|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 59/2024/HNGĐ - ST
Ngày: 27-9-2024
V/v: “Tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ninh Khắc Phong
Các hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Khắc Quế
Bà Nguyễn Thị Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bắc - Là thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 422/2023/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2023, về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 29/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh T, sinh năm: 1962; địa chỉ: Số D T, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt.
- Bị đơn: Bà Đỗ Thị T1, sinh năm: 1970; địa chỉ: Số D T, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 27/9/2022 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Nguyễn Minh T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Đỗ Thị T1 sau thời gian tự nguyện tìm hiểu đã tiến đến hôn nhân, đăng ký kết hôn tại UBND phường L ngày 13/10/2008, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, có tổ chức lễ cưới. Trong quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được đến năm 2017 là phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình bà T1 thay đổi, không quan tâm đến chồng con, vô cảm với gia đình; ngoài ra còn do vợ chồng không cùng quan điểm trong việc phát triển kinh tế gia đình. Vợ chồng không thể ngồi nói chuyện với nhau để giải quyết mâu thuẫn mà thường xuyên xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nhau nên hiện đã sống ly thân, không quan tâm đến nhau. Nay xét thấy tình
cảm vợ chồng không còn nên ông đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Đỗ Thị T1.
Về con chung: Vợ chồng có 01 người con chung là cháu Nguyễn Nhật Â, sinh ngày: 20/4/2010. Nay về con chung thì do cháu  có nguyện vọng ở với bà T1 nên ông đồng ý giao cho bà T1 trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung.
Về nợ chung: Vợ chồng không có nợ chung.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Đỗ Thị T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để biết và đến Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia các buổi làm việc, các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo đúng quy định tại các Điều 175, 177, 179 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Mặt khác, nguyên đơn ông Nguyễn Minh T có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải nên vụ án không tiến hành hòa giải được. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn ông Nguyễn Minh T vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn bà Đỗ Thị T1 vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật; bị đơn không chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về hôn nhân: Cho ông Nguyễn Minh T được ly hôn với bà Đỗ Thị T1.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Nhật Â, sinh ngày: 20/4/2010 cho bà Đỗ Thị T1 trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi, vấn đề cấp dưỡng nuôi con do các bên không yêu cầu nên không xem xét.
Về tài sản chung: Các bên không yêu cầu giải quyết nên không xem xét đến.
Về nợ chung: Các bên không có nợ chung nên không xem xét đến.
Về án phí: Nguyên đơn ông Nguyễn Minh T là người cao tuổi, có đơn xin miễn tiền án phí nên không phải chịu tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn ông Nguyễn Minh T có đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc giải quyết được ly hôn với bà Đỗ Thị T1. Vì vậy, Tòa án xác định đây là tranh chấp về “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn bà Đỗ Thị T1 có địa chỉ cư trú tại số D T, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc theo quy định tại khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự:
Phiên tòa ngày 09 tháng 9 năm 2024, bị đơn bà Đỗ Thị T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan. Căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử đã hoãn phiên tòa.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn ông Nguyễn Minh T vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn bà Đỗ Thị T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan. Căn cứ khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông T, bà T1 theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Minh T và bà Đỗ Thị T1 đã được UBND phường L, thành phố B cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 192 ngày 13/10/2008, việc kết hôn là tự nguyện, thời điểm đăng ký cả hai đều đủ điều kiện kết hôn. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa ông T và bà T1 là hợp pháp.
Theo ông T, quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình bà T1 thay đổi, không quan tâm đến chồng con, vô cảm với gia đình; ngoài ra còn do vợ chồng không cùng quan điểm trong việc phát triển kinh tế gia đình. Vợ chồng không thể ngồi nói chuyện với nhau để giải quyết mâu thuẫn mà thường xuyên xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nhau nên hiện nay đã sống ly thân, không quan tâm đến nhau.
Còn bà T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để biết và đến Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia các buổi làm việc, các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Như vậy, thể hiện sự bỏ mặc, không muốn hàn gắn mâu thuẫn, không còn thiết tha tình cảm vợ chồng.
Tòa án đã tiến hành xác minh ông Nguyễn Ngọc D là Trưởng thôn T, xã L thì được biết: “Ông T và bà T1 có kết hôn theo quy định của pháp luật. Trong quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau, đánh nhau. Trưởng thôn có xuống hòa giải và khuyên bảo nhiều lần thì thấy cũng hòa thuận được một thời gian”.
Ngoài ra, Tòa án còn xác minh ông Phạm Văn K là Trưởng ban công tác mặt trận thôn T, xã L thì được biết: “Ông T và bà T1 có kết hôn theo quy định của pháp luật. Trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn như thế nào thì không rõ nhưng thấy ông T đánh bà T1 và bà T1 có chạy qua nhà người khác để trốn...ban ngày bà T1 đi làm suốt đến tối mới về nhà và buổi sáng đi làm rất sớm”.
Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng giữa ông T, bà T1 là có xảy ra trên thực tế và đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông T, cho ông T được ly hôn với bà T1 là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.2] Về con chung: Ông Nguyễn Minh T xác nhận quá trình chung sống vợ chồng có 01 người con chung là cháu Nguyễn Nhật Â, sinh ngày: 20/4/2010. Ông T đồng ý giao cháu  cho bà T1 trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành. Còn bà T1 không thể hiện ý kiến, yêu cầu gì.
Trong khi cháu Nguyễn Nhật  là nữ giới, hiện đã 14 tuổi, đang trong giai đoạn phát triển tâm sinh lý, có nguyện vọng ở với mẹ là bà Đỗ Thị T1.
Vì vậy, cần giao cháu Nguyễn Nhật  cho bà T1 trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và đảm bảo quyền lợi mọi mặt của cháu Â.
Vấn đề cấp dưỡng nuôi con các bên không yêu cầu giải quyết nên không xem xét đến.
[2.3] Về tài sản chung: Các bên không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
[2.4] Về nợ chung: Ông T xác định hiện nay vợ chồng không còn nợ chung, trong khi bà T1 không thể hiện ý kiến gì. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết, trường hợp sau này có tranh chấp thì được xem xét giải quyết bằng vụ án khác.
[3] Về án phí: Nguyên đơn ông Nguyễn Minh T là người cao tuổi, có đơn xin miễn tiền án phí nên được miễn toàn bộ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Bị đơn bà Đỗ Thị T1 không phải chịu tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
[4] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, khoản 1 Điều 39, các Điều 146, 147, 205, 210, 220, 227, 228, 262 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Căn cứ Điều 18, 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn ông Nguyễn Minh T đối với bị đơn bà Đỗ Thị T1.
Cho ông Nguyễn Minh T được ly hôn với bà Đỗ Thị T1.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Nhật Â, sinh ngày: 20/4/2010 cho bà Đỗ Thị T1 trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con các bên không yêu cầu giải quyết nên không xem xét đến.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con được thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về án phí: Ông Nguyễn Minh T được miễn toàn bộ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Bà Đỗ Thị T1 không phải chịu tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án, các đương sự được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Ninh Khắc Phong |
Bản án số 59/2024/HNGĐ - ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 59/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Nguyễn Minh H ly hôn bà Đỗ Thị T
