chung của vợ chồng Nguyễn Xuân T2 và chị Nguyễn Thị H. Ngày 25/3/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đã trả lại xe ô tô trên cho chị H là đúng quy định.
[6] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Trường T, Nguyễn Xuân T2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Trường T (tên gọi khác: Tom N1), Nguyễn Xuân T2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng Hình sự xử phạt:
Nguyễn Trường T 7 (B) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/02/2024. Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Trường T thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s; v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng Hình sự xử phạt:
Nguyễn Xuân T2 5 (Năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/02/2024. Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Xuân T2 thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
- - Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- + Tịch thu tiêu hủy 01 túi đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định, bên ngoài có ghi: Mẫu vật hoàn lại sau giám định trong vụ Nguyễn Trường T, sn 1983 cùng ở T, Bắc Giang phạm tội về ma túy kèm theo KLGĐ số 567/KL-KTHS ngày 22/02/2023 của Phòng KTHS- Công an tỉnh B
- + Tịch thu sung công 01 loa nhãn hiệu JBL; 01 đèn laze nhãn hiệu PARTY LIGHT; 01 phong bì niêm phong đã được gửi tại Kho bạc tỉnh B theo biên bản giao nhận tài sản số 03/2024/BBBH-KBBN ngày 28/2/2023 theo mã tài sản: 111000013769A số tiền 1.000 VNĐ (một nghìn đồng) được niêm phong theo biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định ngày 22/2/2024.
- + Trả lại Nguyễn Trường T: 01 thẻ căn cước công dân mang tên Nguyễn Trường T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu S1 5 đã qua sử dụng kèm 01 sim của T; 5.200.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0000336 ngày 20/5/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh nhưng tạm giữ số tiền để đảm bảo thi hành án.
- + Trả lại Nguyễn Xuân T2 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax đã qua sử dụng có 1 esim; 5.200.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0000335 ngày 20/5/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Các vật chứng, tài sản trên theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 94/2024 ngày 15/5/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
- - Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo Nguyễn Trường T, Nguyễn Xuân T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Hai bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: - TAND Cấp cao; VKSND Cấp cao; - VKSND tỉnh Bắc Ninh; - CQCSĐT (PC 01); PV06 Công an tỉnh BN; - Phòng PC 10 Công an tỉnh Bắc Ninh; - Trại Tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh; - Cục THADS tỉnh Bắc Ninh; - Bị cáo; người tham gia TT; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Công Đồng |
Bản án số 59/2024/HS-ST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (vụ án hình sự)
- Số bản án: 59/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trường T và đp phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
