|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 59/2023/HNGĐ-ST.
Ngày: 14 - 8 - 2023.
V/v “Tranh chấp ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Đình Nghệ.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Hoa Vinh.
- Ông Lê Thanh Triều.
- Thư ký phiên tòa: Bà Tăng Thị Như Ý – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 08/2020/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2020, về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2023/QĐXX-ST ngày 28 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm H, sinh năm 1960.
- Bị đơn: Bà Hồ C, sinh năm 1971.
Địa chỉ: Đường C, khu vực A, phường N, thành phố N, tỉnh Hậu Giang.
Địa chỉ: A, B, C, Canada.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn ông Phạm H trình bày: Ông và bà Hồ C có đăng ký kết hôn vào ngày 31 tháng 5 năm 2018 tại Ủy ban nhân dân thành phố N, tỉnh Hậu Giang. Sau khi kết hôn, bà Hồ C trở về Canada, không quan tâm liên lạc gì đến ông. Thời gian sống ly thân đã lâu và tình cảm vợ chồng không còn, nên ông Phạm H yêu cầu được ly hôn với bà Hồ C.
Về con chung, về tài sản chung và nợ chung: Ông Phạm H khai không có.
Đối với bị đơn là bà Hồ C, từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự cho bà Hồ C, nhưng bà Hồ C vắng mặt và cũng không có gửi văn bản nêu ý kiến gì để phản hồi đến Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang phát biểu, trong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký và đương sự đã chấp hành đúng các quy định pháp luật tố tụng dân sự; và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm H được ly hôn bà Hồ C. Riêng về con chung, tài sản chung và nợ chung, do đương sự khai không có nên đề nghị không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn ông Phạm H, địa chỉ thường trú tại C, khu vực A, phường N, thành phố N, tỉnh Hậu Giang, có đơn khởi kiện xin ly hôn với bà Hồ C cư trú tại Canada. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015, Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.
[2] Bị đơn bà Hồ C đã được Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, nhưng bà Hồ C vắng mặt và cũng không có gửi văn bản nêu ý kiến gì để phản hồi đến Tòa án. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 447 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang xét xử vắng mặt đối với bà Hồ C.
Đối với ông Phạm H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm H và bà Hồ C Cơ có đăng ký kết hôn vào ngày 31 tháng 5 năm 2018 tại Ủy ban nhân dân thành phố N, tỉnh Hậu Giang, nên quan hệ hôn nhân của ông, bà là hợp pháp.
Xét thấy, sau khi kết hôn thì bà Hồ C trở về Canada, không còn quan tâm liên lạc gì đến ông Phạm H, thời gian ông, bà sống ly thân cũng đã lâu, hôn nhân không hạnh phúc. Từ đó, cho thấy tình cảm vợ chồng giữa ông Phạm H và
bà Hồ C không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cho ông Phạm H được ly hôn với bà Hồ C là phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam.
[3.2] Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Ông Phạm H khai không có.
[4] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; Chi phí dịch thuật và tống đạt văn bản tố tụng: Ông Phạm H phải chịu theo quy định của pháp luật.
[5] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 470, Điều 474, Điều 477, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27, Điều 44 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Thông tư số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 19/10/2019 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về trình tự, thủ tục tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự.
Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 122 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm H được ly hôn với bà Hồ C.
- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Phạm H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), chuyển tiền tạm ứng án phí ông Phạm H đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0004414 ngày 11 tháng 6 năm 2020 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hậu Giang thành án phí.
- Chi phí dịch thuật và tống đạt văn bản tố tụng: Ông Phạm H phải chịu 1.930.000 đồng (đã nộp xong).
- Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày và bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trương Đình Nghệ |
Bản án số 59/2023/HNGĐ-ST ngày 14/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 59/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn Phạm H và Bị đơn Hồ C
