Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 59/2024/HC-ST

Ngày: 14-6-2024

V/v “Khởi kiện quyết định hành chính

trong lĩnh vực thu hồi và bồi thường đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Ngọc Thiện
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Công Sế
Ông Trần Văn Việt

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử công khai vụ án hành chính sơ thẩm thụ lý số 33/2024/TLST-HC ngày 01-02-2024 về việc “Khởi kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực thu hồi và bồi thường đất”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2024/QĐXXST-HC ngày 23-5-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, giữa các đương sự:

1. Người khởi kiện:

Ông Kim Trọng Y, sinh năm 1973;

Địa chỉ: số B L, Phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Thành T, sinh năm 1982. Địa chỉ: B4 tầng 11 Chung cư B N, Phường T, thành phố V (xin vắng mặt).

2. Người bị kiện:

Ủy ban nhân dân thành phố V. Địa chỉ: số H L, Phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;

Đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Vũ T1 - Chủ tịch (xin vắng mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Lê Dương B và ông Lê H - Viên chức Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố V (có mặt).

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Đặng Thị T2, sinh năm 1942. Địa chỉ: số B L, Phường A, thành phố V (xin vắng mặt);

2. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1976. Địa chỉ: 3 L, Phường 1, thành phố V (xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện và người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Gia đình ông Kim Trọng Y bị Nhà nước thu hồi diện tích 350,2m² đất để thực hiện dự án khu tái định cư 10ha trong 58ha thuộc phường A, thành phố V. Ngày 28/12/2018 UBND thành phố V ban hành Quyết định số 9182/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho hộ gia đình khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án khu tái định cư P, thành phố V. Trong nội dung Quyết định này, UBND thành phố V phê duyệt bồi thường cho gia đình toàn bộ diện tích 350,2m² theo giá đất nông nghiệp và áp giá bồi thường được phê duyệt từ năm 2016, không cấp đất tái định cư theo quy định.

Sau khi nhận được Quyết định phê duyệt kinh phí bồi thường số 9182/QĐ-UBND của UBND thành phố V ông Y không đồng ý nên đã làm đơn khiếu nại tới Chủ tịch UBND thành phố V yêu cầu giải quyết bồi thường đất theo giá thị trường tại thời điểm thu hồi đất; Xem xét bồi thường 150m² đất bị thu hồi theo giá đất ở và xem xét giao đất tái định cư.

Ngày 05/07/2019 Chủ tịch UBND thành phố V ban hành Quyết định số 3129/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại lần đầu, trong đó bác toàn bộ nội dung khiếu nại và chỉ đồng ý giao 01 lô đất ở mới. Không đồng ý với nội dung giải quyết khiếu nại lần đầu của Chủ tịch UBND thành phố V nên ông Y tiếp tục làm đơn khiếu nại lên Chủ tịch UBND tỉnh B để xem xét.

Ngày 17/12/2019 Chủ tịch UBND tỉnh B ban hành Quyết định số 3460/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại lần hai bác toàn bộ nội dung khiếu nại và giữ nguyên nội dung Quyết định số 9182/QĐ-UBND và Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu số 3129 của UBND thành phố V.

Không đồng ý với nội dung giải quyết khiếu nại lần một của Chủ tịch UBND thành phố V và Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai của Chủ tịch UBND tỉnh B-VT, ông Y đã khởi kiện vụ án hành chính đối với các quyết định trên tại Tòa án nhân dân tỉnh BR-VT.

Ngày 05/6/2023 UBND thành phố V đã ban hành Quyết định số 2683/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư bổ sung cho gia đình ông Y khi Nhà nước thu hồi để thực hiện dự án Khu tái định cư 10ha trong 58ha, thuộc Phường A, thành phố V. Theo đó nội dung Quyết định số 2683/QĐ-UBND đã thực hiện đúng một số yêu cầu, cụ thể:

  • Bồi thường hạn mức 150m² đất ở theo hạn mức được công nhận;
  • Giá đất bồi thường áp dụng tại thời điểm thu hồi đất (tại thời điểm tháng 12/2018 theo Quyết định số 3236/QĐ-UBND ngày 18/10/2022 về việc phê duyệt giá đất cụ thể bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện dựa án Khu tái định cư 10ha trong 58ha, thuộc Phường A, thành phố V (tại thời điểm tháng 12/2018).
  • Cấp cho gia đình ông Y 01 lô đất tái định cư.

Tổng số tiền bồi thường bổ sung theo Quyết định số 2683/QĐ-UBND ngày 05/6/2023 là: 3.679.709.200 đồng (Ba tỷ, sáu trăm bảy chín triệu, bảy trăm lẻ chín ngàn, hai trăm đồng). Ông Y đã rút đơn khởi kiện và ngày 26/7/2023, Tòa án nhân dân tỉnh BR-VT đã ban hành Quyết định số 52/2023/QĐST-HC về việc đình chỉ giải quyết vụ án.

Sau khi nhận được Quyết định bồi thường bổ sung số 2683/QĐ-UBND ngày 05/6/2023 ông Y không đồng ý một phần nội dung Quyết định này, vì: Căn cứ quy định tại Điều 74 Luật Đất đai 2013 về nguyên tắc bồi thường về đất khi nhà nước thu hồi đất:

“2. Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất.

3. Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật.”

UBND thành phố V ban hành quyết định thu hồi đất từ ngày 28/12/2018 nhưng đến ngày 05/6/2023 mới ban hành Quyết định phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ bổ sung và chi trả cho gia đình ông Y sau khi gia đình mất thời gian khoảng 4 đến 5 năm đi khiếu nại, khởi kiện mới được giải quyết. Tổng số tiền của gia đình bị chậm chi trả là 1.209.941.000 đồng (Theo Quyết định số 9182/QĐ-UBND ngày 28/12/2023) + số tiền 3.679.709.200 đồng (Theo Quyết định số 2683/QĐ-UBND ngày 05/6/2023) = 4.889.650.200 đồng. Vì vậy, cần phải được xác định lỗi bồi thường chậm của cơ quan Nhà nước (cụ thể là UBND thành phố V) gây ra thiệt hại cho gia đình ông Y.

Căn cứ Khoản 2 Điều 93 Luật Đất đai 2013 quy định:

“2. Trường hợp cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường chậm chi trả thì khi thanh toán tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi, ngoài tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì người có đất thu hồi còn được thanh toán thêm một khoản tiền bằng mức tiền chậm nộp theo quy định của Luật quản lý thuế tính trên số tiền chậm trả và thời gian chậm trả".

Với căn cứ trên, việc UBND thành phố V ban hành Quyết định số 2683 nhưng không tính tiền chậm trả cho thời gian từ ngày 28/12/2018 (ngày ra quyết định thu hồi) đến ngày 05/06/2023 (thời điểm chi trả tiền bồi thường) là không đúng quy định pháp luật, làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình. Đề nghị TAND tỉnh xem xét giải quyết:

  • Huỷ một phần Quyết định số 2683/QĐ-UBND ngày 05/6/2023 của UBND thành phố V về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư bổ sung cho ông (bà) Kim Trọng Y do Nhà nước thu hồi để thực hiện dự án Khu tái định cư 10ha trong 58ha, thuộc Phường A, thành phố V;
  • Buộc UBND thành phố V thanh toán thêm một khoản tiền bằng mức tiền chậm nộp theo quy định của Luật quản lý thuế tính trên số tiền 4.889.650.200đ (theo Quyết định số 9182/QĐ-UBND ngày 18/12/2018 và Quyết định số 2683/QĐ-UBND ngày 05/6/2023) cho thời gian chậm trả từ thời điểm thu hồi đất (ngày 28/12/2018 ngày ra quyết định thu hồi đất) đến ngày 05/6/2023 (ngày chi trả tiền bồi thường), tổng cộng 1627 ngày.

* Người bị kiện, Ủy ban nhân dân T có văn bản trình bày:

Theo hồ sơ lưu, diện tích đất 350,20m² do Nhà nước thu hồi để xây dựng dự án Khu tái định cư 10ha trong 58ha, Phường A, như sau:

Quá trình lập phương án bồi thường, hỗ trợ cho ông KimTrọng Y1:

Ngày 28/12/2018, UBND thành phố V ban hành Quyết định số 9171/QĐ-UBND về việc thu hồi đất, Quyết định số 9182/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho ông (bà) Kim Trọng Y (Đặng Thị T2), địa chỉ B L, Phường A, thành phố V, do Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án Khu tái định cư 10ha trong 58ha, Phường A, Tp V, tổng kinh phí bồi thường, hỗ trợ: 1.411.936.940 đồng. Trong đó:

  • Bồi thường giá trị quyền sử dụng đất (Diện tích 350,20m² đất nông nghiệp vị trí 1, đường L, đường 3/2): 1.209.941.000 đồng.
  • Bồi thường hoa màu: 8.251.800 đồng. + Hỗ trợ 100% giá nhà, vật kiến trúc do ông (bà) Kim Trọng Y xây dựng năm 2002: 193.744.140 đồng.

Không đồng ý với Quyết định số 9182/QĐ-UBND ngày 28/12/2018 của UBND thành phố V, ông Y khiếu nại đến Chủ tịch UBND thành phố V yêu cầu:

  • Khảo sát giá và bồi thường theo giá thị trường;
  • Xem xét bồi thường 150m² đất ở;
  • Giao cho hộ ông Y 01 lô đất tái định cư hoặc 01 lô đất ở mới và các khoản hỗ trợ khác theo quy định.

Ngày 05/7/2019, Chủ tịch UBND thành phố V ban hành Quyết định số 3129/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu) của ông Kim Trọng Y, theo đó đã bác nội dung khiếu nại của ông Y đối với yêu cầu: “Khảo sát giá và bồi thường theo giá thị trường, xem xét bồi thường 150m² đất ở và giao cho hộ ông Y 01 lô đất tái định cư”; Chấp nhận nội dung đơn khiếu nại của ông Y đối với yêu cầu: “Giao cho ông Kim Trọng Y 01 lô đất ở mới và bồi thường, hỗ trợ tiền di chuyển và hỗ trợ tiền thuê nhà do Nhà nước thu hồi để thực hiện dự án Khu tái định cư Aha trong 58ha, Phường A, thành phố V”.

Ngày 19/9/2019, UBND thành phố V ban hành Quyết định số 4589/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ bổ sung và giao đất ở mới cho ông (bà) Kim Trọng Y. Trong đó: Giao cho hộ ông Kim Trọng Y 01 lô đất ở mới để ổn định cuộc sống và bồi thường chi phí di chuyển trong tỉnh, hỗ trợ tiền thuê nhà 6 tháng: 21.300.000 đồng. Không đồng ý với Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Chủ tịch UBND thành phố V, ông Y khiếu nại đến Chủ tịch UBND tỉnh B yêu cầu: “Xem xét bồi thường 150m² đất ở và giao cho hộ ông Y 01 lô đất tái định cư”.

Ngày 17/12/2019, Chủ tịch UBND tỉnh B ban hành Quyết định số 3460/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của ông Kim Trọng Y (lần hai), theo đó:

“... Điều 1. Bác nội dung khiếu nại của ông Kim Trọng Y đối với yêu cầu: Bồi thường 150m² đất ở và giao cho hộ ông Y 01 lô đất tái định cư.

- Giữ nguyên nội dung giải quyết bác đơn khiếu nại đối với hai nội dung trên tại Quyết định giải quyết khiếu nại (lần đầu) số 3129/QĐ-UBND ngày 05/7/2019 của Chủ tịch UBND thành phố V”.

Ngày 16/6/2022, Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có Thông báo thụ lý vụ án hành chính sơ thẩm số 94/2022/HC-ST về việc: “Khởi kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai về việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải quyết khiếu nại” với người khởi kiện: Ông Kim Trọng Y và người bị kiện: UBND thành phố V, Chủ tịch UBND thành phố V và Chủ tịch UBND tỉnh B. Người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

“Tuyên hủy Quyết định số 9182/QĐ-UBND ngày 28/12/2018 của UBND thành phố V, Hủy bỏ Quyết định giải quyết khiếu nại (lần đầu) số 3129/QĐ-UBND ngày 07/5/2019 của Chủ tịch UBND thành phố V và hủy bỏ Quyết định quyết khiếu nại (lần hai) số 3460/QĐ-UBND ngày 17/12/2019 của Chủ tịch UBND tỉnh B. Buộc UBND thành phố V bồi thường diện tích đất bị thu hồi theo đúng quy định pháp luật với nội dung sau:

  • Áp giá bồi thường về đất theo đơn giá thị trường tại thời điểm thu hồi đất (thời điểm tháng 12/2018).
  • Bồi thường toàn bộ diện tích 350,2m² đất ở.
  • Cấp 02 lô đất tái định cư”.

Trên cơ sở rà soát đơn khởi kiện tại Tòa của ông Kim Trọng Y, UBND thành phố V có Văn bản số 1514/UBND-PTQĐ ngày 17/3/2023 về việc chỉ đạo thực hiện việc thu hồi đất, bồi thường đối với các hộ gia đình, cá nhân có đất thu hồi thuộc dự án Khu tái định cư A, Phường A, thành phố V. Ngày 31/3/2023, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Thành phố họp xét và kế luận: “Diện tích 350,20m² đã thu hồi và bồi thường đất nông nghiệp nay bồi thường bổ sung chênh lệch gồm 150m² giá đất ở và 202,2m² theo giá dất nông nghiệp, vị trí 1 - đường loại 3. Điều chỉnh 01 lô đất ở mới đã giao... thành 01 lô đất tái định cư”.

Ngày 05/6/2023, UBND thành phố V ban hành Quyết định số 2683/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư bổ sung cho ông Kim Trọng Y, với tổng kinh phí bồi thường, hỗ trợ: 3.679.709.200đ (bồi thường bổ sung chênh lệch với diện tích (150m² giá đất ở và 202,2m² đất nông nghiệp) theo giá đất tháng 12 năm 2018) và giao 01 lô đất tái định cư thay thế 01 lô đất ở mới đã được phê duyệt tại Quyết định số 4589/QĐ-UBND ngày 19/9/2019 của UBND thành phố V. Ông Kim Trọng Y đã nhận số tiền trên và đã bàn giao mặt bằng để thi công dự án.

Như đã trình bày ở trên, UBND thành phố V đã thực hiện đầy đủ, đúng quy trình về thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho ông (bà) Kim Trọng Y theo quy định tại Luật Đất đai năm 2013.

Bên cạnh đó, để thực hiện Quyết định số 9171/QĐ-UBND ngày 28/12/2018 về việc thu hồi đất, Quyết định số 9182/QĐ-UBND ngày 28/12/2018 của UBND thành phố V về phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ tái tái định cư cho ông (bà) Kim Trọng Y, Chủ đầu tư - Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng 1 thành phố V (nay là Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng thành phố V) cũng đã mời ông Kim Trọng K đến nhận tiền bồi thường, hỗ trợ, nhưng ông Y không đến nhận tiền. Việc UBND thành phố xác định bồi thường đất diện tích 350,20m² đã thu hồi và bồi thường đất nông nghiệp được căn cứ vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho hộ dân. Quá trình thu thập hồ sơ để xét bồi thường, giải quyết khiếu nại tại UBND thành phố V và UBND tỉnh, thì hộ ông Y cũng không cung cấp thêm tài liệu để xác định lại đất ở theo quy định tại Khoản 5 Điều 24 Nghị định số 43/2014/CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ. Nên việc xác định không bồi thường về đất ở cho hộ ông Y là phù hợp với các hồ sơ, tài liệu có trong hồ sơ. Như vậy, lỗi không bồi thường loại đất ở, không nhận tiền không thuộc trách nhiệm của UBND thành phố và các cơ quan tham mưu, xét hồ sơ.

Sau đó, trên cơ sở đối thoại tại vụ án hành chính theo Thông báo thụ lý vụ án hành chính sơ thẩm số 94/2022/HC-ST ngày 16/6/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, trên cơ sở kết quả xét hồ sơ bổ sung, UBND thành phố V có văn bản giao các đơn vị xét bồi thường bổ sung chênh lệch gồm 150m² giá đất ở và 202,2m² theo giá đất nông nghiệp. Trên cơ sở đó, UBND thành phố V ban hành Quyết định số 2683/QĐ-UBND ngày 05/6/2023 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư bổ sung cho ông Kim Trọng Y. Ông Kim Trọng Y đã đồng thuận với quyết định nêu trên; đồng thời đã rút đơn khởi kiện và TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã có Quyết định số 52/2023/QĐST-HC ngày 26/7/2023 về đình chỉ giải quyết vụ án hành chính (theo đơn xin rút đơn khởi kiện của nguyên đơn là ông Kim Trọng Y).

Do đó, việc ông Kim Trọng Y yêu cầu Tòa án Nhân dân tỉnh giải quyết: “Tuyên hủy một phần Quyết định số 2683/QĐ-UBND ngày 05/6/2023 của UBND thành phố V về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư bổ sung cho ông (bà) Kim Trọng Y, địa chỉ số B L, Phường A, thành phố V do nhà nước thu hồi để thực hiện dự án Khu tái định cư 10ha trong 58ha, thuộc Phường A, thành phố V và buộc UBND thành phố V thanh toán thêm một khoản tiền bằng mức tiền chậm nộp theo quy định của Luật quản lý thuế tính trên số tiền 4.889.650.200 đồng (theo Quyết định số 9182/QĐ-UBND ngày 18/12/2018 và Quyết định số 2683/QĐ-UBND ngày 05/6/2023) cho thời gian chậm trả từ thời điểm thu hồi đất (ngày 28/12/2018 ngày ra quyết định thu hồi đất) đến ngày 05/6/2023 (ngày chi trả tiền bồi thường), tổng cộng 1.627 ngày” là không có cơ sở giải quyết.

UBND thành phố V đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bác nội dung khởi kiện nêu trên của ông Kim Trọng Y.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị L trình bày:

Bà và ông Kim Trọng Y trước đây là vợ chồng, vào năm 2002 ông Kim Văn D và bà Đặng Thị T2 chuyển nhượng cho vợ chồng diện tích đất 280m² bằng hợp đồng bằng văn bản có chứng thực của UBND phường A, TP V nhưng chưa thực hiện sang tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Thực tế đất sử dụng là 350,2m²). Trên hợp đồng chuyển nhượng này đứng tên Bà và ông Kim Trọng Y là người nhận chuyển nhượng. Tuy nhiên, đến năm 2016 vợ chồng ly hôn và đã tự thỏa thuận, thống nhất với nhau về việc phân chia tài sản chung sau ly hôn. Hiện nay phần diện tích đất này thuộc quyền sử dụng riêng của ông Kim Trọng Y. Bà được biết ông Y đang khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để yêu cầu xem xét giải quyết những vấn đề liên quan đến việc Nhà nước thu hồi phần diện tích đất này. Bà cam kết phần diện tích đất mà Nhà nước thu hồi này là tài sản riêng của ông Y nên ông Y được quyền quyết định mọi vấn đề có liên quan trong quá trình giải quyết vụ án, Bà không có ý kiến gì. Bà hoàn toàn đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Y, ngoài ra không có ý kiến gì thêm.

Kính mong Quý Tòa xem xét giải quyết yêu cầu khởi kiện của ông Y theo quy định pháp luật.

2. Bà Đặng Thị T2 trình bày:

Bà là Mẹ của ông Kim Trọng Y, Bà không có yêu cầu gì trong vụ án. Đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Y.

* Đại diện Viện Kiểm sát phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

- Về trình tự thủ tục tố tụng:

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng theo quy định của Luật tố tụng hành chính. Tại phiên tòa, Thẩm phán, hội đồng xét xử thực hiện đúng các quy định về thủ tục tố tụng, các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định.

- Về nội dung:

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 193, Luật Tố tụng hành chính; Điều 74, Khoản 2 Điều 93 Luật đất đai 2013;

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu của ông Kim Trọng Y về việc:
    • Hủy Mục A Điều 1 Quyết định số 2683/QĐ-UBND ngày 05/6/2023 của UBND thành phố V về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư bổ sung cho hộ ông (bà) Kim Trọng Y, do Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án Khu tái định cư 10 ha trong 58ha, Phường A, thành phố V;
    • Buộc Ủy ban nhân dân thành phố V chi trả phần tiền lãi chậm trả trên số tiền 3.679.709.200 đồng theo quy định của pháp luật.
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Kim Trọng Y về việc: Buộc Ủy ban nhân dân thành phố V chi trả phần tiền lãi chậm trả trên số tiền 1.209.941.000 đồng. Vì phía UBND thành phố V đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ trong việc thông báo và tổ chức vận động ông Y đến nhận tiền hỗ trợ, bồi thường khi thu hồi đất, nhưng phía ông Y từ chối không hợp tác, không đến nhận tiền, nên không có căn cứ để xem xét.
  3. Án phí: UBND thành phố V phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về đối tượng khởi kiện, thời hiệu khởi kiện và thẩm quyền giải quyết:

Xác định đối tượng khởi kiện là Quyết định số 2683/QĐ-UBND ngày 05/6/2023 của UBND thành phố V về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư bổ sung cho ông (bà) Kim Trọng Y. Địa chỉ số B L, phường A, TP V, do Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án Khu tái định cư 10ha trong 58ha, thuộc Phường A, thành phố V (viết là: Quyết định số 2683) và Yêu cầu buộc Ủy ban nhân dân thành phố V chi trả phần tiền lãi chậm trả trên số tiền chậm trả theo mức tiền chậm chi trả quy định tại điểm b khoản 2 Điều 59 Luật Quản lý thuế 2019, khoản 2 Điều 93 Luật đất đai 2013. Thời hiệu khởi kiện còn và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, khoản 2 Điều 116, khoản 1 Điều 193 Luật tố tụng hành chính.

[1.2] Về trình tự, thủ tục và thẩm quyền ban hành quyết định:

Quyết định số 2683 được ban hành đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của Luật Đất đai năm 2013.

[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự:

Người bị kiện và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt, nhưng có đơn trình bày ý kiến và đề nghị xét xử vắng mặt. Người bị kiện có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp tham gia phiên tòa.

Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự này theo quy định tại Điều 157, Điều 158 Luật tố tụng hành chính.

[1.4] Về tài liệu, chứng cứ:

Đến thời điểm xét xử, các đương sự không còn cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì thêm. Hội đồng xét xử căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ do các bên cung cấp có trong hồ sơ để giải quyết vụ án theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét tính có căn cứ của Quyết định số 2683:

Nhận thấy, ngày 28/12/2018 Ủy ban nhân dân thành phố V ban hành Quyết định số 9171/QĐ-UBND về việc thu hồi 350,20 m² đất của ông (bà) Kim Trọng Y (Đặng Thị T2), cùng ngày 28/12/2018, UBND thành phố V đã ban hành Quyết định số 9182/QĐ-UBND phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho ông (bà) Kim Trọng Y (Đặng Thị T2).

Ông Y cho rằng Quyết định số 9182 ban hành không đúng pháp luật, nên đã khiếu nại. Tại Quyết định số 3142/QĐ-UBND ngày 08/7/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố V đã bác khiếu nại của ông Y. Ông Y tiếp tục khiếu nại lên Chủ tịch UBND tỉnh B. Ngày 17/12/2019 Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B ban hành Quyết định số 3460/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại lần hai bác toàn bộ nội dung khiếu nại và giữ nguyên nội dung Quyết định số 9182/QĐ-UBND và Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu số 3129 của Ủy ban nhân dân và của Chủ tịch UBND thành phố V.

Không đồng ý với kết quả giải quyết khiếu nại của UBND tỉnh B, ông Y đã khởi kiện tại Tòa án. Ngày 16/6/2022, Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có Thông báo thụ lý vụ án hành chính sơ thẩm số 94/2022/HC-ST về việc: “Khởi kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai về việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư” giữa người khởi kiện: Ông Kim Trọng Y và người bị kiện: UBND thành phố V, Chủ tịch UBND thành phố V và Chủ tịch UBND tỉnh B.

Ngày 17/3/2023, Chủ tịch UBND thành phố V ban hành Văn bản số 1514/UBND-PTQĐ về việc chỉ đạo thực hiện việc thu hồi đất, bồi thường đối với các hộ gia đình, cá nhân có đất thu hồi thuộc dự án Khu tái định cư A, Phường A, thành phố V.

Ngày 31/3/2023, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Thành phố họp xét và kết luận: “Diện tích 350,20 m² đã thu hồi và bồi thường đất nông nghiệp nay bồi thường bổ sung chênh lệch gồm 150m² giá đất ở và 202,2m² theo giá dất nông nghiệp, vị trí 1 - đường loại 3 ... Điều chỉnh 01 lô đất ở mới đã giao ... thành 01 lô đất tái định cư”.

Ngày 05/6/2023, UBND thành phố V ban hành Quyết định số 2683/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư bổ sung cho ông Kim Trọng Y với tổng kinh phí bồi thường, hỗ trợ: 3.679.709.200 đ (bồi thường bổ sung chênh lệch với diện tích (150m² giá đất ở và 202,2m² đất nông nghiệp) theo giá đất tháng 12 năm 2018) và giao 01 lô đất tái định cư thay thế 01 lô đất ở mới đã được phê duyệt tại Quyết định bổ sung số 4589/QĐ-UBND ngày 19/9/2019 của UBND thành phố V. Ông Y đã nhận số tiền trên và đã bàn giao mặt bằng để thi công dự án.

Ngày 26/7/2023, TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ban hành Quyết định số 52/2023/QĐST-HC về việc đình chỉ giải quyết vụ án hành chính (theo đơn xin rút đơn khởi kiện của ông Kim Trọng Y).

Như vậy, UBND thành phố V đã thực hiện đầy đủ, đúng quy trình về thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho ông (bà) Kim Trọng Y theo quy định tại Luật Đất đai năm 2013. Tuy nhiên, trong quyết định này UBND thành phố V không tính tiền lãi chậm trả trên số tiền chậm trả theo mức tiền chậm chi trả cho ông Y bà T2 theo quy định của Luật đất đai năm 2013 là có thiếu sót, cần phải xem xét lại Quyết định số 2683 theo yêu cầu của người khởi kiện.

[2.2] Xét tính có căn cứ của yêu cầu buộc UBND thành phố V chi trả phần tiền lãi chậm trả trên số tiền chậm trả theo mức tiền chậm chi trả:

Về yêu cầu này có 02 khoản tiền được bồi thường, hỗ trợ như sau:

[2.2.1] Khoản tiền thứ nhất:

Tại Quyết định số 9182/QĐ-UBND ngày 28/12/2018 của UBND thành phố V đã ban hành phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ về giá trị quyền sử dụng đất cho ông (bà) Kim Trọng Y (Đặng Thị T2) với tổng số tiền là 1.209.941.000 đồng.

Nhận thấy, trong các ngày 17/01/2019, 18/01/2019 và 24/01/2019, Ban Q phối hợp Trung tâm Phát triển quỹ đất TP . và UBND phương 10 mời tổ chức chi trả cho 11 hộ dân thuộc dự án Khu tái định cư 10ha trong khu 58ha phường A, thành phố V (đợt 16). Tuy nhiên, chi có 05/11 hộ dân nhận thư mời. Còn lại 06/11 hộ không nhận thư mời gồm các hộ ông (bà): Đặng Thị T2 - Nguyễn Thị M; Kim Thị G (Đặng Thị T2); Kim Đắc S (Đặng Thị T2); Kim Trọng Y(Đặng Thị T2); Lương Thị Kiều D1; Ngô Văn C (C) - Phùng Thị C1. Lý do: Các hộ đang khiếu nại tại Thanh tra đối với Quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của UBND thành phố nêu chưa đồng ý nhận tiền theo các quyết định nêu trên. Ban Q phối hợp Trung tâm Phát triễn quy dất TP . và UBND phường A đã tiến hành lập biên bản làm việc (đối với các hộ gia đình không nhận thư mời nhận tiền nêu trên).

Ngày 21 và 25/01/2019, Ban Q phối hợp Trung tâm P và UBND phường A mời tổ chức chi trả tiền cho các hộ dân thuộc dự án (đợt 16). Ngày 14/3/2019 (sau tết nguyên đán), hộ ông Kim Đức T3 - Kim Ngọc Q đến làm thủ tục nhận tiền bồi thường, hỗ trợ (dợt 16).

Tại buổi chi trả có 04 hộ Nguvễn Thanh Đ - Vũ Thị Tuyết L1 (Đặng Thị T2 - Là mẹ ông Y, người có tên trong quyết định bồi thường cùng ông Y): Nguyễn Thị M (Kim Đức T4 - Kim Ngọc Q); Vũ Văn R - Nguyễn Thị M (Đăng Thị T5); Nguyễn Xuân B1 đến trụ sở Ban Q nhận tiền bồi thường, hỗ trợ theo Quyết định của UBND thành phố V. Còn lại 07/11 hộ dân không đến nhận tiền (đợt 16) (do đang khiếu nại Quyết định của UBND thành phố V và đề nghi xin giao đất ở mới). Cụ thể:

Hộ Đặng Thị T2 - Nguyễn Thị M; Kim Thị G (Đặng Thị T2); Kim Đắc S (Đặng Thị T2); Kim Trọng Y (Đăng Thị T5); Kim Ngọc Q - Nguyễn Thị U (Dăng Thị T6); Lương Thị Kiều D1 và hộ Ngô Văn C (Cần) - Phùng Thị C1.

Ban Q thành phố V và Trung tâm phát triển qũy đất thành phố V đã lập biên bản làm việc đề nghị UBND phường 10 tổ chức vận động các hộ còn lại nhận tiền và bàn giao mặt bằng theo quy định. UBND phường A đã tổ chức vận động đối với các hộ thuộc các dự án: Trường Mầm non P1, T phường A và Khu phân lô tái định cư (302 lô), các hộ còn lại thuộc khu quy hoạch chung cư kết hợp công viên thực hiện vào năm 2020 (trong đó có 11 hộ thuộc đợt 16).

Trong các ngày 13/03/2020, 20/03/2020 và 27/03/2020, UBND phường A chủ trì phối hợp với Trung tâm PTQĐ và Ban Q tiến hành mời (lần 2) đối với các hộ gia đình chưa nhận tiền và chưa bàn giao mặt bằng. Trong đó có các hộ gia đình ông (bà) Kim Văn D (đã chết) - Đặng Thị T2; Kim Thị G (Đặng Thị T2); Kim Đắc S (Đặng Thị T2); Kim Trọng Y (Đặng Thị T2); Lương Thị Kiều D1; Ngô Văn C (Cần) - Phùng Thị C1. Kết quả: các hộ nêu trên không đồng ý nhận tiền và không bàn giao mặt bằng.

Như vậy, việc không nhận tiền bồi thường về đất khi thu hồi là do phía ông Y, bà T2, không phải do phía UBND thành phố V không thực hiện việc chi trả tiền. UBND thành phố V đã thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ trong việc thông báo cho ông Y, bà T2 (mẹ ông Y) đến nhận tiền bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất, nhưng phía họ từ chối không hợp tác, không đến nhận tiền, UBND thành phố V không có lỗi, nên không có căn cứ để chấp nhận về yêu cầu buộc UBND thành phố V chi trả phần tiền lãi chậm trả trên số tiền chậm trả theo mức tiền chậm chi trả đối với số tiền 1.209.941.000 đồng.

Theo quy định của pháp luật, việc nhận tiền bồi thường trong thu hồi đất của các hộ dân không làm mất đi quyền khiếu nại hay quyền khởi kiện vụ án hành chính. Việc người sử dụng đất không nhận tiền để chờ kết quả giải quyết khiếu nại của Thanh tra và của cơ quan có thẩm quyền là không có căn cứ để chấp nhận.

[2.2.2] Đối với khoản tiền thứ 2:

Tiền hỗ trợ 3.679.709.200 đồng (bồi thường bổ sung chênh lệch với diện tích (150m² giá đất ở và 202,2m² đất nông nghiệp) theo giá đất tháng 12 năm 2018:

Xét thấy, để xem xét lại Quyết định số 9182/QĐ-UBND ngày 28/12/2018 của UBND thành phố V về phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư cho ông (bà) Kim Trọng Y (Đặng Thị T2), ngày 05/6/2023, UBND thành phố V ban hành Quyết định số 2683/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư bổ sung cho ông Kim Trọng Y với tổng kinh phí bồi thường, hỗ trợ: 3.679.709.200 đồng (bồi thường bổ sung chênh lệch với diện tích (150m² giá đất ở và 202,2m² đất nông nghiệp) theo giá đất tháng 12 năm 2018) và giao 01 lô đất tái định cư thay thế 01 lô đất ở mới. Ông Y đã nhận số tiền trên và đã bàn giao mặt bằng để thi công dự án.

Tuy nhiên, đáng lẽ số tiền này gia đình ông Y được nhận từ năm 2018, nhưng đến ngày 05/6/2023, UBND thành phố V mới ban hành Quyết định số 3683 phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư bổ sung cho ông Y là lỗi hoàn toàn thuộc về phía UBND thành phố V. Việc chi trả bồi thường chậm là vi phạm khoản 1 và 2 Điều 93 Luật đất đai 2013, cụ thể về quy định “Chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư:

  1. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có hiệu lực thi hành, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường phải chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi.
  2. Trường hợp cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường chậm chi trả thì khi thanh toán tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi, ngoài tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì người có đất thu hồi còn được thanh toán thêm một khoản tiền bằng mức tiền chậm nộp theo quy định của Luật quản lý thuế tính trên số tiền chậm trả và thời gian chậm trả”, nên ông Y phải được thanh toán thêm một khoản tiền bằng mức tiền chậm nộp theo quy định của Luật quản lý thuế tính trên số tiền chậm trả và thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 1 và 2 Điều 93 Luật đất đai 2013.

Như vậy, có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện về nội dung này của ông Kim Trọng Y.

* Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Từ những phân tích, nhận định tại mục [2.1], [2.2] nêu trên, có căn cứ để chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Y. Hủy một phần Quyết định số 2683; Buộc UBND thành phố V thanh toán thêm một khoản tiền bằng mức tiền chậm nộp theo quy định của Luật quản lý thuế tính trên số tiền chậm trả và thời gian chậm trả quy định tại khoản 1 và 2 Điều 93 Luật đất đai 2013 cho ông Kim Trọng Y đối với số tiền 3.679.709.200 đồng theo quy định pháp luật.

Không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Kim Trọng Y về việc: Buộc Ủy ban nhân dân thành phố V chi trả phần tiền lãi chậm trả trên số tiền 1.209.941.000 đồng.

[3] Án phí sơ thẩm:

Người khởi kiện không phải nộp; người bị kiện phải nộp 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ: Khoản 1 khoản 2 Điều 93 Luật đất đai 2013;

- Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính; khoản 2 Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Kim Trọng Y:
    • - Huỷ Mục A Điều 1 Quyết định số 2683/QĐ-UBND ngày 05/6/2023 của Ủy ban nhân dân thành phố V về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư bổ sung cho ông (bà) Kim Trọng Y, địa chỉ số B L, Phường A, thành phố V do Nhà nước thu hồi để thực hiện dự án Khu tái định cư 10ha trong 58ha, thuộc Phường A, thành phố V.
    • - Buộc Ủy ban nhân dân thành phố V thanh toán thêm cho ông Kim Trọng Y một khoản tiền bằng mức tiền chậm trả theo quy định của Luật quản lý thuế tính trên số tiền chậm trả và thời gian chậm trả quy định tại khoản 1 và 2 Điều 93 Luật đất đai 2013, khi thu hồi đất tại Quyết định số 2683/QĐ-UBND ngày 05/6/2023 của Ủy ban nhân dân thành phố V đối với số tiền 3.679.709.200₫ (Ba tỷ, sáu trăm bảy mươi chín triệu, bảy trăm lẻ chín ngàn, hai trăm đồng) theo quy định pháp luật.
  2. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Kim Trọng Y về nội dung:
    • Buộc Ủy ban nhân dân thành phố V chi trả tiền lãi chậm trả theo quy định của Luật quản lý thuế tính trên số tiền chậm trả và thời gian chậm trả quy định tại khoản 1 và 2 Điều 93 Luật đất đai 2013, khi thu hồi đất của Ủy ban nhân dân thành phố V đối với số tiền 1.209.941.000đ (Một tỷ, hai trăm lẻ chín triệu, chín trăm bốn mươi mốt ngàn đồng).
  3. Án phí hành chính sơ thẩm:
    • - Ủy ban nhân dân thành phố V phải nộp 300.000 đồng.
    • - Hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng cho ông Kim Trọng Y theo Biên lai tạm ứng án phí số 0000216 ngày 25/01/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.

Các Hội Thẩm

Thẩm Phán-Chủ Tọa Phiên Tòa

Vũ Công Sế Trần Văn V

Đoàn Ngọc T7

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh BR-VT;
  • - THA dân sự tỉnh BR-VT;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Ngọc Thiện

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2024/HC-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về khởi kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực thu hồi và bồi thường đất

  • Số bản án: 59/2024/HC-ST
  • Quan hệ pháp luật: Khởi kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực thu hồi và bồi thường đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Kim Trọng Y - UBND TP V
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger