|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 59/2024/HS - PT
Ngày: 25 - 9 - 2024
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vương Thị Hà.
Các Thẩm phán: Ông Cao Việt Hoàng và bà Nguyễn Thị Minh Thu.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đinh Văn Bình - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 và 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 99/2024/TLPT-HS ngày 22 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Lưu Xuân T và bị cáo Lưu Văn C do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2024/HS-ST ngày 04 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
* Các bị cáo có kháng cáo:
- Lưu Xuân T, sinh năm 1977; nơi ĐKHKTT: Khu phố T, phường T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng ngày 23/6/2022; con ông Lưu Xuân T1 và bà Nguyễn Thị K (đều đã chết); gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ ba; vợ là Nguyễn Thị Việt H, sinh năm 1979; có 02 con, lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 14/6/2022 đến 20/10/2023 được tại ngoại; có mặt.
- Lưu Văn C, sinh năm 1962; nơi ĐKHKTT: Khu phố T, phường T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/10; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng ngày 23/6/2022; con ông Lưu Xuân B và bà Vương Thị H1 (đã chết); bị cáo là con duy nhất; vợ là Nguyễn Thị L, sinh năm 1971; có 02 con, lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 1997; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 14/6/2022 đến 20/7/2022 được tại ngoại; có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Lưu Xuân T:
Luật sư Đỗ Hữu B1 và Luật sư Nguyễn Tiến H2 – thuộc Văn phòng L7 - Đoàn Luật sư thành phố H; có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lưu Xuân C1, sinh năm 1964; trú tại: Khu phố T, phường T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.
- Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1956; trú tại: Khu phố N, phường T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.
- Ông Ngô Văn C2, sinh năm 1956; trú tại: Khu phố N, phường T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.
- Ông Ngô Tiến V, sinh năm 1971; trú tại: Khu phố N, phường T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.
- Ông Đinh Bá L1, sinh năm 1973; trú tại: Khu phố T, phường T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.
- Ông Vương Xuân N, sinh năm 1970; trú tại: Khu phố T, phường T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.
- Ủy ban nhân dân phường T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đinh Bá L1 - Chủ tịch UBND phường.
- Ban Q, phường T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh – do ông Lưu Xuân G, Trưởng khu phố đại diện.
Trú tại: Khu phố T, phường T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.
(Ông N có mặt, 7 người liên quan còn lại vắng mặt)
Trong vụ án còn có bị cáo Nguyễn Hữu D, 09 bị hại và 11 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Các bị cáo Lưu Xuân T, Lưu Văn C và Nguyễn Hữu D trong thời gian công tác tại địa phương đã có những vi phạm sau:
Năm 2006, cấp ủy Chi bộ thôn T, xã T, huyện T (nay là khu phố T, phường T, thị xã T), tỉnh Bắc Ninh gồm Vương Văn H3, sinh năm 1954 là Bí thư chi bộ đến tháng 10/2006; Lưu Đình L2, sinh năm 1965 là Bí thư chi bộ từ tháng 11/2006. Ban quản lý thôn gồm Vương Xuân N, sinh năm 1970 là Trưởng thôn đến ngày 20/3/2006; Lưu Đình L2 là Trưởng thôn từ 20/3/2006 đến tháng 10/2006; Lưu Xuân T là Kế toán; Đinh Bá L1 sinh năm 1973 là Thủ quỹ.
Ngày 03/01/2006, Chi bộ thôn T do Vương Văn H3 là Bí thư đã tiến hành họp ban hành nghị quyết về việc giải quyết bán đất giãn dân khu Sau Ra, khu D và một số diện tích ao khác tạo nguồn kinh phí xây dựng đường giao thông nông thôn, Chi bộ tiến hành giao cho cấp ủy và Ban Q1 tổ chức thực hiện. Thực hiện nghị quyết trên, cấp ủy Chi bộ, Ban Q đã tiến hành bán đất, thu tiền và bàn giao đất khu Sau Ra, thôn T cho các cá nhân, hộ gia đình có nhu cầu mua đất ở gồm:
Các thửa đất đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm:
- Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1955 ở thôn T mua 292,3m² đất với giá 35.000.000 đồng. Hiện trạng diện tích đất trên thuộc thửa đất số 230, tờ bản đồ số 03. Năm 2015 thửa đất trên đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông T2, hiện đã xây nhà kiên cố.
- Ông Vương Đình C3, sinh năm 1956 trú tại thôn T (đã chết) mua 277,5m² đất cho con trai là Vương Mạnh C4 với giá 33.300.000 đồng. Hiện trạng diện tích đất trên thuộc thửa đất số 233, tờ bản đồ số 03. Năm 2015 đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông C4, hiện đã xây nhà kiên cố.
- Ông Vương Văn X, sinh năm 1962 trú tại thôn T (đã chết) mua 195m² đất với giá 23.400.000 đồng. Hiện trạng diện tích đất trên thuộc thửa đất số 232, tờ bản đồ số 03. Năm 2015 đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông X, hiện đã xây nhà kiên cố.
- Ông Lưu Đình H4, sinh năm 1963 trú tại thôn T mua 277,5m² đất với giá 33.300.000 đồng. Hiện trạng diện tích đất trên thuộc thửa đất số 231, tờ bản đồ số 03. Năm 2015 đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Lê Thị H5, hiện đã xây nhà kiên cố.
Các thửa đất không đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm:
- Ông Vương Văn K1, sinh năm 1976 trú tại thôn T đứng tên mua hộ bà Võ Hải Y, sinh năm 1963 trú tại số C đường B, phường V, quận B, thành phố Hà Nội và ông Nguyễn Trí D1, sinh năm 1984 trú tại phố N, phường G, quận L, thành phố Hà Nội diện tích 2.379m² đất với giá 285.500.000 đồng, toàn bộ tiền mua đất là của bà Y và ông D1. Số tiền mua đất được nộp về Ban Q và UBND xã T, cụ thể:
Số tiền ông K1 nộp về thôn được thể hiện tại các phiếu thu: Ngày 25/01/2006 nộp 10.000.000 đồng có chữ ký của N, T, L1; Ngày 22/02/2006 nộp 30.000.000 đồng có chữ ký của T; Ngày 26/02/2006 nộp 16.400.000 đồng có chữ ký của T; Ngày 27/3/2006 nộp 3.600.000 đồng có chữ ký của T. Nội dung nộp tiền đấu thầu đất ở khu Sau Ra. Tổng số tiền nộp về thôn là 60.000.000 đồng.
Số tiền bà Y, ông D1, ông K1 nộp về xã được thể hiện tại các phiếu thu: Ngày 19/3/2006 nộp 144.000.000 đồng có chữ ký của Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1958 trú tại thôn N, xã T (nguyên là Kế toán xã) và Ngô Văn C2, sinh năm 1956 trú tại thôn N, xã T (nguyên là Thủ quỹ xã). Nội dung Võ Hải Y nộp tiền mua đất thôn T. Phiếu thu ngày 26/3/2006 nộp 81.500.000 đồng có chữ ký của Nguyễn Văn Đ và Ngô Văn C2. Nội dung Nguyễn Trí D1 nộp tiền mua đất thôn T. Tổng số tiền thu được 225.500.000 đồng được nhập vào sổ quỹ tiền mặt của xã.
Ngày 10/7/2006, Ban Q gồm Lưu Đình L2 là Trưởng thôn, Lưu Xuân T là Kế toán đã tiến hành lập biên bản bàn giao phần diện tích đất trên cho bà Y và ông D1. Sau khi nhận bàn giao đất, bà Y và ông D1 đã chia thửa đất làm 02 phần, mỗi người sử dụng 1.189,5m².
Hiện trạng: Diện tích đất trên thuộc các thửa đất số 06; 08; 09; 11; 13; 17 tờ bản đồ số 03, hiện đã xây tường bao quanh sử dụng làm đất vườn trồng cây, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Ông Nguyễn Văn L3, sinh năm 1970 trú tại thôn T mua 1.441,3m² đất với giá 171.920.000 đồng thể hiện tại các phiếu thu: Ngày 25/01/2006 nộp 30.000.000 đồng có chữ ký của N, T, L1; Ngày 26/01/2006 nộp 10.000.000 đồng có chữ ký của T, L1. Ngày 19/02/2006 nộp 65.340.000 đồng. Ngày 01/3/2006 nộp 66.580.000 đồng có chữ ký của T, L1. Nội dung nộp tiền đấu thầu đất ở khu Sau Ra.
Sau khi mua đất, ông Lý T3 đo đạc và bán cho bà Vương Thị T4, sinh năm 1983 trú tại tổ A, phường S, quận L, thành phố Hà Nội 544,5m² đất. Sau khi bán đất cho bà T4, ông L3 đã mang giấy tờ trước đó đã mua đất của thôn T nhờ tách thành hai bộ thể hiện thôn bán đất cho ông L3 và cho bà T4 riêng biệt để thuận tiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau này. Vì vậy Ban Q đã viết lại phiếu thu ngày 19/02/2006 thể hiện bà T4 nộp 65.340.000 đồng. Thực tế bà T4 không mua đất của thôn T mà mua đất của ông L3.
Hiện trạng: Diện tích đất trên của hộ ông L3 thuộc các thửa đất số 02; 04; 05 tờ bản đồ số 03. Phần đất đã bán cho bà T4 đã xây nhà kiên cố và một phần là đất vườn trồng cây. Phần diện tích đất còn lại hiện gia đình ông L3 đã xây dựng nhà ở và sử dụng để trồng cây. Hiện chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Trong giai đoạn 2007-2009, cấp ủy Chi bộ thôn T gồm Lưu Đình L2 là Bí thư chi bộ; Đỗ Hoàng S, sinh năm 1963 là Phó bí thư. Ban quản lý thôn gồm Lưu Xuân T là Trưởng thôn; Lưu Văn C là Kế toán; Nguyễn Hữu D là Thủ quỹ. Ngày 03/01/2007, Chi bộ thôn T do Lưu Đình L2 là Bí thư đã tiến hành họp ban hành nghị quyết về việc giải quyết đất giãn dân khu Dộc, khu Cửa làng và một số diện tích ao khác tạo nguồn kinh phí xây dựng đường giao thông nông thôn giai đoạn 3, giao cho cấp ủy và chính quyền xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện. Thực hiện nghị quyết của Chi bộ, trong các ngày 07/02/2007 và 17/8/2007 cấp ủy Chi bộ, Ban Q đã tiến hành tổ chức đấu thầu (bán đất) thu tiền một lần và bàn giao đất khu vực T, thôn T cho các hộ gia đình có nhu cầu mua đất ở, cụ thể:
Các thửa đất đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm:
- Ông Đỗ Văn Đ1, sinh năm 1968 trú tại thôn T mua 360m² đất với giá 79.200.000 đồng. Sau đó, ông Đoàn T5 bán cho bà Vương Thị H6, sinh năm 1983 và ông Đỗ Quý L4, sinh năm 1966 cùng ở thôn.
Hiện trạng: Diện tích đất trên thuộc các thửa đất số 198, 233, 234 tờ bản đồ số 05. Năm 2015 đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Đ1 và bà H6. Năm 2020 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông L4.
- Ông Vương Văn K2, sinh năm 1965 trú tại thôn T mua 200m² đất với giá 42.000.000 đồng. Hiện trạng diện tích đất trên thuộc thửa đất số 196, tờ bản đồ số 05. Năm 2015 đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông K2, hiện ông K2 đã xây dựng nhà kiên cố.
- Bà Vương Thị L5, sinh năm 1962 trú tại thôn T mua 250m² đất với giá 50.000.000 đồng. Hiện trạng diện tích đất trên thuộc thửa đất số 195, tờ bản đồ số 05. Năm 2015 đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà L5, hiện bà L5 đã xây nhà kiên cố và một phần làm kho xưởng.
- Ông Đỗ Quý V1, sinh năm 1969 trú tại thôn T mua 140m² đất với giá 70.290.000 đồng. Hiện trạng diện tích đất trên thuộc thửa đất số 193, tờ bản đồ số 05. Năm 2015 đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông V1, hiện đã xây nhà kiên cố.
- Ông Vương Văn T6, sinh năm 1960 trú tại thôn T mua 81m² đất với giá 52.812.000 đồng. Hiện trạng diện tích đất trên thuộc thửa đất số 192, tờ bản đồ số 05. Năm 2015 đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông T6, hiện đã xây nhà kiên cố.
- Lưu Đình L2, sinh năm 1965, trú tại thôn T mua 81m² đất với giá 35.235.000 đồng. Hiện trạng diện tích đất trên thuộc thửa đất số 191, tờ bản đồ số 05. Năm 2015 đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ Lệnh, hiện đã xây nhà kiên cố.
- Ông Đỗ Trọng P, sinh năm 1980 trú tại thôn T mua 81m² đất với giá 40.500.000 đồng. Hiện trạng diện tích đất trên thuộc thửa đất số 190, tờ bản đồ số 05. Năm 2015 đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông P, hiện đã xây nhà kiên cố.
Các thửa đất không đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm:
- Ông Nguyễn Đức T7, sinh năm 1970 trú tại thôn T mua 200m² đất với giá 50.200.000 đồng thể hiện tại phiếu thu ngày 07/02/2007 có chữ ký của T, C, D. Nội dung: Nguyễn Đức T7 nộp tiền đấu thầu đất dài hạn khu vực T. Ngày 06/5/2007, Ban quản lý thôn gồm T, C đã tiến hành bàn giao đất cho ông T7.
Hiện trạng: Diện tích đất trên thuộc thửa đất số 199 và 204; tờ bản đồ số 05, hiện vẫn là bãi đất trống, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Ông Lưu Văn N1, sinh năm 1959 trú tại thôn T mua 1.500m² đất với giá 300.000.000 đồng thể hiện tại phiếu thu ngày 07/02/2007 có chữ ký của T, C, D. Nội dung: Lưu Văn N1 nộp tiền đấu thầu đất dài hạn khu vực T. Ban Q đã tiến hành bàn giao đất cho ông N1.
Hiện trạng: Diện tích đất trên thuộc thửa đất số 194; tờ bản đồ số 05. Sau khi mua đất, ông N1 đã bán lại cho con rể là Nguyễn Văn T8, sinh năm 1970 trú tại thôn M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Sau đó ông T8 đã tự đo đạc tách thửa đất bán cho nhiều người gồm: Lưu Xuân C5, sinh năm 1985; Nguyễn Văn C6 sinh năm 1981; Lưu Đình T9 sinh năm 1985; Lưu Đình L6 sinh năm 1990 đều trú tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh và Trần Chí T10, sinh năm 1981 trú tại thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh phúc mỗi người một thửa. Hiện hộ ông C6, ông T9, ông L6 đã xây dựng nhà kiên cố, hộ ông T10 đã dựng nhà xưởng. Toàn bộ phần diện tích đất trên chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Về xác định thiệt hại: Tại Công văn số 52 ngày 13/3/2023 của phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T xác định: Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các thửa đất số 230, 231, 232, 233 tờ bản đồ số 03; số 190, 191, 192, 193, 195, 196, 198, 233, 234 tờ bản đồ số 05 năm 2015 là phù hợp với quy định và hướng dẫn Liên ngành của tỉnh Bắc Ninh số 04/LN: STNMT-STC-STP-CT ngày 24/10/2013. Các hộ gia đình, cá nhân đã hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ tài chính theo thông báo của C9 (nay là Chi cục thuế khu vực G1) trước khi được cấp giấy chứng nhận theo quy định.
Về quy hoạch: Căn cứ Quyết định số 836/QĐ-UBND ngày 10/12/2019 của Chủ tịch UBND tỉnh B phê duyệt đồ án điều chỉnh quy hoạch chung đô thị H7 và phụ cận, huyện T đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 là phù hợp với quy hoạch đất ở. Căn cứ Khoản 3, Điều 23 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; Khoản 2, Điều 18 Thông tư số 02/2015/TT-BTNMT ngày 27/01/2015 của Bộ T14 và kết quả xác minh thì tại thời điểm kiểm tra:
Ông Nguyễn Văn L3 không đủ điều kiện để được xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở do chưa xây dựng nhà ở ổn định trên thửa đất số 02, 05 và đã có thửa đất ở khác trên địa bàn xã T (là thửa đất số 110, tờ bản đồ số 03, diện tích 310,6m² được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 22/12/1998).
Bà Võ Hải Y, ông Nguyễn Trí D1, ông Nguyễn Đức T7 không đủ điều kiện để được xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở do chưa xây dựng nhà ở ổn định trên đất.
Ông Lưu Văn N1 không đủ điều kiện để được xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở do đã có thửa đất ở khác trên địa bàn xã T (là thửa đất số 57, tờ bản đồ số 03, diện tích 300m² được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 22/12/1998).
Đối với những hộ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính với Nhà nước. Vì vậy không gây thiệt hại cho Nhà nước, không gây thiệt hại cho người dân mua đất.
Đối với những hộ không đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thiệt hại là số tiền người dân bỏ ra để mua đất (Bà Võ Hải Y và ông Nguyễn Trí D1 là 285.500.000 đồng; ông Nguyễn Văn L3 là 171.920.000 đồng; ông Nguyễn Đức T7 là 50.200.000 đồng; ông Lưu Văn N1 là 300.000.000 đồng).
Tổng số tiền gây thiệt hại cho người dân mua đất khu Sau Ra là 457.420.000 đồng. Tổng số tiền gây thiệt hại cho người dân mua đất khu Thùng Đấu là 350.200.000 đồng.
Cũng trong giai đoạn từ năm 2007 - 2009 thực hiện nghị quyết của Chi bộ. Cấp ủy chi bộ, Ban quản lý thôn đã bán một số diện tích đất ao khác để người dân làm nhà ở, cụ thể:
- Bà Vương Thị H8, sinh năm 1959 trú tại thôn T mua 1.229m² đất ao giếng Đ2 với giá 90.000 đồng/m², thời gian sử dụng bắt đầu từ ngày 01/01/2011, trong thời gian từ tháng 02/2007 đến 01/01/2011 chưa sử dụng được giảm số tiền 10.000.000 đồng. Ngày 02/02/2007, Ban Q lập Biên bản hợp đồng đấu thầu dài hạn ao giếng đình (trong hợp đồng có chữ ký của T, C, S). Ngày 30/8/2008, Ban quản lý thôn gồm T, C tiến hành đo đạc, bàn giao phần diện tích đất ao cho bà H8 và lập biên bản bàn giao đất có chữ ký của T, C. Đối với số tiền mua đất, bà H8 đã nộp 100.000.000 đồng thể hiện tại các phiếu thu: Ngày 20/6/2008 nộp 75.000.000 đồng, và phiếu thu ngày 30/8/2008 nộp 25.000.000 đồng. Các phiếu thu đều có chữ ký của T, C, D.
Hiện trạng: Diện tích đất ao giếng Đ2 mà bà H8 mua của Ban Q thuộc thửa đất số 169, 192, tờ bản đồ số 03. Sau đó bà H8 đã chia phần diện tích 689m² cho ông Lưu Xuân T11, sinh năm 1982 trú tại thôn T là cháu bà H8. Ông T11 đã san lấp toàn bộ diện tích và đã xây nhà kiên cố. Phần diện tích còn lại, bà H8 cho con trai là Lưu Xuân S1 sử dụng. Hiện thửa đất đã được san lấp một phần, phần còn lại vẫn là đất ao. Toàn bộ diện tích bà H8 đã mua đều chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Ông Nguyễn Văn L3, sinh năm 1970 trú tại thôn T mua 2070m² đất ao Nghè với giá 105.000 đồng/m², thời gian sử dụng bắt đầu từ ngày 01/01/2011, trong thời gian từ tháng 02/2007 đến ngày 01/01/2011 chưa sử dụng sẽ được giảm số tiền 20.000.000 đồng. Ngày 02/02/2007, Ban Q lập Biên bản hợp đồng đấu thầu dài hạn ao Nghè (trong hợp đồng có chữ ký của T, C, S1). Ngày 27/12/2007, Ban quản lý thôn gồm T, C tiến hành đo đạc, bàn giao phần diện tích đất ao Nghè cho ông L3 và lập biên bản bàn giao đất có chữ ký của T, C. Phần xác nhận của UBND xã có chữ ký của ông Lưu Xuân C1 là Chủ tịch UBND xã T. Đối với số tiền mua đất, ông L3 đã nộp 197.300.000 đồng thể hiện tại các phiếu thu: Ngày 21/5/2007 nộp 160.000.000 đồng và phiếu thu ngày 02/01/2008 nộp 37.300.000 đồng đều với lý do nộp đấu thầu đất ao dài hạn khu bãi ao Nghè. Các phiếu thu đều có chữ ký của T, C, D.
Hiện trạng: Diện tích đất ao bãi N2 mà ông L3 mua của Ban Q thuộc thửa đất số 212, 226 tờ bản đồ số 02. Phần diện tích 400m² thuộc thửa đất số 212 đã được san lấp, phần diện tích còn lại 1670m² vẫn là đất ao. Chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Ông Vương Văn K3, sinh năm 1963 trú tại thôn T mua 420m² đất ao đồng Trầm với giá 80.000 đồng/m², thời gian sử dụng bắt đầu từ 01/01/2011. Ngày 20/7/2008, Ban Q lập Biên bản hợp đồng đấu thầu dài hạn ao đồng Trầm. Ngày 12/4/2009, Ban quản lý thôn gồm T, C tiến hành đo đạc, bàn giao phần diện tích đất ao đồng Trầm cho ông K3 và lập biên bản bàn giao đất có chữ ký của T, C. Đối với số tiền mua đất, ông K3 đã nộp 33.500.000 đồng thể hiện tại các phiếu thu: Ngày 25/7/2008 nộp 25.500.000 đồng; Ngày 21/3/2009 nộp 5.000.000 đồng; Ngày 12/4/2009 nộp 3.000.000 đồng; Lý do nộp đấu thầu dài hạn ao đồng Trầm, tất cả các phiếu thu đều có chữ ký của T, C, D.
Hiện trạng: Diện tích đất ao đồng T13 mà ông K3 mua của Ban quản lý thôn T thuộc thửa đất số 35, tờ bản đồ số 03. Toàn bộ phần diện tích đất ao đã được san lấp, trồng cây hoa màu, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Ông Lưu Văn C7, sinh năm 1963 và ông Lưu Văn T12, sinh năm 1961 đều trú tại thôn T mua chung 1.209,9m² đất ao đồng Trầm với giá 80.000 đồng/m², thời gian sử dụng bắt đầu từ 01/01/2011. Ngày 20/7/2008, Ban Q đã lập Biên bản hợp đồng đấu thầu dài hạn ao đồng Trầm. Ngày 20/02/2009 Ban Q2, bàn giao phần diện tích đất ao đồng Trầm cho ông C7 610m² và ông T12 599,9m² và đều lập biên bản bàn giao đất có chữ ký của T, C, S1. Đối với số tiền mua đất, ông C7 và ông T12 đã nộp 84.500.000 đồng thể hiện tại các phiếu thu: Ngày 19/6/2008 nộp 58.000.000 đồng; Ngày 27/8/2008 nộp 4.000.000 đồng; Ngày 01/10/2008 nộp 2.000.000 đồng; Ngày 07/11/2008 nộp 10.000.000 đồng; Ngày 27/12/2008 nộp 5.000.000 đồng; Ngày 25/01/2009 nộp nộp 2.000.000 đồng; Ngày 26/4/2009 nộp 3.500.000 đồng. Lý do nộp đấu thầu dài hạn ao đồng Trầm. Tất cả các phiếu thu đều có chữ ký của T, C, D.
Hiện trạng: Diện tích đất ao đồng Trầm mà ông C7 và ông T12 đã mua của Ban Q thuộc thửa đất số 35, tờ bản đồ số 03. Toàn bộ phần diện tích đất ao đã được san lấp, trồng cây hoa màu, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tại Công văn số 67 ngày 17/5/2022 của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T xác định: Căn cứ quyết định số 221/QĐ-UBND ngày 22/7/2021 của UBND tỉnh B về việc phê duyệt quy hoạch sử dụng đất thời kỳ 2021 - 2030 của huyện T, tỉnh Bắc Ninh; Căn cứ Luật Đất đai năm 2013; Khoản 3, Điều 23 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; Khoản 19, Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ và Khoản 2 Điều 18 Thông tư số 02/2015/TT-BTNMT ngày 27/01/2015 của Bộ T14 thì:
Hộ bà Vương Thị H8 mua đất thuộc các thửa số 169 và 192, tờ bản đồ số 03 hiện được quy hoạch là đất ở tại nông thôn. Không đủ điều kiện xem xét công nhận và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với mục đích đất ở do phần lớn hiện trạng vẫn là đất ao và vườn trồng cây, ngoài ra bà H8 đã có thửa đất ở khác trên địa bàn xã T.
Hộ ông Vương Văn K3, Lưu Văn T12 và Lưu Văn C7 mua đất thuộc một phần thửa đất số 35, tờ bản đồ số 03, hiện được quy hoạch là đất nuôi trồng thuỷ sản. Hộ ông Nguyễn Văn L3 mua đất thuộc các thửa số 212 và 226, tờ bản đồ số 02, hiện thửa đất số 226 được quy hoạch là đất nuôi trồng thuỷ sản, thửa số 212 được quy hoạch là đất trồng cây hàng năm khác. Không đủ điều kiện xem xét công nhận và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với mục đích đất ở cho hộ ông K3, ông T12, ông C7, ông Lý D2 hiện trạng vẫn là ao, vườn, không phù hợp quy hoạch đất ở và ngoài ra các chủ sử dụng trên đã có nhà ở, đất ở khác trên địa bàn xã T.
Đối với việc bán một số diện tích đất ao của lãnh đạo thôn T. Sau khi có đơn tố giác của công dân trong thôn, ngày 25/9/2008 UBND huyện T quyết định thành lập đoàn xác minh liên ngành. Đến ngày 28/02/2011 UBND huyện T ra Quyết định số 72/QĐ-UBND về việc thu hồi đối với diện tích 4.928,9m² đất (ao Nghè, ao Đ2, ao Đ) mà Ban Q đã bán cho các hộ dân nêu trên đồng thời giao cho UBND xã T và Ban Q có trách nhiệm hoàn trả lại tiền cho các hộ mua đất. Thực hiện quyết định sau thanh tra của UBND huyện T, ngày 09/5/2011 UBND xã T đã thu hồi được của hộ ông Lý phần diện tích 400m² đất ao đã san lấp và bồi thường cho ông L3 số tiền 300.000.000 đồng được lấy từ ngân sách xã. Ngày 10/9/2012, UBND xã T ban hành quyết định số 66 hủy bỏ biên bản giao đất của Ban Q đã giao trái thẩm quyền cho các hộ mua đất ao nêu trên. Đối với phần diện tích đất còn lại của hộ ông L3 vẫn là đất ao và đất của các hộ gia đình khác do UBND xã không có kinh phí để chi trả và khi đó thửa đất của hộ gia đình bà H8 đã xây dựng nhà kiên cố nên UBND xã T không thu hồi được. Do không thu hồi được đất nên ngày 12/9/2012, Chủ tịch UBND xã T là Lưu Xuân C1 đã ký hợp đồng về việc giao thầu ao thời hạn 05 năm kể từ ngày 12/9/2012 đến 12/9/2017 đối với các hộ Vương Thị H8, Nguyễn Văn L3, Vương Văn K3, Lưu Văn C7. Đối với các hợp đồng giao thầu ao thời hạn 05 năm nêu trên thì các hộ gia đình không phải thực hiện nghĩa vụ tài chính gì với xã. Cùng ngày UBND xã Trạm Lộ gồm Lưu Xuân C1 - Chủ tịch UBND xã; Ngô Tiến V – Phó Chủ tịch UBND xã; Lưu Văn B2 cán bộ địa chính xã; Nguyễn Văn Đ Kế toán xã; Đinh Bá L1 cán bộ văn phòng xã ký biên bản cam kết với 04 hộ dân nêu trên trong vòng 05 năm từ 12/9/2012 đến 12/9/2017 UBND xã có trách nhiệm làm thủ tục hợp pháp hóa diện tích ao bán trái thẩm quyền cho các hộ dân. Nếu đến hết ngày 12/9/2017 UBND xã T không thực hiện được cam kết trên thì diện tích ao bán trái thẩm quyền sẽ thuộc về 04 hộ sử dụng lâu dài. UBND xã không thu tiền của các hộ dân.
Đối với hộ ông Nguyễn Văn L3 phần diện tích đất còn lại đã mua của Ban Q không đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên hộ ông L3 đã được bồi thường 300.000.000 đồng, vì vậy hộ ông L3 không bị thiệt hại. Đối với những hộ không đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thiệt hại là số tiền người dân bỏ ra để mua đất (Bà Vương Thị H8 100.000.000 đồng; ông Vương Văn K3 33.500.000 đồng; ông Lưu Văn C7 và Lưu Văn T12 là 84.500.000 đồng). Tổng số tiền gây thiệt hại cho người dân mua đất khu vực ao Đ2, ao N2, ao Đồng T13 là 218.000.000 đồng.
Hành vi bán đất trái thẩm quyền mà bị cáo T gây thiệt hại cho người mua đất năm 2006 là các ông L3, bà Y, ông D1 với số tiền thiệt hại là 457.420.000 đồng. Từ năm 2007 - 2009 gây thiệt hại cho ông T7, ông N1 với số tiền là 350.200.000 đồng và gây thiệt hại do việc bán ao N2, ao giếng Đ2, ao Đồng Trầm với số tiền là 218.000.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo T gây thiệt hại là 1.025.000.000 đồng.
Hành vi bán đất trái thẩm quyền mà bị cáo C, bị cáo D gây thiệt hại cho người mua đất năm 2007 là các ông T7, Nhuần với số tiền thiệt hại là 350.200.000 đồng và gây thiệt hại do việc bán ao N2, ao giếng Đ2, ao Đồng Trầm với số tiền là 218.000.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo C, bị cáo D gây thiệt hại là 568.200.000 đồng.
Đối với toàn bộ số tiền bán đất, Ban quản lý thôn T đều nhập vào sổ quỹ tiền mặt của thôn để chi trả cho việc xây dựng đường giao thông nông thôn, những công trình phúc lợi và những công việc chung của thôn. Đối với số tiền bán đất khu Sau ra và khu vực Thùng Đấu một phần được nộp về UBND xã T. Số tiền nộp về xã được nhập vào sổ quỹ tiền mặt của xã sử dụng chi cho những công việc chung của UBND xã T, không có tư lợi cá nhân.
Phía những bị hại là người tham gia mua đất nhưng không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trình bày:
Bà Võ Hải Y; ông Nguyễn Trí D1; ông Nguyễn Văn L3; ông Nguyễn Đức T7; ông Lưu Văn N1; bà Vương Thị H8; ông Vương Văn K3; ông Lưu Văn C7; ông Lưu Văn T12 trình bày lời khai về việc mua đất của thôn T phù hợp với lời khai của các bị cáo. Những bị hại trong vụ án không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thiệt hại mà chỉ đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với những thửa đất đã mua của Ban Q. Bị hại cũng đề nghị Tòa án xem xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là những người đã mua lại đất từ những cá nhân đã đấu thầu đất với địa phương đề nghị được Cơ quan nhà nước cấp sổ đỏ đối với diện tích đất đã mua, không có yêu cầu gì khác.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 42/2024/HS-ST ngày 04 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành đã xét xử và tuyên bố các bị cáo Lưu Xuân T, Lưu Văn C phạm tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”.
- - Áp dụng khoản 3 Điều 356; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lưu Xuân T 05 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ đi số ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/6/2022 đến ngày 20/10/2023.
- - Áp dụng khoản 2 Điều 356; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ Luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lưu Văn C 04 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ đi số ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/6/2022 đến 20/7/2022.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên tội danh và hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Hữu D; tuyên xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 10/6/2024, bị cáo Lưu Văn C kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo. Ngày 17/6/2024, bị cáo Lưu Xuân T kháng cáo toàn bộ bản án, đề nghị hủy bản án sơ thẩm do sai sót trong thủ tục tố tụng và không đề cập giải quyết các vấn đề thuộc nội dung vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Bị cáo T và bị cáo C đều thừa nhận đã thực hiện hành vi giao bán đất trái thẩm quyền như nội dung Bản án sơ thẩm đã nêu là đúng. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo không nhận thức được đầy đủ trách nhiệm, quyền hạn vị trí công tác của bản thân, chỉ làm theo chỉ đạo của cấp trên. Cụ thể bị cáo C khai làm theo chỉ đạo của bị cáo T, còn bị cáo T khai làm theo chỉ đạo của UBND xã T mà trực tiếp là ông Lưu Xuân C1 – Chủ tịch xã. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội không vì tư lợi cá nhân mà vì lợi ích chung của địa phương.
Bị cáo T khai ông C1 đã chỉ đạo bị cáo tại phòng ông C1 làm việc và chỉ đạo miệng, không có văn bản. Sau khi bán đất, Ban quản lý thôn đã chuyển hai đợt, tổng số 607.000.000 đồng tiền bán đất cho UBND xã và UBND xã cũng trực tiếp thu 225.500.000 đồng của người dân mua đất. Do vậy bị cáo T đề nghị xem xét trách nhiệm của ông C1 trong vụ án. Ông C1 mới là người có vai trò chính, bị cáo chỉ có vai trò thứ yếu, là đồng phạm nghe theo sự chỉ đạo của xã nên mới dẫn đến hành vi phạm tội.
Bị cáo C đề nghị xem xét hoàn cảnh, nguyên nhân phạm tội của bị cáo, giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo. Bị cáo C xuất trình văn bản xác nhận của Công an khu phố H9 về việc bị cáo có hành vi tố giác tội phạm, giúp cơ quan điều tra phát hiện và bắt giữ tội phạm; đơn của bị hại và nhân dân địa phương xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo được hưởng án treo; bị cáo cũng đóng góp vào quỹ phòng chống thiên tai của thôn và xã để ủng hộ cho bà con bị thiệt hại trong cơn bão số 3.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo C được giải thích có quyền xin miễn án phí nhưng bị cáo không xin miễn và tự nguyện chịu án phí như án sơ thẩm đã tuyên.
Người liên quan là ông Vương Xuất N3 khai nhận: Ông làm Trưởng thôn T đến tháng 3/2006, lúc đó bị cáo T làm Kế toán thôn. Khi đó Ban quản lý thôn có giao bán đất khu Sau Ra theo sự chỉ đạo của ông Lưu Xuân C1 – Chủ tịch xã, chỉ đạo bằng lời nói, không có văn bản.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa sau khi xem xét toàn bộ nội dung vụ án, nội dung kháng cáo của các bị cáo; căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, vai trò của các bị cáo trong vụ án; căn cứ nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo; xét thấy bị cáo C xuất trình thêm các tình tiết giảm nhẹ mới phát sinh tại phiên tòa phúc thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo T.
- - Chấp nhận nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo C, sửa án sơ thẩm theo hướng giảm từ 6 đến 9 tháng tù cho bị cáo C.
- - Không chấp nhận nội dung kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo C.
Ý kiến tranh luận của bị cáo C: Do nhận thức không đầy đủ các quy định của pháp luật mà bị cáo phạm tội, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội theo sự chỉ đạo của cấp trên, không tư lợi, đến nay bản thân đã nhận thức rõ được sai phạm. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
Ý kiến tranh luận của bị cáo T và người bào chữa: Đề nghị hủy Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành để điều tra lại với các lý do:
- Bỏ lọt tội phạm là Đảng ủy, Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND) xã T trong việc ra chủ trương và chỉ đạo Cấp ủy, Ban quản lý thôn T thực hiện việc giao, bán đất trái thẩm quyền tại thôn T để lấy nguồn kinh phí chi trả cho dự án làm đường giao thông nông thôn tại thôn T do UBND xã T làm chủ đầu tư.
- - Với vai trò là Chủ tịch xã ông C1 đã ủy quyền cho Lưu Xuân T - Trưởng thôn trực tiếp giao dịch với nhà thầu làm đường; ông C1 nghiệm thu hoàn thành đưa vào sử dụng phần đường giao thông nông thôn thôn T ngày 20/5/2006 với Công ty TNHH X1.
- - Ông C1 ký xác nhận vào Biên bản bàn giao Trưởng thôn ngày 20/3/2006 giữa ông Vương Xuân N với ông Lưu Đình L2. Tại Biên bản này đã thể hiện rõ việc thôn T bán đất khu Sau Ra. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông N (Trưởng thôn T đến 03/2006) khai ông C1 chỉ đạo ông N bán đất.
- - Thôn T đã nộp một phần tiền bán đất về UBND xã T và người dân là bà Võ Hải Y và ông Nguyễn Trí D1 trực tiếp nộp tiền mua đất cho UBND xã T.
- - Ghi chép trong sổ tay của ông T và trình bày của một số công dân – nguyên là đảng ủy viên xã T cung cấp cho Luật sư thể hiện UBND xã T, đứng đầu là ông Lưu Xuân C1 chỉ đạo thôn T bán đất trong cuộc họp tại UBND xã.
- - Ông C1 ký xác nhận vào Biên bản bàn giao đất ở cho ông Nguyễn Văn L3 ngày 31/12/2007. UBND xã hoàn trả lại cho ông Nguyễn Văn L3 300.000.000 đồng từ nguồn kinh phí ngân sách xã T theo Quyết định số 72 ngày 28/02/2011 của UBND huyện T.
- - Ngày 12/9/2012, UBND xã T ký Biên bản cam kết và ký Hợp đồng kinh tế về việc đấu thầu sông ao có thời hạn 05 năm với bốn hộ mua ao.
- Tội danh: Cấp ủy thôn, Ban quản lý thôn thực hiện việc giao bán đất để lấy nguồn kinh phí chi trả việc làm đường giao thông có sự lãnh đạo của Đảng ủy, UBND xã T. Các bị cáo vì thực hiện nhiệm vụ cấp trên giao, cũng không phải vì vụ lợi cá nhân mà giao bán đất, nên các bị cáo không phạm tội lợi dụng chức vụ quyền hạn để làm trái, đề nghị xem xét lại tội danh cho các bị cáo.
- Đề nghị xem xét lại việc xác định thiệt hại đối với các hộ mua đất nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc xác định thiệt hại đối với các hộ mua đất không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như cấp sơ thẩm nêu là không có căn cứ. Bởi vì theo các văn bản của UBND tỉnh B về việc xem xét xử lý đối với đất giao không đúng thẩm quyền từ năm 2004 đến trước ngày 1/7/2014 thì xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với trường hợp đất đã sử dụng ổn định, phù hợp với quy hoạch. Do vậy việc cáo trạng xác định thiệt hại của các hộ là số tiền bỏ ra để mua đất trái thẩm quyền nhưng chưa được cấp sổ là không có căn cứ bởi vì các cá nhân này cũng chưa làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không thể xác định thiệt hại là số tiền bỏ ra mua đất được.
- Việc đánh giá bị cáo T giữ vai trò chủ mưu, chỉ đạo, cầm đầu trong vụ án là không chính xác. Bị cáo T chỉ là người thực hiện nhiệm vụ mà Đảng ủy, UBND xã T đã giao cho thôn thực hiện nên chỉ có vai trò đồng phạm thực hành, bị cáo không có động cơ, mục đích vụ lợi khi thực hiện hành vi phạm tội. Đề nghị xem xét vai trò của bị cáo và áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t và điểm v Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo T.
- Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng: Tòa án sơ thẩm xét xử vụ án mà không triệu tập người làm chứng, xét xử vắng mặt bị hại, người liên quan.
Ý kiến đối đáp của Đại diện viện kiểm sát:
- Về tội danh: Năm 2006, bị cáo T là Kế toán, năm 2007-2009, bị cáo T là Trưởng thôn, bị cáo C là Kế toán đã tổ chức bán đất và thu tiền đất của các hộ dân. Theo quy định tại Điều 352 Bộ luật Hình sự“Người có chức vụ” là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một nhiệm vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ”. Theo khoản 4 Điều 2 Nghị quyết 03/2020/NQ-HĐTPcó chức vụ" quy định tại khoản 2 Điều 352 Bộ luật Hình sựnhững người quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng Tại khoản 2 Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng 2018định: “Người có chức vụ, quyền hạn là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do tuyển dụng, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó, ...". Do vậy, trong vụ án này, các bị cáo là người có chức vụ quyền hạn, hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ” là đúng người, đúng tội.
- Về vai trò của bị cáo T: Trong vụ án, bị cáo T phải chịu trách nhiệm cao nhất bởi khi làm Trưởng thôn bị cáo đã trực tiếp chỉ đạo C và D thực hiện hành vi phạm tội, mặt khác bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với số tiền gây thiệt hại cho các hộ dân lớn nhất trong ba bị cáo.
- Đối với việc xác định thiệt hại của các cá nhân đã mua đất từ Ban quản lý thôn. Thiệt hại của các cá nhân được xác định căn cứ trên kết luận của cơ quan chuyên môn có thẩm quyền chứ không phụ thuộc vào việc những cá nhân này đã tiến hành thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chưa.
- Việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bản án sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật đối với các bị cáo trong vụ án vì các bị cáo nộp tiền để khắc phục hậu quả là không đúng quy định của pháp luật, làm lợi cho các bị cáo, bởi trong vụ án không có thiệt hại nhà nước, bị hại là người dân không yêu cầu bồi thường.
Đối với đề nghị áp dụng bổ sung tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t, điểm v khoản 1 Điều 51 BLHS cho bị cáo T của Luật sư bào chữa thì thấy bị cáo đã tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm nên có căn cứ áp dụng điểm t khoản 1 Điều 51 cho bị cáo, không có căn cứ áp dụng điểm v khoản 1 Điều 51 vì bị cáo không xuất trình được tài liệu chứng minh bản thân có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác theo quy định của pháp luật. Bản án sơ thẩm đã quyết định mức hình phạt nhẹ với bị cáo T nên giữ nguyên mức hình phạt.
- Phiên tòa sơ thẩm xét xử vắng mặt bị hại, người liên quan nhưng không ảnh hưởng đến quyền lợi của họ, bị hại còn có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Việc triệu tập những người làm chứng trong vụ án theo đề nghị của người bào chữa là không cần thiết, do đó không có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
- Bỏ lọt tội phạm:
Liên quan đến Đảng ủy, HĐND, UBND xã T: Tài liệu trong hồ sơ thể hiện quá trình điều tra và giai đoạn xét xử sơ thẩm đến nay chỉ đủ căn cứ xác định Lãnh Đạo UBND xã T biết Ban quản lý thôn T bán đất khu Sau Ra và khu T gây thiệt hại: 807.620.000 đồng, nhưng xem xét trong vụ án này đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
Đối với Biên bản giao đất ngày 27/12/2007 có xác nhận của ông Lưu Xuân C1 - Chủ tịch UBND xã do ông L3 cung cấp bản photo cho Cơ quan điều tra ngày 06/01/2007: Xác định hộ ông L3 đã bị thu hồi đất, đã được bồi thường, không có thiệt hại nên không là căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự của những người có liên quan.
Đối với số tiền 300.000.000 đồng UBND xã trạm Lộ bồi thường cho ông L3 theo trả lời của Phòng Tài chính thị xã T không xác định có thiệt hại nhà nước nên không buộc các bị cáo trong vụ án phải chịu trách nhiệm về số tiền này.
Quá trình điều tra không đủ căn cứ chứng minh Đảng ủy, HĐND, UBND xã T có chủ trương, chỉ đạo thôn T giao bán đất trái thẩm quyền cho 4 hộ mua ao Nghè, ao Giếng Đình, ao Đ giai đoạn 2007-2009.
Căn cứ vào hành vi của bị cáo, bản án sơ thẩm tuyên bố Lưu Xuân T phạm tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ” là đúng người, đúng tội. Án sơ thẩm áp dụng Khoản 1 Điều 54 BLHS xử phạt bị cáo T 5 năm 6 tháng tù (Khoản 3 có mức hình phạt thấp nhất 10 năm tù) là có phần nhẹ đối với bị cáo.
Không đủ căn cứ chứng minh cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và bỏ lọt tội phạm. Do vậy, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo hủy án sơ thẩm.
Đối với yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo Lưu Văn C:
Trong vụ án này, bị cáo Lưu Văn C làm Kế toán thôn có vai trò đồng phạm giúp sức trong việc thực hiện bán đất, trực tiếp lập phiếu thu tiền, lập biên bản giao đất. Bị cáo C phải chịu trách nhiệm tổng thiệt hại cho người dân là: 568.000.000đ, phạm tội thuộc Điểm c, Khoản 2 Điều 356 BLHS. Cấp sơ thẩm đã xác định bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải, bồi thường khắc phục hậu quả, được tặng giấy khen trong quá trình công tác, có bố đẻ được tặng Huy Chương kháng chiến. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo và áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS xử phạt bị cáo 4 năm tù là phù hợp.
Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo C xuất trình tình tiết giảm nhẹ mới là có hành vi tố giác tội phạm, chung tay đóng góp giúp đỡ đồng bào gặp thiên tai, bị hại có đơn xin giảm nhẹ cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, cần áp dụng và chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo từ 6 tháng đến 9 tháng tù.
Về kháng cáo xin hưởng án treo: Trong vụ án, bị cáo C có vai trò chỉ sau bị cáo T. Xét tính chất và hậu quả của vụ án cho thấy cần phải áp dụng hình phạt tù mới đảm bảo phòng ngừa tội phạm và giáo dục bị cáo. Do vậy không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo C.
Đại diện Viện kiểm sát, Luật sư bào chữa và bị cáo đều giữ nguyên quan điểm tranh luận và quan điểm giải quyết vụ án, không có ý kiến khác.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo C nhận tội và xin được giảm án và hưởng án treo. Bị cáo T đề nghị hủy án sơ thẩm để điều tra xét xử lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án, các cơ quan và người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định, các bị cáo Lưu Xuân T và Lưu Văn C đều có kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo T và bị cáo C khai nhận bản thân có thực hiện hành vi bán đất cho một số người dân, hộ gia đình như Bản án sơ thẩm đã xét xử. Các bị cáo khai nhận: Trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2009, mặc dù chưa có Quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về việc giao đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân nhưng các bị đã giao, bán một số khu đất, ao trong thôn T cho các hộ, cá nhân có thu tiền, cụ thể:
T khai, năm 2006, khi là Kế toán thôn bị cáo đã cùng Chi ủy, Ban quản lý thôn bán đất khu Sau Ra cho bà Võ Hải Y, ông Nguyễn Trí D1 là 2.379m² đất với giá 285.500.000 đồng (trong đó UBND xã T thu 225.500.000 đồng, thôn T thu 60.000.000 đồng); bán cho ông Nguyễn Văn L3 1.441,3m² đất với giá 171.920.000 đồng nhưng đến nay không đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gây thiệt hại cho người dân 457.420.000 đồng.
Từ năm 2007 đến năm 2009, với vai trò là Trưởng thôn, bị cáo cùng Chi ủy, Ban quản lý thôn bán đất khu vực T cho các hộ gia đình, cá nhân trong đó có ông Nguyễn Đức T7 200m² đất với giá 50.200.000 đồng, ông Lưu Văn N1 1.500m² đất với giá 300.000.000 đồng; bán đất khu vực các ao (ao Đ2, ao N2, ao Đ) cho các hộ: Bà Vương Thị H8 1.229m² ao Đ với giá 100.000.000 đồng, ông Nguyễn Văn L3 2.070m² ao Nghè với giá 197.300.000 đồng, ông Vương Văn K3 420m² ao Đồng Trầm với giá 33.500.000 đồng, ông Lưu Văn C7 và Lưu Văn T12 1.209,9m² ao Đ3 với giá 84.500.000 đồng nhưng đến nay không đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Riêng hộ ông Nguyễn Văn L3 ngày 09/5/2011 đã được bồi thường 300.000.000đồng, vì vậy hộ ông L3 không có thiệt hại. Các hộ còn lại bị thiệt hại tổng số 568.200.000 đồng.
Bị cáo C khai: Trong giao đoạn từ 2007 đến 2009, với vai trò là Kế toán thôn, thực hiện chỉ đạo của Trưởng thôn (là bị cáo T) đã bán đất khu vực T, khu vực các ao cho các hộ gia đình, cá nhân gây thiệt hại cho ông Nguyễn Đức T7, ông Lưu Văn N1, bà Vương Thị H8, ông Vương Văn K3, ông Lưu Văn C7 và ông Lưu Văn T12 gây thiệt hại 568.200.000 đồng.
[3] Khi thực hiện hành vi giao, bán đất trái thẩm quyền, các bị cáo đều là người có chức vụ quyền hạn như phân tích của đại diện Viện kiểm sát là đúng. Do vậy có đủ cơ sở kết luận hành vi giao, bán đất trái thẩm quyền của các bị cáo đã phạm tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ”. Bị cáo Lưu Xuân T gây thiệt hại cho người dân là 1.025.620.000 đồng (khi làm Kế toán thôn là 457.420.000 đồng, khi làm Trưởng thôn là 568.200.000 đồng); bị cáo Lưu Văn C gây thiệt hại 568.200.000 đồng.
Hành vi phạm tội của các bị cáo được thực hiện vào giai đoạn năm 2006 – 2009 khi Bộ luật Hình sự năm 1999 đang có hiệu lực thi hành. Căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội, có cơ sở để áp dụng Điều 356 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xét xử theo hướng có lợi cho các bị cáo. Vì vậy, Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2024/HSST ngày 04/6/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành đã xét xử các bị cáo phạm tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 3 Điều 356 (đối với bị cáo T) và khoản 2 Điều 356 (đối với bị cáo C) của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[4] Xét nội dung kháng cáo của bị cáo T, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về thủ tục tố tụng: Phiên tòa sơ thẩm xét xử vắng mặt bị hại, người liên quan bởi họ đã có đầy đủ lời khai tại cơ quan điều tra, việc vắng mặt của họ tại phiên tòa không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Sau phiên tòa sơ thẩm các bị hại còn có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo C. Do vậy việc xét xử vắng mặt bị hại và người liên quan của cấp sơ thẩm không gây thiệt hại cho họ. Đối với những người do người bào chữa làm đơn đề nghị triệu tập với tư cách là người làm chứng, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải triệu tập những người này đến phiên tòa bởi họ đã có lời khai và lời khai của họ không ảnh hưởng khi giải quyết vụ án. Do vậy không có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Về bỏ lọt tội phạm đối với Đảng ủy, HĐND, UBND xã T: Căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ và quá trình tranh tụng công khai tại phiên tòa chỉ đủ căn cứ xác định lãnh đạo UBND xã T biết Ban quản lý thôn T bán đất khu Sau Ra và khu T gây thiệt hại: 807.620.000 đồng. Tính thời điểm kết thúc hành vi phạm tội ngày 28/8/2007 thì đến ngày 28/8/2022 hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Do vậy, xem xét trong vụ án này thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đã hết. Đối với những trường hợp đã chết thì không xem xét xử lý là phù hợp.
Quá trình điều tra không đủ căn cứ chứng minh Đảng ủy, HĐND, UBND xã T có chủ trương, chỉ đạo thôn T giao bán đất trái thẩm quyền cho 4 hộ mua ao Nghè, ao Giếng Đình, ao Đ giai đoạn 2007-2009 như án sơ thẩm đã nhận định.
Đối với Biên bản giao đất ngày 27/12/2007 do ông L3 cung cấp bản photo cho Cơ quan điều tra ngày 06/01/2007: Xác định hộ ông L3 đã bị thu hồi đất, đã được bồi thường, không có thiệt hại nên không là căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự của các bị cáo và những người có liên quan.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo hủy bản án sơ thẩm của bị cáo Lưu Xuân T.
Về vai trò của bị cáo T: Trong vụ án, bị cáo T phải chịu trách nhiệm hình sự cao nhất bởi khi làm Trưởng thôn bị cáo đã trực tiếp chỉ đạo các bị cáo C và D thực hiện hành vi phạm tội gây thiệt hại 568.200.000 đồng, ngoài ra bị cáo T còn phạm tội khi làm Kế toán gây thiệt hại 457.420.000 đồng, như vậy tổng số tiền bị cáo gây thiệt hại 1.025.620.000 đồng là nhiều nhất. Do vậy trong vụ án xác định bị cáo T có vai trò chính và bị xử lý nghiêm khắc nhất là đúng quy định.
Đối với việc xác định thiệt hại của các cá nhân đã mua đất từ Ban quản lý thôn được xác định căn cứ trên kết luận của cơ quan chuyên môn có thẩm quyền là đúng. Vì vậy lý do người bào chữa đưa ra là không có căn cứ chấp nhận.
Bị cáo cung cấp những thông tin cho Cơ quan điều tra phát hiện tội phạm (các đối tượng này đã chết hoặc hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự) nên có căn cứ áp dụng thêm điểm t khoản 1 Điều 51 cho bị cáo T và không có căn cứ áp dụng điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo T như ý kiến tranh luận của đại diện Viện kiểm sát. Do bị cáo được áp dụng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật.
[5] Đối với kháng cáo của bị cáo Lưu Xuân C8:
Trong vụ án, bị cáo C8 có vai trò sau bị cáo T. Khi quyết định hình phạt, án sơ thẩm đã xem xét toàn diện vụ án, đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và áp dụng Khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để quyết định mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo C8. Mức hình phạt bản án sơ thẩm đã tuyên với bị cáo là phù hợp. Tuy nhiên tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo C8 xuất trình 03 tình tiết giảm nhẹ mới như đã nêu nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự như đánh giá của đại diện Viện kiểm sát là đúng. Do vậy có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có nhân thân tốt, có thời gian công tác và cống hiến với địa phương nhiều năm, nhiều lần được khen thưởng, phạm tội không vì tư lợi cá nhân, bị cáo đã hơn 60 tuổi và có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên Hội đồng xét xử xét thấy cần giảm mức án nhiều hơn mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới phù hợp.
Bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, thuộc nhóm tội tham nhũng, có vai trò tích cực trong vụ án nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo C8 như quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Tòa án sơ thẩm cần rút kinh nghiệm ghi đầy đủ điểm, khoản, điều luật áp dụng khi quyết định hình phạt đối với bị cáo C8. Về án phí sơ thẩm của bị cáo C8, tại phiên tòa phúc thẩm, sau khi được giải thích quyền được xin miễn án phí, bị cáo C8 không xin miễn mà tự nguyện chịu án phí như án sơ thẩm đã tuyên nên giữ nguyên phần quyết định về án phí của bản án sơ thẩm.
[4] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Các bị cáo được xem xét chấp nhận một phần kháng cáo nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- [1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo, sửa Bản án sơ thẩm, giảm hình phạt cho các bị cáo.
Áp dụng khoản 3 Điều 356; điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Lưu Xuân T 60 (sáu mươi) tháng tù về tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ”. Thời hạn tù tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (25/9/2024) nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/6/2022 đến ngày 20/10/2023.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 356; điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Lưu Văn C 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ”. Thời hạn tù tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (25/9/2024) nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/6/2022 đến ngày 20/7/2022.
Áp dụng khoản 3 Điều 347 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định bắt tạm giam các bị cáo Lưu Xuân T, Lưu Văn C mỗi bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án phúc thẩm để bảo đảm việc thi hành án.
- [2] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- [3] Về án phí: Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vương Thị Hà |
Bản án số 59/2024/HS - PT ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ
- Số bản án: 59/2024/HS - PT
- Quan hệ pháp luật: Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ
