|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM Bản án số: 59/2024/HS-PT Ngày 30 tháng 9 năm 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn San.
Các Thẩm phán: Ông Trần Công Đoàn và ông Nguyễn Đức Thuỷ.
Những người tiến hành tố tụng khác tại phiên tòa:
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hợp - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 71/2024/TLPT- HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 đối với Phạm Đức L do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 57/2024/HS-ST ngày 29 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.
Bị cáo kháng cáo: Phạm Đức L, sinh năm 1990 tại tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: Thôn A C, xã B, huyện B, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T và bà Trần Thị T1; có vợ là Trần Thị G (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2013. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 22/3/2024; chuyển tạm giam từ ngày 29/3/2024; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Phạm Đức L là Luật sư Phạm Đức T2 và Luật sư Tạ Văn T3 thuộc Công ty L1; địa chỉ: Tầng B, số nhà D ngõ I T, phường T, quận C, Thành phố Hà Nội; có mặt
Người bị hại tham gia tố tụng không kháng cáo, không bị kháng nghị:
Anh Ngô Văn M, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do quen biết nhau từ trước nên vào khoảng cuối năm 2022, anh Ngô Văn M nhờ Phạm Đức L tìm mua hộ 01 chiếc xe mô tô trị giá khoảng từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng. Đến khoảng tháng 10/2023, L gọi điện thoại cho anh M, hỏi vay tiền để tiêu xài cá nhân nhưng anh M nói không có tiền cho L vay và nhắc lại việc nhờ L tìm mua hộ xe mô tô trước đó thì L đồng ý. Buổi sáng ngày 13/11/2023, khi đang ngồi uống nước cạnh quán cắt tóc thuộc tỉnh Tây Ninh (L không nhớ địa chỉ cụ thể), L nhìn thấy 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu SH150i, màu trắng, không đeo biển kiểm soát của 01 khách cắt tóc mà L không quen biết dựng trước cửa quán. Lúc này, do thiếu tiền tiêu xài cá nhân nên L nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh M bằng việc nói với anh M tìm được xe và yêu cầu chuyển cọc và L sẽ chiếm đoạt tiền cọc của anh M. L sử dụng số điện thoại “0335.355.xxx” gọi vào số điện thoại “0971.465.xxx” của anh M nói là đã tìm được 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu SH150i, màu trắng với giá 62.000.000 đồng và yêu cầu anh M chuyển tiền cọc 25.000.000 đồng. Sau đó L bảo anh M kết bạn với L qua mạng xã hội T4 (đăng ký bằng số điện thoại “0335.355.xxx") để thuận tiện cho việc liên lạc, trao đổi mua bán xe. Sau khi kết bạn với anh M, L gọi “video call” qua mạng xã hội T4 và quay video trực tiếp hình ảnh chiếc xe mô tô nhãn hiệu SH150i màu trắng, không mang biển kiểm soát để anh M xem, rồi chụp ảnh chiếc xe mô tô này gửi hình ảnh qua tin nhắn mạng xã hội Telegram cho anh M. Anh M đồng ý mua và hẹn L đến 23 giờ cùng ngày sẽ chuyển tiền cọc cho L. Đến 23 giờ L gọi điện bảo anh M chuyển tiền cọc vào tài khoản của L có số“0968112515” tại ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (M2) mang tên Phạm Đức L. Do tin tưởng chiếc xe mô tô trên là xe của L đang muốn bán nên anh M đã sử dụng tài khoản có số “0398886046” tại ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (M2) chuyển số tiền đặt cọc mua xe là 25.000.000 đồng vào tài khoản của L có số “0968112515” tại ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (M2) mang tên Phạm Đức L.
Sau khi nhận được tiền cọc nhưng do muốn chiếm đoạt của anh M số tiền lớn hơn nên L gọi điện thoại cho anh M nói dối là có người khác hỏi mua chiếc xe mô tô trên nhưng do L đã nhận tiền cọc của anh M nên sẽ bán xe cho anh M với điều kiện anh M phải chuyển đủ số tiền mua xe là 62.000.000 đồng cho L. Tuy nhiên, anh M không đồng ý và yêu cầu L chuyển trả anh M số tiền 25.000.000 đồng. Sau đó, L đã chuyển khoản trả anh M số tiền 25.000.000 đồng.
Sau đó đến khoảng 09 giờ ngày 14/11/2023, L gọi điện lại cho anh M qua mạng xã hội T4 nói dối là người hỏi mua xe lúc trước không mua xe nữa và hỏi anh M còn muốn mua chiếc xe mô tô trên không. Sau khi trao đổi, thỏa thuận, anh M đồng ý mua chiếc xe mô tô trên với giá 62.000.000 đồng và chuyển trước cho L số tiền đặt cọc là 50.000.000 đồng, số tiền còn lại sau khi nhận được xe sẽ thanh toán sau. Khoảng 18 giờ cùng ngày, anh M chuyển tiền đặt cọc mua xe là 50.000.000 đồng từ tài khoản có số“48210000723133” của anh M tại Ngân hàng B vào tài khoản có số “0968112515” của L tại ngân hàng M2. Sau khi nhận được tiền cọc của anh M thì L gọi điện thoại cho anh M nói dối là đang chuyển xe ra Bắc và 02 ngày nữa sẽ giao xe cho anh M tại khu vực cổng trào thị trấn V thuộc huyện L, tỉnh Hà Nam.Sau đó, anh M gọi điện thoại và gọi qua mạng xã hội Telegramcho Long để yêu cầu L gửi hình ảnh và xin số nhà xe nhiều lần nhưng L không nghe máy. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, L xóa hết tin nhắn với anh M qua mạng xã hội T4; khóa tài khoản Telegram, tài khoản mạng xã hội Z và tắt máy điện thoại để anh M không liên lạc được với L. Trong ngày 14, 15/11/2023, L đã tiêu xài cá nhân hết số tiền 50.000.000 đồng đã chiếm đoạt được của anh M. Ngày 18/3/2024, do không liên lạc được với L, anh M đã làm đơn tố giác L về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản đến Cơ quan CSĐT Công an huyện B.
Vật chứng thu giữ: Thu giữ của Phạm Đức L 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y21s, vỏ xanh dương, số IMEI1 861128054918831; IMEI2: 861128054918823, bên trong lắp sim1 số thuê bao “0335355166"; sim2 trạng thái không có dịch vụ. Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Đức L tại thôn A C, xã B, huyện B, tỉnh Hà Nam nhưng không thu giữ được tài liệu có liên quan.
Ngày 25/3/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện B ra Quyết định trưng cầu giám định trích xuất phục hồi dữ liệu tin nhắn điện thoại, tin nhắn ứng dụng Zalo, M1, T4, lịch sử các cuộc gọi đi và đến từ ngày 01/11/2023 đến ngày 30/11/2023 đối với chiếc điện thoại tạm giữ của Phạm Đức L. Tại Bản kết luận giám định số 638/KL-KTHS ngày 10/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “Phục hồi trích xuất được dữ liệu: Nội dung tin nhắn điện thoại, tin nhắn trong ứng dụng Zalo, M1, T4, lịch sử các cuộc gọi đi và đến được lưu trong 01 chiếc DVD có chứa 466 KB dung lượng”. Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã tiến hành khai thác đĩa DVD trên, tuy nhiên không thu giữ được các hình ảnh, tin nhắn liên quan đến vụ án. Ngoài ra, các dữ liệu khai thác trong đĩa DVD không có thông tin hay hình ảnh nào liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật khác.
Với hành vi nêu trên tại bản án hình sự sơ thẩm số 57/2024/HS-ST ngày 29/7/2024 Tòa án nhân dân huyện Bình Lục đã quyết định: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự; Điều 30; điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 14.
Tuyên bố bị cáo Phạm Đức L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Phạm Đức L 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ (ngày 22/3/2024).
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo.
Trong thời hạn luật định ngày 02/8/2024 bị cáo Phạm Đức L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam có quan điểm: Tại phiên tòa phúc thẩm gia đình bị cáo xuất trình tài liệu thể hiện đã trả thêm cho người bị hại 10.000.000đồng, xong không có căn cứ để xác định anh M đã nhận số tiền trên. Do vậy, không có căn cứ chấp nhận đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phạm Đức L. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Phạm Đức L giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Người bào chữa cho bị cáo có ý kiến: Bị cáo thành khẩn khai báo, gia đình bị cáo đã khắc phục bồi thường tiếp cho bị hại số tiền 10 triệu đồng, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, bố đẻ ốm đau, bị cáo đã ly hôn vợ và đang nuôi con nhỏ; đề nghị HĐXX xem xét áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về nội dung đơn kháng cáo của bị cáo Phạm Đức L trong thời hạn luật định, đơn thể hiện đầy đủ nội dung quy định tại khoản 2 Điều 332 của Bộ luật Tố tụng hình sự và hợp lệ, được cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Phạm Đức L khai nhận: Lợi dụng sự quen biết, tin tưởng của anh Ngô Văn M trong việc nhờ mình tìm mua hộ 01 chiếc xe mô tô nên khi không có tiền để sử dụng thì bị cáo Phạm Đức L đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của anh M qua việc nói dối anh M là L đã tìm được xe và yêu cầu anh M chuyển tiền đặt cọc để chiếm đoạt số tiền đặt cọc. Bằng việc gọi “video call” qua mạng xã hội T4 và quay video trực tiếp hình ảnh một chiếc xe mô tô nhãn hiệu SH150i màu trắng, không mang biển kiểm soát của một người đàn ông không quen biết; bị cáo L đã làm cho anh M tin tưởng và đồng ý mua chiếc xe với giá 62.000.000 đồng. Sau đó với thủ đoạn nói dối có người hỏi mua rồi không mua, L đã làm cho anh M tin tưởng và chuyển khoản 50.000.000 đồng tiền cọc mua xe cho L. Sau khi nhận được tiền cọc do anh M chuyển khoản thì L đã tắt máy để anh M không liên lạc được và xóa hết thông tin trao đổi với anh M trên mạng xã hội Telegram, số tiền chiếm đoạt bị cáo chi tiêu cá nhân hết.
Hành vi của bị cáo Phạm Đức L là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Xét lời khai của bị cáo, lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo không kháng cáo về tội danh.
[3] Đối với kháng cáo của bị cáo, nhận thấy: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tác động gia đình bồi thường khắc phục một phần cho người bị hại, bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt; bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự; gia đình bị cáo có ông nội tham gia kháng chiến được tặng thưởng huy chương là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào tính chất hành vi, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và quyết định xử phạt bị cáo 03 năm là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm gia đình bị cáo xuất trình tài liệu chuyển khoản qua ngân hàng đã bồi thường thêm cho bị hại anh Ngô Văn M số tiền 10 triệu đồng, tuy nhiên không có tài liệu chứng minh bị hại đã nhận được số tiền 10 triệu đồng nên HĐXX không có căn cứ xem xét; HĐXX ghi nhận bị cáo đã nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo biên lai gia đình bị cáo xuất trình tại phiên toà. Từ nhận định trên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phạm Đức L.
Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị cấp phúc thẩm không xem xét.
Án phí hình sự phúc thẩm bị cáo Phạm Đức L phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phạm Đức L, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 57/2024/HS-ST ngày 29/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự. Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 14.
Tuyên bố bị cáo Phạm Đức L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Phạm Đức L 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 22/3/2024.
2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Án phí: Ghi nhận bị cáo Phạm Đức L đã nộp số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai thu tiền số 0000639 ngày 29/7/2024 do chị Phạm Thị H nộp thay Phạm Đức L tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Lục.
Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Phạm Đức L phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Trần Văn San |
Bản án số 59/2024/HS-PT ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 59/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: lừa đảo chiếm đoạt tài sản
