Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 12-9-2024

“ V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Cương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đức Hiếu

Ông Mai Văn Du

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Hà – Thư ký Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thu Sương – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 263/2024/TLST – HNGĐ ngày 16/7/2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 172/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Hồ Thị Thùy T, sinh năm 1981; Địa chỉ: K đường H, phường T, quận H, TP Đà Nẵng; Có mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn H, sinh năm 1983; Địa chỉ: Căn hộ A, nhà K- Chung cư T, đường L, phường K, quận C, TP Đà Nẵng. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 26/6/2024 và bản tự khai ngày 22/7/2024 nguyên đơn bà Hồ Thị Thùy T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân:Hồ Thị Thùy T và ông Nguyễn H kết hôn với nhau vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, quận H, TP Đà Nẵng (theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 120/2009 ngày 01/9/2009), hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng bà chung sống tại căn hộ 103 nhà K1 chung cư thu nhập thấp phường K, quận C, TP Đà Nẵng. Quá trình chung sống thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, không có tiếng nói chung trong cuộc sống hôn nhân. Trước đây bà T đã nộp đơn ly hôn nhưng sau đó hòa giải đoàn tụ thành. Sau khi hòa giải về chung sống lại với nhau nhưng vợ chồng vẫn không thể hòa hợp được, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Từ tháng 6/2024 đến nay vợ chồng bà đã sống ly thân với nhau, không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Hiện bà T xác định vợ chồng bà không còn tình cảm yêu thương chăm sóc nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà Hồ Thị Thùy T đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn H.

- Về con chung:Hồ Thị Thùy T xác định ông bà có 01 con chung tên Nguyễn Hồ T1, sinh ngày 17-10-2009. Ly hôn bà T đề nghị giao con chung Nguyễn Hồ T1 cho bà trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc cho đến khi con đủ 18 tuổi; Bà T yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000đ (ba triệu đồng) cấp dưỡng từ tháng 10/2024 cho đến khi con đủ 18 tuổi, cấp dưỡng vào ngày 10 hàng tháng.

- Về tài sản chung:Hồ Thị Thùy T xác định vợ chồng không có tài sản chung.

- Về nợ chung:Hồ Thị Thùy T xác định vợ chồng bà không có nợ chung.

Tại bản tự khai đề ngày 26/8/2024 và tại đơn xin giải quyết vắng mặt đề ngày 26/8/2024 bị đơn ông Nguyễn H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn H thống nhất với trình bày của bà Hồ Thị Thùy T về thời gian, điều kiện kết hôn. Quá trình chung sống thì vợ chồng ông phát sinh mâu thẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không cùng quan điểm sống. Nay bà Hồ Thị Thùy T làm đơn ly hôn đơn phương với ông, ông H đồng ý ly hôn theo nguyện vọng của bà T.

- Về con chung: Ông Nguyễn H thống nhất với trình bày của bà Hồ Thị Thùy T xác định vợ chồng ông có 01 con Nguyễn Hồ T1, sinh ngày 17-10-2009. Ly hôn ông H đồng ý với nguyện vọng của bà T, giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc. Ông H tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung theo yêu cầu của bà T.

- Về tài sản chung: Ông Nguyễn H xác định vợ chồng ông không có tài sản chung.

- Về nợ chung: Ông Nguyễn H xác định vợ chồng ông không có nợ chung.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, HĐXX, thư ký phiên tòa: Qúa trình thụ lý giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định tại các Điều từ Điều 239 đến Điều 243; Điều 247; Điều 249 đến Điều 252; Điều 258 và Điều 260 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Việc tuyên thủ pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Bị đơn chưa tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Xét thấy bà Hồ Thị Thùy T đề nghị giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn H, bị đơn ông Nguyễn H có bản tự khai đồng ý ly hôn theo nguyện vọng của bà T. Do đó, đề nghị Tòa án công nhận bà T, ông H thuận tình ly hôn.

Về con chung:Hồ Thị Thùy T và ông Nguyễn H thống nhất xác định vợ chồng ông, bà có 01 con chung tên Nguyễn Hồ T1, sinh ngày 17-10-2009. Ly hôn bà T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho đến khi con đủ 18 tuổi. Ông Nguyễn H đồng ý giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Tại bản tự khai con chung Nguyễn Hồ T1 có nguyện vọng được ở với mẹ. Hiện bà T có việc làm, có chỗ ở ổn định đảm bảo điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị Thùy T, giao con chung Nguyễn Hồ T1 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung:T yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng, ông H đồng ý theo yêu cầu của bà T. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận, buộc ông Nguyễn H phải cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Hồ T1 mỗi tháng 3 triệu đồng. Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 10/2024 cho đến khi con đủ 18 tuổi, cấp dưỡng vào ngày 10 hàng tháng.

Về tài sản chung, nợ chung:T, ông H thống nhất xác định không có nên không xem xét.

Về án phí: nguyên đơn bà Hồ Thị Thùy T phải chịu án phí Hôn nhân gia đình; ông Nguyễn H phải chịu án phí cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa và những tình tiết của vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án hôn nhân gia đình “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” bị đơn là ông Nguyễn H có địa chỉ nơi cư trú tại: phường K, quận C, TP Đà Nẵng. Do đó, Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng thụ lý giải quyết vụ án là đúng về thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn H vắng mặt, tuy nhiên ông Nguyễn H đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu của các đương sự, trên cơ sở xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, ý kiến trình bày, nguyện vọng của các bên và ý kiến đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thị Thùy T và ông Nguyễn H kết hôn với nhau vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, quận H, TP Đà Nẵng, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn vợ chồng bà chung sống tại căn hộ 103 nhà K1 chung cư thu nhập thấp phường K, quận C, TP Đà Nẵng. Quá trình chung sống thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân theo bà T, ông H trình bày là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, không có tiếng nói chung trong cuộc sống hôn nhân nên cuộc sống hôn nhân vợ chồng không hạnh phúc. Từ tháng 6/2024 cho đến nay vợ chồng ông, bà đã sống ly thân với nhau, không còn quan tâm, chăm sóc nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà Hồ Thị Thùy T đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn H. Bị đơn ông Nguyễn H đồng ý ly hôn theo nguyện vọng của bà T. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị Thùy T, xử cho bà T được ly hôn với ông Nguyễn H.

[3] Về quan hệ con chung: Bà Hồ Thị Thùy T và ông Nguyễn H thống nhất xác định vợ chồng bà có 01 con chung tên Nguyễn Hồ T1, sinh ngày 17-10-2009. Ly hôn bà T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Ông H đồng ý giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con đủ 18 tuổi. Tại bản tự khai cháu Nguyễn Hồ T1 có nguyện vọng được ở với mẹ. Hiện bà T có việc làm, có chỗ ở ổn định đảm bảo điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị Thùy T, giao con chung Nguyễn Hồ T1 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung, bà T yêu cầu ông Nguyễn H cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Tại bản khai ông H đồng ý với yêu cầu của bà T. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận buộc ông Nguyễn H phải cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Hồ T1 mỗi tháng 3.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 10/2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, cấp dưỡng vào ngày 10 hàng tháng.

[4] Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Bà T, ông H thống nhất xác định không có nên không xem xét.

[5] Về án phí: Bà Hồ Thị Thùy T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm; Ông Nguyễn H phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ:

Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Các Điều 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84, 107, 110 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

2. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị Thùy T đối với ông Nguyễn H về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”.

2.1 Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Hồ Thị Thùy T được ly hôn với ông Nguyễn H.

2.2 Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Hồ T1, sinh ngày 17-10-2009 cho bà Hồ Thị Thùy T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Buộc ông Nguyễn H phải cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Hồ T1 mỗi tháng 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 10/2024 cho đến khi con đủ 18 tuổi, cấp dưỡng vào ngày 10 hàng tháng.

Bên không nuôi con có quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở. Khi cần thiết vì lợi ích con chung, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Kể từ ngày bà Hồ Thị Thùy T có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông Nguyễn H không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con như đã thỏa thuận thì hàng tháng ông V còn phải chịu tiền lãi suất theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

2.3 Về tài sản chung:Hồ Thị Thùy T, ông Nguyễn H thống nhất xác định không có nên không xem xét.

2.4 Về nợ chung:Hồ Thị Thùy T, ông Nguyễn H thống nhất xác định không có nên không xem xét.

3. Về án phí: Buộc bà Hồ Thị Thùy T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại biên lai thu số 0001778 ngày 16/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ (như vậy bà T đã nộp đủ án phí).

Buộc ông Nguyễn H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND quận Cẩm Lệ;
  • - Đương sự;
  • - Chi cục THA DS quận Cẩm Lệ;
  • - UBND P. Thuận Phước, quận Hải Châu, TP Đà Nẵng
  • (GCNĐKH số 120 ngày 01/9/2009)
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Phan Văn Cương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2024/HNGĐ-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 59/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án HNGĐ Hồ Thị Thùy T, Nguyễn H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger