|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 59/2024/DSPT
Ngày: 13 - 5 - 2024
V/v: Tranh chấp QSD đất.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vương Thị Hà.
- Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Bình.
- Ông Hoàng Ngọc Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Tuyết Nhung - Thư ký TAND tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.
Vào các ngày 15/4/2024, ngày 22/4/2024 và ngày 13/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 27/2023/TLPT-DS ngày 08/11/2023 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 24/2023/DS-ST ngày 29/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 23/2023/QĐ-PT ngày 01/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1948 và ông Nguyễn Đức D, sinh năm 1941; Cùng địa chỉ: Số D, tổ G, khu G, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. (Ông D ủy quyền cho bà T tham gia tố tụng). Có mặt
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà T: Luật sư Nguyễn Thế U, Văn phòng L3 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B; địa chỉ: Số H đường N, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh và Luật sư Vũ Văn N, Công ty L4 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B; địa chỉ: Số E đường N, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1955 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1962; Cùng địa chỉ: Số F, tổ G, khu G, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân thành phố B; địa chỉ: Số B, đường N, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.
- Anh Nguyễn Xuân L1, sinh năm 1966 và chị Nguyễn Thị Thu H2, sinh năm 1971; Cùng địa chỉ: Số D đường B, khu G, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Song H; chức vụ: Chủ tịch UBND thành phố B.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn H1; chức vụ: Phó chủ tịch UBND thành phố B. Vắng mặt
(Chị H2 ủy quyền cho anh L1 tham gia tố tụng). Có mặt
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh L1: Luật sư Nguyễn Thế U, Văn phòng L3 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B; địa chỉ: Số H đường N, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt
Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Xuân L1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu trong hồ sơ thì nội dung vụ án như sau:
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn và nguyên đơn trình bày: Ngày 26/12/1998, hộ bà Nguyễn Thị T được UBND tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 26, tờ bản đồ số 05, diện tích 84m² tại phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (sau đây gọi là thửa đất số 26). Đến năm 2014, được UBND thành phố B cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, thửa đất số 26 mang tên ông Nguyễn Đức D và bà Nguyễn Thị T. Thửa đất có tứ cận: Phía Bắc giáp đường Cổ Mễ dài 4,88m; phía Nam giáp thửa đất nhà anh Nguyễn Đức L2 dài 13,58m; phía Đông giáp đường B Kho dài 17,74m; phía Tây giáp thửa đất nhà ông Nguyễn Văn L dài 9,98m.
Về nguồn gốc thửa đất và quá trình sử dụng: Ngày 07/02/1993, bà Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Thị H3 (em gái bà T) cùng nhận chuyển nhượng 01 thửa đất có diện tích 112m² có tứ cận: Phía Tây Bắc giáp đường bê tông nhà máy K (nay là đường C) dài 15m; Phía Đông Bắc giáp đường ô tô vào cổng nhà máy K (nay là đường B) dài 08m; Phía Đông Nam giáp nhà bà B1 dài 14m; Phía Tây Nam giáp trường Công Binh dài 9m. Sau khi nhận chuyển nhượng bà T và bà H3 đã chia tách thửa đất. Gia đình bà T quản lý, sử dụng phần đất nay là thửa đất số 26, tờ bản đồ số 05, diện tích 84m²; gia đình bà H3 quản lý, sử dụng phần đất phần còn lại và năm 2003 đã bán cho anh L2, chị H2 nay là thửa đất số 27, tờ bản đồ số 05, diện tích 57,2m². Ngay sau khi nhận chuyển nhượng và tiến hành phân chia thửa đất với bà H3, gia đình bà T đã xây dựng nhà để ở và trực tiếp quản lý sử dụng thửa đất nhưng không xây hết diện tích đất vì bị gia đình ông L cản trở việc xây dựng. Thời điểm đó, do không hiểu biết pháp luật nên gia đình bà T không khiếu kiện ngay.
Đến nay vợ chồng bà T ông D khởi kiện yêu cầu gia đình ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị B phải trả lại diện tích đất lấn chiếm là 29,8m² thuộc thửa đất số 26 của ông bà.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là anh Nguyễn Xuân L1, chị Nguyễn Thị Thu H2 trình bày: Vợ chồng anh đang quản lý, sử dụng thửa đất số 27, tờ bản đồ số 05, diện tích 57,2m² tại khu G, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (sau đây gọi là thửa đất số 27). Thửa đất được UBND tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 020105 ngày 26/12/1998 mang tên hộ bà Nguyễn Thị H3. Năm 2003, vợ chồng anh mua lại của vợ chồng bà Nguyễn Thị H3, nên ngày 02/5/2003, Phòng quản lý đô thị thị xã B xác nhận thay đổi thửa đất mang tên ông Nguyễn Xuân L1, bà Nguyễn Thị Thu H2. Khi mua là thửa đất trống, xung quanh đã có mốc giới xác định bằng tường của các hộ liền kề. Phía Bắc giáp nhà ông L có hàng rào cây, tường con kiến phía dưới mặt đất, không phải tường cao, sau khi xây nhà gia đình anh mới phát hiện ra. Cuối 2009, đầu 2010, gia đình anh khởi công xây dựng công trình trên đất là nhà 02 tầng lệch được xây toàn bộ trên thửa đất như hiện nay. Đến năm 2020, khi nhà ông L làm công trình phụ và dàn treo cây lan thì ông L có bịt ô thoáng của gia đình anh. Lúc này, anh kiểm tra thực trạng sử dụng đất của gia đình so với bản đồ địa chính thấy còn thiếu 3,7m² đất do gia đình ông L sử dụng. Ngày 15/3/2023, vợ chồng anh có đơn yêu cầu độc lập yêu cầu ông L và bà B phải trả lại phần đất lấn chiếm diện tích 3,7m² thuộc thửa đất số 27 của vợ chồng anh.
Bị đơn là ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị B trình bày: Gia đình ông đang quản lý, sử dụng thửa đất số 25, tờ bản đồ số 05, diện tích 231,5m² tại khu G, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (sau đây gọi là thửa đất số 25). Thửa đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Về nguồn gốc thửa đất: Ngày 22/4/1992, Bộ tư lệnh Công Binh có Quyết định số: 18/QĐ giao lô đất số 02, diện tích 100m² cho ông. Tuy nhiên, thực tế ông được giao quản lý, sử dụng thửa đất có diện tích 220m². Do phần đất có diện tích 120m² là lô xen kẹp nằm cuối đất của Bộ đang quản lý sử dụng giáp với hộ dân cư xung quanh, hình dạng không vuông vắn và không đủ kích thước để tách thửa nên Bộ tư lệnh Công Binh không có Quyết định giao cho ai vì vậy Trường S giao cho ông quản lý, sử dụng phần đất này. Gia đình ông đã quản lý toàn bộ diện tích đất 220m² này từ năm 1992.
Quá trình sử dụng đất, ông đã xây cơi lới thêm phần hố ga giáp với gian nhà cấp 4 mà gia đình bà T cơi lới ra nên phần đất gia đình ông đang quản lý, sử dụng thực tế có diện tích 231,5m². Năm 1993, gia đình ông xây dựng nhà trên diện tích đất được Bộ tư lệnh Công Binh giao. Phần đất giáp ranh với thửa đất nhà bà T và anh L1, ông có xây hàng gạch làm rãnh thoát nước. Khi đó, gia đình bà T không có ý kiến gì. Gia đình ông vẫn sử dụng ổn định, giữ nguyên mốc giới từ năm 1992 đến nay.
Nay bà T, ông D và anh L1, chị H2 cho rằng gia đình ông sử dụng lấn sang phần đất của bà T, ông D diện tích 29,8m² và lấn sang phần đất nhà anh L1, chị H2 diện tích 3,7m² là không đúng nên ông không đồng ý trả lại. Do việc đo vẽ, lập trích lục bản đồ địa chính thửa đất tháng 8/1996 là không đúng với thực địa và ông không ký giáp ranh vào biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất tháng 8/1996 này. Ngày 05/11/2021, vợ chồng ông có đơn phản tố yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với thửa đất số BU 521828 do UBND thành phố B cấp ngày 03/7/2014 mang tên ông Nguyễn Đức D và bà Nguyễn Thị T và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 020105 do Chủ tịch UBND tỉnh B cấp ngày 26/12/1998 mang tên hộ bà Nguyễn Thị H3. Ngày 02/5/2003, Phòng quản lý đô thị thị xã B xác nhận thay đổi thửa đất mang tên ông Nguyễn Xuân L1, bà Nguyễn Thị Thu H2. Nhưng đến ngày 25/01/2023 vợ chồng ông đã có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu phản tố.
Từ nội dung trên, bản án sơ thẩm đã áp dụng các Điều 26, 35, 39, 220, 227, 235, 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166, 175 Bộ luật Dân sự; Điều 3, 12, 20, 106, 170, 179, 202, 203 Luật Đất đai năm 2013; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Đức D về việc buộc ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị B phải trả phần đất có diện tích 29,8m² thuộc thửa đất số 26, diện tích 80,1m² tại khu G, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh mang tên ông Nguyễn Đức D, bà Nguyễn Thị T.
- Không chấp nhận yêu cầu độc lập của anh Nguyễn Xuân L1, chị Nguyễn Thị Thu H2 về việc buộc ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị B phải trả phần đất có diện tích 3,7m² thuộc thửa đất số 27, diện tích 57,2m² tại khu G, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh mang tên anh Nguyễn Xuân L1, bà Nguyễn Thị Thu H2.
- Đình chỉ giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn về việc yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với thửa đất số BU 521828 do UBND thành phố B cấp ngày 03/7/2014 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O.020105 do UBND tỉnh B ngày 26/12/1998.
Ngoài ra, bản án còn tuyên án phí, chi phí tố tụng khác và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 07/7/2023, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Xuân L1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Xuân L1 giữ nguyên yêu cầu độc lập và yêu cầu kháng cáo.
Nguyên đơn cung cấp bổ sung các tài liệu do Văn phòng Đ Chi nhánh thành phố Bắc Ninh cung cấp gồm: Quyết định số 18 ngày 22/4/1992 của Bộ Tư lệnh Công binh về việc giao đất cho ông L; Công văn số 3093/BQP-TM ngày 22/6/2009 về việc chuyển mục đích sử dụng đất kèm theo sơ đồ khu đất của Bộ Q; Công văn số 1358 ngày 29/6/2009 đề nghị chuyển mục đích sử dụng và bàn giao cho địa phương của Bộ Tư lệnh Công binh; Bảng thống kê diện tích, loại đất, chủ sử dụng ngày 17/12/2009 kèm theo Bản đồ địa chính khu đất của Trung tâm K1; Công văn số 36/LÐ-TM ngày 10/01/2011 của Lữ đoàn 229 đề nghị chuyển mục đích sử dụng đất khu gia đình Lữ đoàn 229; Quyết định số 1692/QĐ-UBND ngày 23/11/2012 của UBND tỉnh B phê duyệt quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 khu tập thể L thành phố B kèm thống kê số lô đất ở xin phê duyệt của khu tập thể Lữ đoàn 229; Quyết định số 1083/QĐ-UBND ngày 08/9/2011 của Chủ tịch UBND tỉnh B về việc thu hồi đất đã giao cho Lữ đoàn công binh 229 và giao cho UBND thành phố B để quản lý và sử dụng theo quy định; Trích đo bản đồ địa chính khu đất xin chuyển mục đích sử dụng đất của Lữ đoàn 229 phường T) lập năm 2009 và một số văn bản liên quan;
Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ lại tài sản: Diện tích đất tranh chấp là 33,7m² hiện do gia đình ông L quản lý, sử dụng. Trong đó có 29,8m² nằm trong diện tích thửa đất số 26 của vợ chồng bà T và 3,7m² nằm trong diện tích thửa đất số 27 của vợ chồng anh L1. Trên diện tích đất tranh chấp gia đình ông L trồng 03 cây gỗ sưa, trồng cây đinh lăng và làm dàn trồng hoa lan bằng sắt hộp.
Kết quả định giá tài sản: Các đương sự thống nhất đề nghị Công ty cổ phần T1 định giá đối với diện tích đất tranh chấp và các tài sản trên diện tích đất tranh chấp gồm: 03 cây gỗ sưa và công tân lấp 40 cm đất trên diện tích đất tranh chấp. Ngoài ra các đương sự không yêu cầu định giá tài sản nào khác.
Theo Chứng thư thẩm định giá số: 2403074/TDDG/VCA-CTTĐG ngày 05/4/2024 của Công ty cổ phần T1, giá trị tài sản tranh chấp của thửa đất số 26 là:
- 29,8 m² của thửa đất số 26 là: 29,8 m² X 38.810.000đ/1m² = 1.156.538.000₫
- - 01 cây gỗ sưa có chu vi 62 cm = 420.000đ;
- - 01 cây gỗ sưa có chu vi 84cm = 500.000đ;
- - Phần tân lấn đất cao khoảng 40cm = 4.768.000₫
Giá trị tài sản tranh chấp của thửa đất số 27 là:
- 3,7 m² của thửa đất số 27 là: 3,7 m² X 33.940.000đ/1m² = 125.578.000₫
- - 01 cây gỗ sưa có chu vi 52 cm = 420.000đ;
- - Phần tân lấn đất cao khoảng 40cm = 592.000₫
Trong thời gian ngừng phiên tòa, các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án và đề nghị Tòa án công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Nội dung thỏa thuận cụ thể như sau:
- Ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị B có trách nhiệm bàn giao cho bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Đức D diện tích đất 29,8m² thuộc thửa đất số 26, diện tích 84 m² tại khu G, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Bà T, ông D được quyền sở hữu các tài sản do ông L bà B tạo dựng gắn liền trên diện tích đất 29,8m² và có quyền sử dụng hoặc phá bỏ cây trồng, tường rào do ông L, bà B tạo dựng trên diện tích đất công ích phía trước diện tích đất 29,8m², nhưng có trách nhiệm trích trả, hỗ trợ cho ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị B số tiền 585.000.000đ;
- Ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị B có trách nhiệm bàn giao cho anh Nguyễn Xuân L1, chị Nguyễn Thị Thu H2 diện tích đất 3,7m² thuộc thửa đất số 27, diện tích 57,2m² tại khu G, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Anh L1, chị H2 được quyền sở hữu tài sản do ông L, bà B tạo dựng trên diện tích đất 3,7m² nhưng có trách nhiệm trích trả, hỗ trợ cho ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị B số tiền 65.000.000₫.
- Về chi phí tố tụng khác: Bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Đức D tự nguyện chịu 18.000.000đ và ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị B tự nguyện chịu 12.000.000đ tiền xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.
Ý kiến của đại diện VKSND tỉnh Bắc Ninh tại phiên tòa:
- Phần thủ tục: Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật; Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng kể từ khi bắt đầu phiên tòa cho đến trước khi nghị án. Các đương sự chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
- Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị HĐXX: Căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa;
Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bị đơn vì là người cao tuổi. Bà T, anh L1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Xuân L1 nộp trong hạn luật định nên được chấp nhận để xem xét theo thủ tục xét xử phúc thẩm.
[2]. Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án, cụ thể:
- Ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị B có trách nhiệm bàn giao cho bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Đức D diện tích đất 29,8m² thuộc thửa đất số 26, diện tích 84 m² tại khu G, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Bà T, ông D được quyền sở hữu các tài sản do ông L bà B tạo dựng gắn liền trên diện tích đất 29,8m² và có quyền sử dụng hoặc phá bỏ cây trồng, tường rào do ông L, bà B tạo dựng trên diện tích đất công ích phía trước diện tích đất 29,8m², nhưng có trách nhiệm trích trả, hỗ trợ cho ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị B số tiền 585.000.000đ;
- Ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị B có trách nhiệm bàn giao cho anh Nguyễn Xuân L1, chị Nguyễn Thị Thu H2 diện tích đất 3,7m² thuộc thửa đất số 27, diện tích 57,2m² tại khu G, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Anh L1, chị H2 được quyền sở hữu tài sản do ông L, bà B tạo dựng trên diện tích đất 3,7m² nhưng có trách nhiệm trích trả, hỗ trợ cho ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị B số tiền 65.000.000₫.
- Về chi phí tố tụng khác: Bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Đức D tự nguyện chịu 18.000.000đ và ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị B tự nguyện chịu 12.000.000đ tiền xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.
Xét thấy, sự thỏa thuận của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và trái đạo đức xã hội nên cần chấp nhận, sửa bản án sơ thẩm. Tại phiên tòa, các đương sự xác nhận đã tiến hành giao nhận đủ số tiền như nội dung thỏa thuận.
[3]. Về án phí: Bị đơn là người cao tuổi và xin miễn nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ, khoản 1 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bản án sơ thẩm bị sửa nên bà T, anh L1 không phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 148, Điều 300, khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 166, 175 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, sửa bản án sơ thẩm:
- Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự:
- Ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị B có trách nhiệm bàn giao cho bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Đức D diện tích đất hình ABCD = 29,8m² thuộc thửa đất số 26, diện tích 84 m² tại khu G, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (có sơ đồ kèm theo). Bà T, ông D được quyền sở hữu các tài sản do ông L, bà B tạo dựng gắn liền trên diện tích đất 29,8m² và có quyền sử dụng hoặc phá bỏ cây trồng, tường rào do ông L, bà B tạo dựng trên diện tích đất công ích phía trước diện tích đất 29,8m², nhưng có trách nhiệm trích trả, hỗ trợ cho ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị B số tiền 585.000.000đ. Xác nhận hai bên đã giao nhận đủ số tiền 585.000.000₫.
- Ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị B có trách nhiệm bàn giao cho anh Nguyễn Xuân L1, chị Nguyễn Thị Thu H2 diện tích đất hình CDE =3,7m² thuộc thửa đất số 27, diện tích 57,2m² tại khu G, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (có sơ đồ kèm theo). Anh L1, chị H2 được quyền sở hữu tài sản do ông L, bà B tạo dựng trên diện tích đất 3,7m² nhưng có trách nhiệm trích trả, hỗ trợ cho ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị B số tiền 65.000.000đ. Xác nhận hai bên đã giao nhận đủ số tiền 65.000.000đ.
- Về chi phí tố tụng khác: Bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Đức D tự nguyện chịu 18.000.000đ và ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị B tự nguyện chịu 12.000.000đ tiền xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Xác nhận các đương sự đã nộp đủ.
- Đình chỉ giải quyết yêu cầu phản tố của Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị B về việc:
- Yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BU 521828 do UBND thành phố B cấp ngày 03/7/2014 cho ông Nguyễn Đức D, bà Nguyễn Thị T;
- Yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O.020105 do UBND tỉnh B cấp ngày 26/12/1998 cho hộ bà Nguyễn Thị H3. Đến ngày 02/5/2003, Phòng quản lý đô thị thị xã B xác nhận thay đổi, thửa đất mang tên ông Nguyễn Xuân L1, bà Nguyễn Thị Thu H2.
- Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị B.
Bà Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Xuân L1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Hoàn trả anh Nguyễn Xuân L1, chị Nguyễn Thị Thu H2 300.000đ tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai thu số 0001797 ngày 15/3/2023 và 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo Biên lai thu số 0000259 ngày 01/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Vương Thị Hà |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Thanh Bình - Hoàng Ngọc Sơn |
Vương Thị Hà |
Bản án số 59/2024/DSPT ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp qsd đất
- Số bản án: 59/2024/DSPT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp QSD đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp QSD đất.
