Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NINH PHƯỚC

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2024/DS-ST

Ngày: 27/9/2024.

V/v “tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Y .
  2. Bà Lê Thị Hường.

Thư ký phiên tòa: Bà Lương Nữ Vân Kiều–Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Kim Thuyền–Kiểm sát viên.

Ngày 27/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 97/2022/TLST- DS ngày 03 tháng 3 năm 2022 về việc "tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2024/QĐXXST-DS ngày 09/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 42/2024/QÐST-DS ngày 30/8/2024, giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Ông Võ Văn Đ, sinh năm: 1962 (có mặt).

Trú tại: Thôn T-xã P-huyện N-Ninh Thuận.

-Bị đơn: Ông Lê Thành N, sinh năm: 1951 (vắng mặt).

Trú tại: Số C đường T -Khu phố F-phường Đ-thành phố P T-Ninh Thuận.

-Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan với phía nguyên đơn:

  • +Ông Võ Văn K -sinh năm: 1967 (có mặt);
  • Trú tại: Khu phố F, phường V, tp . T, tỉnh Ninh Thuận.
  • +Ông Võ Văn P -sinh năm: 1970 (có mặt);
  • +Bà Võ Thị P1 -sinh năm: 1972 (có mặt);
  • Cùng trú: Thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Võ Văn Đ trình bày:

Cha tên Võ Văn S (sinh năm 1931, chết năm 2021) và mẹ tên Lê Thị L (sinh năm 1937, chết năm 2022). Cha mẹ có 04 người con chung là Võ Văn Đ, Võ Văn K, Võ Văn P, Võ Thị P1. Cha mẹ không có con riêng và không có con nuôi. Trước năm 1975, cha mẹ ông có khai hoang một số diện tích đất tọa lạc tại thôn T, xã P, huyện N. Năm 1989, ông có khai hoang thêm một số diện tích đất kế bên. Sau đó ông cùng cha mẹ canh tác đất. Khi cha mẹ chết thì ông trực tiếp canh tác đất ổn định cho đến nay.

Qua đo đạc thực tế diện tích đất theo hội đồng định giá xác định: thửa đất số 142 diện tích 1.767m², tờ bản đồ 11 của UBND xã P có nguồn gốc một phần là của cha mẹ ông (S+Lướt) khai hoang trước năm 1975 để lại và thửa đất 1599 diện tích 22.497m², tờ bản đồ 11 của UBND xã P, có nguồn gốc là do ông khai hoang năm 1981. Ông cùng với cha mẹ ông đã trực tiếp canh tác các thửa đất trên từ rất nhiều năm nay.

Vào năm 2018, ông có đến UBND xã P xin đăng ký kê khai đối với toàn bộ diện tích đất trên. Năm 2021, ông làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì có ông Lê Thành N đến tranh chấp cho rằng đất của ông bà của ông N để lại là không đúng. Vì nguồn gốc đất là của cha mẹ ông và ông cùng khai hoang, chính ông là người trục tiếp canh tác từ nhiều năm, nên ông đề nghị Tòa án công nhận toàn bộ diện tích đất trên cho ông.

Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Lê Thành N trình bày.

Vào năm 1928, bà Trần Thị K1 (bà cố ông N) có làm giấy bằng chữ Nho để phân chia tài sản cho các con gồm ông Lê Văn T (ông nội ông N) và ông Lê C (em ông Lê Văn T). Sau này cha ông N tên Lê Thành L1 đã thừa hưởng của ông Lê Văn T khoản 20.000m² đất tại thôn T, xã P, huyện N. Trước năm 1975, ông Lê Thành L1 có canh tác đất đến năm 1975 thì ông L1 cho em gái tên Lê Thị L (mẹ ông Đ) mượn đất canh tác, lúc cho mượn đất chỉ nói bằng miệng. Năm 2021, ông phát hiện ông Võ Văn Đ đang làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối diện tích đất trên nên ông ngăn cản. Ông có làm đơn gửi đến Ủy ban nhân dân xã P nhờ can thiệp ngăn không cho ông Đ được cấp quyền sử dụng đất, vì nguồn gốc đất là của dòng họ ông để lại (trên đất có 02 ngôi mộ xây của bà cố Trần Thị K1 và của ông Lê Quang D –anh ruột ông N). Sau đó ông Lê Thành L1 đã cho bà Lê Thị L mượn đất đất canh tác vào năm 1975.

Ông (N) thừa nhận từ trước đến nay không trực tiếp canh tác đất, không rõ đất tranh chấp thuộc thửa số mấy của bản đồ địa chính xã P. Chỉ sau khi Hội đồng thẩm định, định giá tài sản xong, Tòa án huyện N có công bố thì ông mới biết đất tranh chấp thuộc thửa đất số 142 diện tích 1.767m² và thửa đất 1599 diện tích là 22.497m², tờ bản đồ 11 tọa lạc tại thôn T, xã P. Nay ông yêu cầu được lấy lại đất tranh chấp.

Những người có quyền lợi, nghĩa liên quan là ông Võ Văn K ông Võ Văn P, bà Võ Thị P1 đều trình bày:

Chúng tôi (K+Pha+Phách) là em ruột của nguyên đơn ông Võ Văn Đ, chúng tôi đồng ý với ý kiến của ông Đ về quan hệ thân nhân và về nguồn gốc đất tranh chấp là của cha mẹ (ông Võ Văn S+bà Lê Thị L) khai hoang trước năm 1975 để lại và một phần đất do ông Đ khai hoang thêm. Gia đình chúng tôi đã trực tiếp canh tác đất từ năm 1975 cho đến nay không ai tranh chấp. Sau khi cha mẹ chết, chính ông Đ là người trực tiếp canh tác đất cho đến nay. Chúng tôi không đồng ý với ý kiến của ông Lê Thành N. Chúng tôi (K+Pha+Phách) không tranh chấp và đề nghị Tòa án công nhận quyền sử dụng cho ông Đ đối với phần diện tích đất mà ông Đ tự khai hoang và phần do cha mẹ khai hoang.

Tại phiên tòa các đương sự không nộp thêm chứng cứ gì.

Tại phiên tòa, nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Các đương sự đồng ý kết quả thẩm định và định giá tài sản ngày 23/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện N.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

  • -Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử (HĐXX), thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS). Các đương sự đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 72, 73 của BLTTDS.

  • -Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng Bộ luật tố tụng dân sự; Bộ luật dân sự, Luật đất đai và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016, tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về tranh chấp quyền sử dụng đất. Về án phí và các chi phí tố tụng khác các đương sự phải chịu theo pháp luật.

Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Căn cứ kết quả hỏi công khai và nghe các đương sự tranh luận tại phiên tòa. Sau khi Hội đồng xét xử sơ thẩm nghị án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. HĐXX nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đương sự nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất. Đất tranh chấp và các đương sự có nơi cư trú trên địa bàn huyện N. Căn cứ khoản 9 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39 BLTTDS, HĐXX xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “tranh chấp quyền sử dụng đất” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước.

[2] Về nội dung: Nguyên đơn ông Võ Văn Đ khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đối với thửa đất số 142 và thửa 1599, tờ bản đồ số 11 của UBND xã P. Ông Đ đề nghị Tòa án công nhận quyền sử dụng các thửa đất trên cho ông.

[2.1] Thửa đất và diện tích đất tranh chấp: Theo biên bản thẩm định và định giá tài sản ngày 23/8/2022 xác định được:

  • +Thửa đất số 142, tờ bản đồ 11 của UBND xã P có diện tích 1.767m², thuộc loại Đất trồng cây hàng năm khác, tọa lạc tại thôn T, xã P huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Có vị trí tứ cận: Phía đông giáp thửa số 1599; Phía tây giáp đường; Phía nam giáp một phần thửa số 1599; Phía Bắc giáp thửa 143.

  • +Thửa đất số 1599 (Hợp từ thửa đất số 150.151,152,153,154,155,156,158, 159, 160,161, 162, 163, 183) tờ bản đồ 11 của UBND xã P, có diện tích 22.497m², thuộc loại đất trồng cây hàng năm khác, tọa lạc tại thôn T, xã P huyện N, (Diện tích đất đã trừ phần diện tích của hai ngôi mộ xây trên đất là 83m²). Đất có vị trí tứ cận: Phía đông giáp mương; Phía tây giáp đường; Phía nam giáp đường; Phía bắc giáp các thửa 143, 153, 149, 148.

[2.2] Về nguồn gốc đất tranh chấp:

Nguyên đơn ông Võ Văn Đ và những người có quyền lợi liên quan với phía nguyên đơn là ông Võ Văn K, ông Võ Văn P, bà Võ Thị P1 đều cho rằng: Đối với thửa đất số 142 (diện tích 1.767m²) có nguồn gốc một phần là của cha mẹ (Sang+Lướt) khai hoang trước năm 1975 để lại và thửa đất 1599 (diện tích 22.497m²), là do ông Đ khai hoang năm 1981. Ông Đ cùng với cha mẹ đã trực tiếp canh tác đất các thửa đất trên, sau khi cha mẹ chết thì ông Đ đã trực tiếp canh tác đất ổn định cho đến nay.

Bị đơn ông Lê Thành N cho rằng nguồn gốc đất tranh chấp là của bà cố Trần Thị K1 để lại cho ông Lê Văn T, sau đó thì ông Lê Thành L1 được thừa hưởng đất của ông T khoản 20.000m². Năm 1975 thì ông L1 có cho em gái là Lê Thị L mượn đất canh tác.

[3] Tại công văn số 29/UBND-KT ngày 22/6/2022 của UBND xã P về việc phúc đáp nội dụng tại công văn số 69/CV-TA ngày 05/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước như sau: Trong sổ mục kê đất được xác lập năm 1997 thì các thửa đất số 150, 151,152,155,156, 160, tờ bản đồ 11 diện tích 4.330m²của UBND xã P, được quy chủ tên bà Lê Thị L và thửa 1599 (hợp từ các thửa 158, 159,161, 162, 163, 183, tờ bản đồ 11 của UBND xã P, có diện tích là 18.000m², được quy chủ tên bà Lê Thị L. Vào năm 2020 ông Võ Văn Đ là con ruột bà Lê Thị L đến UBND xã P yêu cầu đo đạc, trích lục bản đồ địa chính để lập thủ tục đăng ký, kê khai quyền sử dụng đất.

Các thửa đất số 150, 151, 152, 155, 156, 160 tờ bản đồ 11 diện tích 4.330m², của UBND xã P thì từ trước đến nay do hộ bà Lê Thị L canh tác, sử dụng. Hiện tại các con của bà L đang canh tác sử dụng (do bà L đã chết).

Thửa đất số 1599 (hợp từ các thửa 158, 159,161, 162, 163, 183, tờ bản đồ 11 có diện tích là 18.000m² của UBND xã P, từ trước năm 1998 đến nay do ông Võ Văn Đ canh tác, sử dụng.

[3.1] Tại biên bản xác minh ngày 30 tháng 8 năm 2023, xác định:

Từ trước năm 1998 thì hộ gia đình bà Lê Thị L trực tiếp canh tác và sử dụng đối với các thửa đất số 150, 151, 152, 155, 156, 158, 159, 160, 161, 162, 163, 183 tờ bản đồ 11 của UBND xã P.

Từ năm 1998 cho đến nay thì do ông Võ Văn Đ trực tiếp canh tác sử dụng đối với các thửa đất trên.

[3.2] Tại biên bản xác minh ngày 20 tháng 3 năm 2024, xác định:

Nguồn gốc các thửa đất số 150, 151, 152, 155, 156, 158, 159, 160, 161, 162, 163, 183 tờ bản đồ 11 của UBND xã P, có một phần là do Hợp tác xã Từ Tâm cấp cho hộ gia đình bà Lê Thị L vào năm 1987, trong quá trình sử dụng đất thì gia đình có khai hoang thêm.

Theo sổ mục kê đất của UBND xã P được lập năm 1997 thì các thửa đất trên được quy chủ cho hộ gia đình bà Lê Thị L. Gia đình bà L trực tiếp canh tác quản lý sử dụng từ đó đến nay. Sau khi vợ chồng bà L chết thì các con của bà L canh tác đất. UBND xã P có xuất trình Sổ mục kê năm 1997 của xã để chứng minh các nội dung nêu trên.

[4] Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước có thu thập lời khai của ông Nguyễn Văn M, ông Phạm Hữu N1, ông Lê K2 -là các hộ dân có đất canh tác liền kề với các thửa đất đang tranh chấp, đều cho rằng: từ trước đến nay chỉ thấy ông Võ Văn Đ là người trực tiếp canh tác đất tranh chấp.

[5] Tài liệu do bị đơn cung cấp: Quá trình giải quyết vụ án ông Lê Thành N có nộp bản phô tô tờ giấy bằng chữ Nho năm 1928 được dịch ra tiếng việt cho Tòa án, để chứng minh nguồn gốc đất của ông bà của ông N để lại. Tuy nhiên nội dung trong bản dịch này không liên quan gì đến các thửa đất đang tranh chấp. Ngoài giấy tờ này ra, ông N không cung cấp được bất cứ chứng cứ, tài liệu nào để chứng minh là đất của ông bà hay của cha mẹ ông N để lại. Ông N cũng không có tài liệu nào thể hiện ông Lê Thành L1 (cha ông N) cho bà Lê Thị L (mẹ ông Đ) mượn đất vào năm 1975. Ông N không có giấy tờ gì về đất tranh chấp và cũng không trực tiếp canh tác đất. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, ông N đều không đưa ra được tài liệu, chứng cứ để chứng minh ông N có quyền sử dụng thửa đất số 142 và thửa đất số 1599, tờ bản đồ11 của UBND xã P.

[6] Chính quyền địa phương nơi có đất tranh chấp là UBND xã P xác định thửa đất số 142 và số 1599, tờ bản đồ11, được quy chủ cho bà Lê Thị L. Như vậy, đủ căn cứ để xác định: Từ trước đến nay cha mẹ ông Đ và ông Đ là người trực tiếp sử dụng đất và có đăng ký tại UBND xã P. Hiện vợ chồng bà L đều đã chết, các em ông Đ là ông Võ Văn K, ông Võ Văn P, bà Võ Thị P1 không tranh chấp và đều đề nghị Tòa án công nhận quyền sử dụng cho ông Đ đối với phần diện tích đất mà ông Đ tự khai hoang và phần đất do cha mẹ khai hoang.

Từ những phân tích nêu trên, căn cứ Điều 96, Điều 101, Điều 203 Luật Đất đai, Điều 650, 651 Bộ luật Dân sự; Hội đồng xét xử xét thấy: việc ông Võ Văn Đ khởi kiện đề nghị Tòa án công nhận cho ông quyền sử dụng thửa đất số 142 và số 1599, tờ bản đồ11 của UBND xã P, là có cơ sở để chấp nhận.

[7] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, đề nghị công nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn ông Võ văn Đ1 là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ đề nghị của Đại diện viện kiểm sát huyện N.

[9] Về chi phí thẩm định, định giá: Ông Võ Văn Đ tự nguyện chịu toàn bộ chi phí thẩm định, định giá, trích đo bản đồ địa chính là 10.000.000đ. Xét đây là sự tự nguyện của ông Đ nên HĐXX chấp nhận và ông Đ đã nộp đủ số tiền này.

[10] Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên bị đơn ông Lê Thành N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ông N là người cao tuổi nên được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào:

  • Khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 92, Khoản 1 Điều 147, Khoản 1 Điều 165 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

  • Điều 96, 101, 203 Luật Đất đai năm 2013;

  • Điều 650, 651 Bộ luật Dân sự năm 2015;

  • Điểm đ Khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

2. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Văn Đ đối với bị đơn ông Lê Thành N về tranh chấp quyền sử dụng đất.

  • *Ông Võ Văn Đ được quyền sử dụng: Thửa đất số 142 diện tích 1.767m², tờ bản đồ 11 của UBND xã P. Đất tọa lạc tại thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

  • *Ông Võ Văn Đ được quyền sử dụng: Thửa đất số 1599 (hợp từ thửa đất số 150.151,152,153,154,155,156,158, 159, 160,161, 162, 163, 183) diện tích 22.497m², tờ bản đồ 11 của UBND xã P. Đất tọa lạc tại thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Ông Võ Văn Đ được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quản lý đất đai để làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật khi bản án có hiệu lực pháp luật.

3.Về chi phí tố tụng: Chi phí thẩm định, định giá tài sản và trích đo vẽ chỉnh lý thửa đất bản đồ địa chính là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng). Ông Võ Văn Đ tự nguyện chịu toàn bộ và đã nộp đủ.

4.Về án phí: Do bị đơn ông Lê Thành N là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

5.Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt người nguyên đơn- được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 27/9/2024). Bị đơn vắng mặt-quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.

(Kèm theo trích đo vẽ chỉnh lý thửa đất bản đồ địa chính ngày 26/8/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh N-chi nhánh huyện N).

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND huyện Ninh Phước;
  • - VKSND tỉnh Ninh Thuận;
  • - Chi cục THADS Ninh Phước;
  • - Lưu (hồ sơ, án văn).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán–Chủ tọa phiên tòa

Dương Thị Xuân Thủy

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2024/DS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 59/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger