Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 05/8/2024.

“V/v tranh chấp ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Đặng Ngọc Thu.
  2. Bà Lê Thị Kiều Oanh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Không tham gia.

Ngày 05 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 138/2024/TLST-HNGĐ, ngày 06 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2024/QĐXXST - HNGĐ, ngày 23/7/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Trần Thị Kiều T, sinh năm 1995. Địa chỉ: Ấp A, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (xin vắng mặt).

- Bị đơn: Lê Tấn M, sinh năm 1990.

Địa chỉ: Số D, đường L, phường A, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long (xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 01/4/2024, nguyên đơn bà Trần Thị Kiều T trình bày:

- Về hôn nhân: Bà T và ông M tiến tới hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có thời gian tìm hiểu nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 13/3/2018. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung với nhau hạnh phúc thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung đến tháng 12/2023 cả 02 ly thân nhau mạnh ai nấy sống, bà T về gia đình cha mẹ sinh sống. Nay bà T xác định hôn nhân không thể hàn gắn lại được nên yêu cầu ly hôn với ông Lê Tấn M

- Về con chung: Bà T xác định, bà và ông M không có con chung nên không yêu cầu xem xét giải quyết.

- Quyền và nghĩa vụ tài sản: Bà T xác định, bà và ông M không có nợ gì của ai và cũng không ai nợ vợ chồng bà, không tranh chấp tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn Lê Tấn M: Đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án nhưng không có văn bản trả lời. Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đối với ông M nhiều lần nhưng bị đơn cố tình vắng mặt không lý do. Như vậy, vụ án không tiến hành được phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Tại phiên tòa sơ thẩm;

Nguyên đơn và bị đơn cùng có đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn; không ai giao nộp chứng cứ gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

- Nguyên đơn xin ly hôn với ông M là tranh chấp về quan hệ hôn nhân và gia đình nên nguyên đơn bà T là người có quyền khởi kiện yêu cầu ly hôn. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại thành phố V nên thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long. Các đương sự tham gia tố tụng đảm bảo năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự. Từ những cơ sở trên, Hội đồng xét xử xác định thủ tục tố tụng trong vụ án đảm bảo theo quy định tại các Điều 28, 35, 39, 69 và Điều 186 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Trước khi mở phiên toà, nguyên đơn và bị đơn có đơn gửi Toà án xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Kiều T, Hội đồng xét xử xét thấy:

- Về hôn nhân giữa bà T và ông M được hình thành trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình tiến hành tố tụng, hoà giải tại toà do bị đơn cố tình vắng mặt, không có ý kiến phản bác yêu cầu và những tình tiết, sự kiện, tài liệu do nguyên đơn đưa ra. Vì vậy, Hội đồng xét xử công nhận những tình tiết, sự kiện, tài liệu do nguyên đơn đưa ra là sự thật theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ ý kiến trình bày cùng các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, Hội đồng xét xử nhận thấy vì đời sống hôn nhân giữa bà T và ông M bị đổ vỡ,

tình cảm vợ chồng không còn sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lo lắng cho nhau, từ khi ly thân đến nay ông M không liên hệ với bà T để hàn gắn hôn nhân, không đến Toà án tham gia hoà giải để niều kéo hôn nhân. Từ đó cho thấy hôn nhân không còn sự tự nguyện, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà T được ly hôn với ông M.

- Về con chung: Giữa bà T và ông M không có con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

- Về quyền và nghĩa vụ tài sản: Nguyên đơn và bị đơn (đơn xin xét xử vắng mặt) xác định không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết vấn đề này.

[3]. Về án phí: Buộc nguyên đơn phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147 và Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Quốc hội và phần A danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Kiều T.

  1. Về hôn nhân: Bà Trần Thị Kiều T được ly hôn với ông Lê Tấn M.
  2. Về con chung: Không có, không xem xét giải quyết.
  3. Quyền và nghĩa vụ tài sản của các đương sự: Không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Buộc nguyên đơn Trần Thị Kiều T nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu xin ly hôn, khấu trừ tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai số No 0006826, ngày 24/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Long nên bà T không phải nộp thêm.
  5. Quyền kháng cáo: Báo cho nguyên đơn và bị đơn vắng mặt biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết để xin Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm./.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2024/HNGĐ-ST ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 59/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tiên xin ly hôn Minh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger