|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 59/2024/HS-ST Ngày: 07-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hồng Quang.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Trần Văn Tuyến;
- 2. Bà Trần Thị Minh Lệ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Nhàn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 57/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ tên: Nguyễn Hoài T, tên gọi khác: không có; sinh ngày 08 tháng 4 năm 1969 tại tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: Số C đường L, khóm X, thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1945 (đã chết) và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1947; có vợ Phan Thị D1, sinh năm 1976 và 04 con (con lớn nhất sinh năm 1999, con nhỏ nhất sinh năm 2008).
Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 30/9/2013, bị TAND huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị xử phạt 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), về tội: “Buôn lậu”. Chấp hành xong hình phạt ngày 11/11/2013.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 12/01/2024 đến ngày 20/01/2024 thì chuyển biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Ông Nguyễn Huy S, sinh năm 1992; địa chỉ: Số C đường C, khóm V, thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
- Người làm chứng:
- + Ông Trần Văn H, sinh năm 1964; địa chỉ: khóm V, thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.
- + Ông Nguyễn Minh T1, sinh năm 1988; địa chỉ: Số C đường L, khóm X, thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 11/01/2024, Nguyễn Hoài T gặp người đàn ông tên B (quốc tịch Lào, chủ bến đò tại bản K - Lào) trước nhà mình. Biết T hiện không có việc làm nên B thuê T vận chuyển đường kính trắng do nước ngoài sản xuất, không có giấy tờ về nguồn gốc xuất xứ bằng thuyền máy từ Lào về Việt Nam qua sông S, tiền công vận chuyển là 400.000 đồng/chuyến. T đồng ý. Khoảng 18 giờ cùng ngày, theo hướng dẫn của B, T đến bến đò Duy T2 nhận thuyền máy từ ông Nguyễn Huy S - chủ thuyền. Trước đó, S thỏa thuận cho thuê thuyền với một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ với giá 300.000 đồng/ngày. S đưa thuyền đến bến đò Duy Tân mới biết T là người nhận thuyền. Nhận thuyền xong, T điều khiển thuyền ngược dòng sông S qua khỏi biên giới Việt Nam vào địa phận nước Lào, cập bến tại bến đò Máng Bút thuộc địa phận bản Ka Túp. Tại đây, nhiều nhân công bốc vác và xe thồ (người Lào) chờ sẵn để bốc đường kính trắng được đóng trong các bao gai màu trắng, mỗi bao có khối lượng 50kg, trên mặt bao có chữ nước ngoài (WHITE SUGAR, Product of T3) lên thuyền. Quá trình bốc xếp, một người trong nhóm bốc xếp thông báo với T số lượng hàng hóa bốc lên thuyền gồm 200 bao. Do đó, dù không tham gia kiểm đếm hay bốc xếp nhưng T xác định được số hàng mình vận chuyển khoảng 10 tấn đường kính trắng Thái Lan. Toàn bộ số hàng này đều không có hoá đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc xuất xứ. Sau đó, T điều khiển thuyền vận chuyển đường kính trắng rời bến K theo dòng sông S Pôn quay trở về Việt Nam. Khi thuyền đến cách bến đò Vĩnh Đông khoảng 30m thì T dừng lại, tắt máy cho neo thuyền ở giữa dòng sông, sát đường biên giới Lào - Việt Nam chờ có người đến nhận hàng mới cho thuyền cập bến, mục đích để trốn tránh cơ quan chức năng phát hiện, trường hợp bị phát hiện thì sẽ điều khiển thuyền quay trở lại Lào. Qua quan sát, T thấy thuyền máy do Nguyễn Minh T1 (em ruột của T) điều khiển đã neo đậu tại đây từ trước và cách thuyền của T khoảng 10m. Quá trình neo đậu thuyền, T1 và T không trao đổi, nói chuyện vì sợ phát ra tiếng ồn bị cơ quan chức năng phát hiện. Một lúc sau, khi thấy có người đang di chuyển từ trên dốc đường mòn xuống bến đò Vĩnh Đông, T nổ máy điều khiển thuyền di chuyển áp sát vào bến đò để giao hàng theo hướng dẫn. Khoảng 21 giờ cùng ngày, khi thuyền máy do T điều khiển cập bến đò Vĩnh Đông thì bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt quả tang.
Tại thời điểm này, Nguyễn Minh T1 điều khiển thuyền cập bến đò Vĩnh Đông nên cũng bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt quả tang về hành vi “vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới” tương tự như đối với T.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTS, ngày 20/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Quảng Trị, xác định: 200 bao đường kính trắng có tổng khối lượng 10.000 kg trị giá 180.000.000 đồng.
Cáo trạng số 51/CT-VKSQT-P1 ngày 18/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Nguyễn Hoài T, về tội: “Vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới” theo khoản 1 Điều 189 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 189; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài T từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2, khoản 3 Điều 106 BLTTHS:
- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 199 bao đường kính trắng còn lại sau giám định.
- Trả lại cho ông Nguyễn Huy S: 01 thuyền gắn động cơ.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hoài T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng.
Ý kiến của anh Nguyễn Huy S: Đề nghị HĐXX trả lại chiếc thuyền máy có gắn động cơ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Xét lời khai nhận hành vi của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:
Ngày 11/01/2024, Nguyễn Hoài T có hành vi vận chuyển trái phép 200 bao đường trắng, tổng khối lượng 10.000kg không có hóa đơn, chứng từ hợp pháp từ Lào qua Việt Nam nhằm mục đích hưởng tiền công.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTS, ngày 20/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Quảng Trị, xác định: 200 bao đường kính trắng có tổng khối lượng 10.000 kg trị giá 180.000.000 đồng.
Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Nguyễn Hoài T, về tội: “Vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới” theo khoản 1 Điều 189 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- [3] Xét tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực xuất, nhập khẩu hàng hoá. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện nên cần xử lý nghiêm.
- [4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS:
- - Tình tiết tăng nặng: không.
- - Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính (có xác nhận của UBND thị trấn L) nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định khoản 2 Điều 51 BLHS.
- [5] Xét tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, HĐXX thấy rằng: Bị cáo từng bị kết án nhưng đã được xóa án tích, lần phạm tội này thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tính chất đơn giản; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
- [6] Về những đối tượng có liên quan:
- - Người đàn ông tên B thuê Nguyễn Hoài T vận chuyển hàng hóa: Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không xác định được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
- - Đối với hành vi của Nguyễn Minh T1: Quá trình điều tra không có căn cứ xác định yếu tố đồng phạm của Nguyễn Minh T1 với Nguyễn Hoài T. Hành vi của T1 đã bị khởi tố, điều tra trong vụ án khác.
- [7] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với số đường trắng còn lại sau giám định: cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
- - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng: trả lại cho bị cáo Nguyễn Hoài T do không liên quan đến tội phạm.
- - Đối với 01 chiếc thuyền có gắn động cơ: Đây là tài sản của ông Nguyễn Huy S; ông S không biết việc Nguyễn Hoài T sử dụng chiếc thuyền này để vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới nên cần trả lại cho ông S.
- [8] Do bị cáo bị phạt tù nhưng hưởng án treo nên áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 BLTTHS 2015 để hủy bỏ biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú” theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 71/2024/HSST-LCĐKNCT, ngày 24/6/2024 của TAND tỉnh Quảng Trị.
- [9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoài T, phạm tội: “Vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 189; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài T: 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về biện pháp ngăn chặn:
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 71/2024/HSST-LCĐKNCT, ngày 24/6/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Trị.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- * Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 199 (một trăm chín mươi chín) bao đường kính trắng Thái Lan, trên bao bì có ghi chữ WHITE SUGAR; product of Thailand, net weight 50kg. Trong đó, có 06 bao rách bao bì, bị rơi một ít đường ra ngoài.
- * Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hoài T: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng, số IMEI 357959803876362; máy đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong máy.
(Các vật chứng trên hiện có tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30 tháng 7 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị).
- * Trả lại cho ông Nguyễn Huy S: 01 (một) chiếc thuyền có gắn động cơ, tình trạng: đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết tình trạng hoạt động.
(Vật chứng trên hiện đã được cơ quan điều tra giao cho ông Nguyễn Huy S quản lý, bảo quản theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18 tháng 5 năm 2024)
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Hoài T phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hồng Quang |
Bản án số 59/2024/HS-ST ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ về vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới
- Số bản án: 59/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hoài T - Vận chuyển hàng hóa trái phép qua biên giới
