|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE Bản án số: 59/2021/HNGĐ-ST Ngày: 24- 6 -2021 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương Nhi
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Tiến
- Bà Hà Thị Dung
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Vân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Chúc – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 222/2021/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2021 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2021/QĐST - HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Lê Thành T (T), sinh năm 1982. (có mặt)
Địa chỉ: số 502, ấp P, xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre.
2. Bị đơn: Chị Đào Thị D, sinh năm 1983. (có mặt)
Địa chỉ: số 502, ấp P, xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 28 tháng 4 năm 2021, trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn anh Lê Thành T (T) trình bày:
Anh và chị Đào Thị D kết hôn năm 2011, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P (nay là xã P), huyện B, tỉnh Bến Tre ngày 18/10/2011. Sau khi kết hôn vợ chồng cùng sinh sống tại xã P, đời sống chung chỉ hòa thuận được một thời gian ngắn, khi con chung được hơn một tuổi giữa vợ chồng bắt đầu xảy ra bất đồng quan điểm, nguyên nhân do chị D làm y tế trường học, sau khi tan làm về nhà không phụ việc nhà, cuối tuần không ở nhà phụ việc nhà mà đưa con về nhà ngoại chơi đến thứ Hai mới về rồi đi làm tiếp. Anh đã nhắc nhở nhiều lần nhưng chị D vẫn làm theo ý mình, anh có nhờ mẹ vợ khuyên nhưng vẫn không được. Bên cạnh đó, trong cuộc sống hàng ngày chị D và gia đình anh cũng không hòa thuận, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp và chị D có tính lấy đồ lặt vặt của mẹ anh mang về nhà, mẹ anh nói nhiều lần nhưng chị D không sửa đổi. Trong mối quan hệ với hàng xóm xung quanh cũng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cải vã, khi xảy ra mâu thuẫn chị D có hành động ném đồ dơ vào nhà hàng xóm nên bà con hàng xóm khiếu nại đến nơi làm việc, bị nhà trường kiểm điểm anh phải đến trường cam kết bảo lãnh mấy lần nhưng chị D vẫn không sửa đổi. Trong đời sống chung giữa vợ chồng có quá nhiều bất đồng quan điểm, hai bên không tìm được tiếng nói chung, từ đó hôn nhân của vợ chồng không còn hạnh phúc. Từ năm 2017 đến nay, anh và chị D mặc dù sống chung sống nhà nhưng trong tình trạng ly thân, mạnh ai nấy sống, không quan tâm đến nhau. Anh nhận thấy chị D không quan tâm đến gia đình, cuộc sống vợ chồng không hòa hợp, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, anh không thể tiếp tục chung sống với chị D được nữa nên yêu cầu được ly hôn chị D.
Về con chung: Anh và chị D có một con chung tên Lê Thị Ngọc N, sinh ngày 27/01/2014. Con chung đang sống cùng vợ chồng, khi ly hôn anh đồng ý để chị D tiếp tục nuôi dưỡng con chung, anh không đồng ý cấp dưỡng nuôi con, lý do nghề nghiệp của anh là thợ sửa xe Honda và rửa xe thu nhập không ổn định.
- Về tài sản chung: hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn chị Đào Thị D trình bày:
Về hôn nhân: Chị thống nhất với anh T về thời gian kết hôn, nơi đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là mọi chi tiêu trong gia đình đều do chị chi trả, anh T không phụ tiền sinh hoạt phí trong nhà, chị yêu cầu anh T phụ tiền thì anh T bảo tiền của anh để làm công việc, dùng tiền lương của chị để chi tiêu nên chị bất mãn với anh T. Vì vậy, cuối tuần chị thường đưa con về nhà ngoại chơi, thời gian trong tuần sau khi đi làm về chị vẫn lo cơm nước cho chồng con, khi chị phụ cho bò ăn thì anh T nói không cần, bò là của anh nên chị không làm nữa. Đến năm 2018, vợ chồng quyết định sống ly thân, mặc dù sống chung nhà nhưng mạnh ai nấy sống, vợ chồng ăn riêng không quan tâm đến nhau, anh T nói sẽ lo cho bé N nên bình thường cơm nước của bé N do anh lo, chị ít lo cơm nước cho con. Khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn anh T không bình tĩnh nói chuyện với chị để giải quyết mâu thuẫn mà anh nói với cha mẹ chồng làm cha mẹ chồng ghét chị, thỉnh thoảng anh T vô cớ đánh chị khi nghe lời nói một phía từ người khác mà không nghe chị giải thích. Trong mối quan hệ với bà con hàng xóm, lúc đầu anh T là người có mâu thuẫn với hàng xóm, sau đó hàng xóm ghét luôn chị rồi cho rằng chị có hành động ném đồ bẩn vào nhà nên làm đơn khiếu nại chị đến trường học nơi chị công tác để làm ảnh hưởng đến công việc của chị. Trong mối quan hệ với cha mẹ chồng thì không hòa thuận, nguyên nhân chị lấy vài cục gạch về kê đồ thì mẹ chồng và em chồng nói chị lấy cắp nên chửi mắng chị. Chị nhận thấy giữa chị và anh T mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống nhưng không đáng kể, nếu chị sai thì anh T phải cho chị cơ hội để sửa đổi và hiện nay con còn nhỏ nên anh T yêu cầu ly hôn là chị không đồng ý.
Về con chung: vợ chồng có một con chung tên Lê Thị Ngọc N, sinh ngày 27/01/2014. Con chung hiện đang sống cùng vợ chồng, trường hợp Tòa án giải quyết cho anh T ly hôn thì chị yêu cầu được nuôi dưỡng cháu N, bởi cháu N có nguyện vọng được sống cùng chị, chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, nhận thấy trong quá trình tố tụng, Thẩm phán đã tuân thủ và tiến hành đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự và chấp hành nghiêm nội quy phiên tòa. Tại phiên tòa, nhận thấy thành viên Hội đồng xét xử thể hiện sự vô tư, khách quan độc lập khi xét xử. Do đó, vụ án được đưa ra xét xử là đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Nhận thấy mâu thuẫn giữa anh T và chị D đã trầm trọng, hôn nhân không còn hạnh phúc, đời sống chung không thể tiếp tục, căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh T đối với chị D. Về con chung giao cháu N cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng, ghi nhận chị D tự nguyện không yêu cầu anh anh T cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung các bên đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, qua kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hôn nhân: Anh Lê Thành T và chị Đào Thị D kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P (nay là xã P), huyện B, tỉnh Bến Tre ngày 18 tháng 10 năm 2011 nên quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị D là hợp pháp.
[1.1] Anh T cho rằng chị D không quan tâm đến gia đình, tính tình không hòa đồng nên không hòa thuận với gia đình chồng, bà con hàng xóm, giữa vợ chồng bất đồng quan điểm sống không tìm được tiếng nói chung làm cho hôn nhân không hạnh phúc nên anh yêu cầu được ly hôn với chị D. Chị D cho rằng vợ chồng có bất đồng trong vấn đề tiền bạc và anh T không tin tưởng chị, từ đó mâu thuẫn phát sinh giữa vợ chồng ngày càng nhiều, dẫn đến vợ chồng sống ly thân. Nhưng theo chị những mâu thuẫn trên không đáng kể và hiện nay con chung còn nhỏ nên chị không đồng ý ly hôn.
[1.2] Tại biên bản xác minh của Tòa án được đại diện Ủy ban nhân dân xã P, huyện B cho biết: trong thời gian chung sống giữa anh T và chị D xảy ra mâu thuẫn về vấn đề gì địa phương không rõ do đây là chuyện nội bộ gia đình.
[1.3] Mặc dù, địa phương không biết được nguyên nhân mâu thuẫn giữa anh T và chị D, anh T và chị D cũng không thống nhất với nhau về nguyên nhân mâu thuẫn dẫn đến ly hôn nhưng thực tế cho thấy trong đời sống hôn nhân giữa anh T và chị D xảy ra mâu thuẫn về vấn đề tiền bạc, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tin tưởng lẫn nhau và những mâu thuẫn này đã kéo dài nhiều năm nhưng anh T và chị D không hòa giải được với nhau. Anh T và chị D không tìm được tiếng nói chung, không tin tưởng lẫn nhau nên không thể cùng nhau chia sẽ buồn, vui trong cuộc sống, từ đó làm cho hôn nhân của anh T và chị D không còn hạnh phúc. Từ năm 2017, vợ chồng đã sống ly thân đến nay, trong thời gian sống ly thân anh T và chị D không hòa giải được với nhau về các bất đồng, mâu thuẫn, ngược lại làm cho mâu thuẫn ngày càng gay gắt hơn. Qua đó, thấy rằng mâu thuẫn trong hôn nhân giữa anh T và chị D đã lâm vào trầm trọng, hôn nhân không còn hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, do đó nhận thấy anh T yêu cầu ly hôn với chị D là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2] Về con chung: Tại biên bản lấy ý kiến ngày 26/5/2021, cháu N có ý kiến được sống cùng mẹ sau khi cha, mẹ ly hôn. Chị D yêu cầu được nuôi dưỡng cháu N và anh T đồng ý. Do đó, nhận thấy giao cháu N cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của cháu N và sự thỏa thuận giữa anh T và chị D. Ghi nhận sự tự nguyện của chị D không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.
[3] Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về nợ chung: không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) anh T phải nộp theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận cho anh Lê Thành T (T) ly hôn với chị Đào Thị D.
- Về con chung: chị Đào Thị D có quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lê Thị Ngọc N, sinh ngày 27/01/2014. Ghi nhận chị D tự nguyện không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: không tranh chấp.
- Về nợ chung: không có.
- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) anh Lê Thành T phải nộp và được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0000495 ngày 28 tháng 4 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tròn, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Phương Nhi |
Bản án số 59/2021/HNGĐ-ST ngày 24/06/2021 của Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 59/2021/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xét xử
