TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN TỈNH VĨNH PHÚC ————— Bản án số: 59/2024/HS-ST Ngày 05-7-2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Anh Vũ.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đường Ngọc Đại và ông Nguyễn Xuân Thịnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Xuân Tú – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Ông Triệu Minh Hà- Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 43/2024/TLST - HS ngày 04 tháng 5 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2024/QĐXXST - HS ngày 14 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn B (tên gọi khác: Không), sinh ngày 11 tháng 4 năm 1960; nơi sinh: Phường N, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; cư trú tại: Tổ dân phố K, phường N, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 06/10; Đảng, đoàn thể: Không; nghề nghiệp: Làm ruộng; con ông Nguyễn Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị D (đã chết); có vợ là Bùi Thị Q và có 02 con; tiền án: có 02 tiền án, cụ thể:
- Tại bản số 107/HSST ngày 12 tháng 8 năm 1986, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 01 năm tù về tội “Gián điệp”; phạt quản chế 05 năm từ ngày 13 tháng 8 năm 1986 (chưa nộp án phí nên chưa được xóa án tích);
- Tại bản án số 45/HSST ngày 06 tháng 8 năm 1992, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Mê Linh xử phạt Nguyễn Văn B 12 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” với tình tiết tăng nặng “tái phạm” (chưa nộp án phí nên chưa được xóa án tích);
Tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại, “có mặt”.
Bị hại: Ông Trần Văn D1, sinh năm 1980; cư trú tại: Tổ dân phố T, phường N, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc, “vắng mặt”.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1989; cư trú tại: Tổ dân phố K, phường N, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc, “có mặt”.
- Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1975; cư trú tại: Tổ dân phố K, phường N, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc, “vắng mặt”.
- Bà Trần Thị C, sinh năm 1974; cư trú tại: Tổ dân phố K, phường N, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc, “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 06 tháng 10 năm 2023, Nguyễn Văn B đi làm đồng về qua cổng nhà ông Nguyễn Văn Đ ở cùng thôn, thì ông Đ gọi rủ Bội vào nhà chơi uống rượu, B đồng ý. Khi B vào nhà Đ thì thấy có anh Trần Văn D1 đang ngồi uống rượu cùng với ông Đ tại bàn nhựa kê ở sân nhà ông Đ. Lúc này, ông Đ ngồi ghế nhựa tựa lưng vào tường nhà bếp, bên phải có để 01 chiếc bàn nhựa, B ngồi ghế nhựa đối diện với ông Đ, còn anh D1 ngồi ghế nhựa gần mép cửa bếp bên phải, kế bên tay trái của B, cách Bội 01 m.
Quá trình ngồi uống rượu với nhau thì B có quay sang hỏi anh D1 “ngày sinh, ngày mất của Bác H1”. Anh D1 trả lời: “không biết và cười”, thì B nghĩ anh D1 cười đểu, coi thường mình nên B đứng dậy tay phải cầm vào vùng miệng chiếc điếu cày, được làm bằng tre cuốn băng dính màu đen do bị nứt, dài 55cm, đường kính 4cm vung lên theo hướng từ sau về trước vụt 01 cái trúng vào đầu bên trái của anh D1, anh D1 bị choáng và ngồi bệt xuống sân. Lúc này, khoảng cách giữa B và anh D1 là 0,4m, B tiếp tục dùng điếu cày vung lên theo hướng từ sau về trước vụt 01 cái trúng phần trán bên trái của anh D1. Anh D1 giơ hai tay lên che đầu thì B tiến đến đồng thời dùng chân phải đá 02 cái vào sườn bên trái của anh D1 và dùng điếu cày vung lên theo hướng từ sau về trước đánh nhiều cái vào phần lưng và tay của anh D1, làm điếu cày bị vỡ thì B không đánh D1 nữa, sau đó anh D1 được gia đình đưa đến Trạm y tế phường N xử lý khâu vết thương, sau đó chuyển đến Bệnh viện Đ1 điều trị thời gian từ ngày 06 tháng 10 năm 2023 đến 13 tháng 10 năm 2023 thì ra viện về nhà điều trị tiếp.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn B khai nhận quá trình ngồi uống rượu thì anh D1 quay sang hỏi B ngày sinh, ngày mất của Bác H1 thì B nói là biết ngày sinh, ngày mất của Bác H1 nhưng chỉ trả lời ngày mất của Bác H1 là ngày 03 tháng 9 năm 1969, còn ngày sinh của Bác H1 thì anh D1 phải trả lời, nhưng anh D1 không trả lời mà chỉ cười nên B cho rằng bị anh D1 coi thường nên B đã đứng dậy dùng tay phải đấm 01 cái vào miệng của anh D1. Lúc này, anh D1 dùng tay trái cầm điếu cày bằng tre ở trong thùng nhựa, đứng dậy giơ lên hướng từ sau về trước vụt về phía đầu của B, thì B giơ tay phải lên đỡ thì điếu cày trượt theo cẳng tay phải của B. Sau đó, B dùng tay phải nắm đầu điếu cày (phần nõ điếu), tay trái của B cầm vào tay trái của anh D1 vặn ngược lại lấy chiếc điếu cày từ tay của D1, rồi tay phải cầm điếu cày vung lên hướng từ sau về trước vụt trúng vào đầu anh D1, làm anh D1 ngã quỳ xuống dưới đất, B tiếp tục cầm điếu cày bằng tay phải vung lên vụt trúng vào vùng trán bên trái của anh D1. Sau đó, B dùng tay trái ghì vào vùng gáy của anh D1 đồng thời dùng chân phải đá 02 cái vào phần sườn bên trái của anh D1 và tay phải cầm điếu cày đánh nhiều cái vào tay, lưng của anh D1, làm chiếc điếu cày bị vỡ, lúc này B dừng lại không đánh anh D1 nữa, tiếp tục ngồi uống nước nói chuyện với anh Đ.
Ngày 23 tháng 10 năm 2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã ra Quyết định trưng cầu giám định Trung tâm Pháp y tỉnh V nhằm xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với anh Trần Văn D1.
Ngày 09 tháng 11 năm 2023, Trung tâm Pháp Y tỉnh V có bản Kết luận giám định số 387, kết luận: Sẹo vết thương phần mềm vùng đỉnh đầu lệch trái kích thước nhỏ xếp 1%; sẹo vết thương phần mềm vùng trán trái kích thước nhỏ xếp 3%; sẹo vết thương phần mềm đuôi mắt trái kích thước nhỏ xếp 3%; Gãy xương sườn số 2 bên trái và các vết bầm tím sây sát da khi nào điều trị ổn định giám định bổ sung.
Ngày 11 tháng 12 năm 2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 01/QĐ-ĐCSHS tiến hành trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh V để giám định thương tích đối với anh Trần Văn D1.
Ngày 27 tháng 12 năm 2023, Trung tâm Pháp y tỉnh V ra Bản kết luận giám định bổ sung số 477/KLTTCT-PYVP kết luận: Kết quả giám định lần 1 ngày 09 tháng 11 năm 2023 là 7%; Gãy xương sườn số 2 bên trái sau điều trị đã ổn định xếp 2%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Trần Văn D1 tại thời điểm giám định là 09%.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng: 01 (Một) chiếc điếu cày bằng tre, dài 55cm, màu vàng bên ngoài được dán băng dính đen quấn quanh, đã bị rập nát thành 05 mảnh ghép, (gồm: 04 mảnh ghép chiều dài 50cm, 01 mảnh ghép hình tròn đường kính 4cm), 01 nõ điếu cày là hung khí bị cáo Nguyễn Văn B đã sử dụng để gây thương tích cho anh Trần Văn D1.
* Về trách nhiệm dân sự:
- Bị cáo Nguyễn Văn B đã tự nguyện bồi thường cho anh Trần Văn D1 số tiền 5.000.000 đồng, anh D1 đã nhận đủ và không có yêu cầu bị cáo B phải bồi thường thêm bất cứ một khoản tiền nào khác, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo B.
- Do chiếc điếu cày bằng tre trước đó đã bị nứt, vỡ phải cuốn băng dính từ trước nên ông Đường k đề nghị định giá, không yêu cầu bị cáo B phải bồi thường.
Tại bản cáo trạng số 52/CT-VKSPY ngày 02 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn B về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm d khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự;
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên phát biểu luận tội giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh như đã nêu ở trên và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm d Khoản 2 Điều 134; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B từ 02 năm 08 tháng đến 02 năm 10 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên còn đề nghị về xử lý vật chứng và án phí đối với bị cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Điều tra viên của Cơ quan điều tra – Công an thành phố P, Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về khởi tố vụ án, khởi tố bị can, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, áp dụng biện pháp ngăn chặn, lấy lời khai của bị can và những người tham gia tố tụng, kết luận điều tra, ban hành cáo trạng. Thời hạn điều tra, truy tố đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Xét thấy tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình, cụ thể: Do mâu thuẫn nhỏ nhặt trong quá trình uống rượu về việc ngày sinh, ngày mất của Bác H1, giữa Nguyễn Văn B với Trần Văn D1 đều trú tại phường N, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc. Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 06 tháng 10 năm 2023, tại nhà riêng của ông Nguyễn Văn Đ ở phường N, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc, Nguyễn Văn B có hành vi dùng 01 chiếc điếu cày bằng tre đã cũ, kích thước dài 55cm, đường kính 4cm vụt 02 cái vào đầu, vụt nhiều cái vào người và dùng chân đá 02 cái vào sườn anh Trần Văn D1 gây thương tích. Hậu quả: Anh D1 bị tổn hại sức khỏe là 9%.
[3] Xét lời khai nhận tội của bị cáo thừa nhận dùng hung khí gây thương tích cho bị hại như trên tuy nhiên lời khai của bị cáo không phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và kết quả thực nghiệm điều tra. Tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản sự việc, vật chứng thu giữ tại hiện trường, kết luận giám định thương tích của bị hại, biên bản thực nghiệm điều tra...Do đó có đủ cơ sở để kết luận Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên đã truy tố truy tố bị cáo Nguyễn Văn B theo khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, không oan sai.
Điều 134 Bộ luật Hình sự qui định: “1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể .... dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây .....:
a) Dùng ....hung khí nguy hiểm .....;
i) Có tính chất côn đồ;......
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:..........
d) Tái phạm nguy hiểm”.
[4] Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo Nguyễn Văn B không chịu tu dưỡng, rèn luyện, xuất phát từ những mâu thuẫn bột phát cá nhân đã cố ý dùng hung khí gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của cá nhân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn và gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Vì vậy hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
[5] Xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Đối với bị cáo Nguyễn Văn B là người có nhân thân rất xấu, bản thân bị cáo đã 02 lần bị kết án về các tội “Gián điệp” và “Trộm cắp tài sản công dân” với tình tiết tăng nặng “tái phạm”, chưa được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học nay lại tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý. Lần phạm tội này của bị cáo là “tái phạm nguy hiểm” là tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm d khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo đã không thành khẩn khai báo, tuy nhiên sau khi gây thương tích bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 5.000.000 đồng. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng: Không. Xét thấy, cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo mới đủ điều kiện để giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi bị đánh, bị hại anh Trần Văn D1 phải đi điều trị tại bệnh viện. Bị cáo Nguyễn Văn B đã tự nguyện bồi thường tiền bồi dưỡng sức khỏe cho anh D1 tổng số tiền là 5.000.000 đồng. Anh D1 đã nhận đủ và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[7] Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 chiếc điếu cày đã dập nát của ông Nguyễn Văn Đ là phương tiện bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.
[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn B là người cao tuổi có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
[9] Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên tại phiên tòa về tội danh cũng như mức hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng: Điểm d Khoản 2 Điều 134; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 02 (Hai) năm 10 (Mười) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy 01 (Một) chiếc điếu cày bằng tre và nõ điếu không còn giá trị sử dụng là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội.
Các vật chứng, tài sản nêu trên có đặc điểm như trong biên bản giao nhận tài sản, vật chứng số 72 lập ngày 10 tháng 5 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Nguyễn Văn B.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Anh Vũ |
Bản án số 59/2024/HS-ST ngày 05/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 59/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Bội gây thương tích cho người khác tỷ lệ 9%
