Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58a/2024/HS-PT

Ngày: 15 - 5 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Sơn.

Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Lam

Bà Phạm Thị Thúy Quỳnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Nga – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Việt - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2004, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 245/2023/TLPT-HS ngày 13 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo Nguyễn Thị T cùng đồng phạm bị xét xử về tội “Đánh bạc” do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị T, Trần Thị N, Bùi Xuân H và Trần Thị T1 đối với bản án hình sự sơ thẩm số 301/2023/HS-ST ngày 21/9/2023 của Toà án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2024/QĐXXPT-HS ngày 12/3/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 217 ngày 23/4/2024.

Các bị cáo kháng cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Thị T, sinh năm 1985; tên gọi khác: Không; giới tính: Nữ; nơi ĐKNKTT: Xóm A, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Chỗ ở: Xóm A, xã N, huyện N, Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; con ông Nguyễn Sỹ Q và bà Nguyễn Thị H1; chồng: Lương Văn L, sinh năm 1981 và có 3 con lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 68 ngày 25/9/2018 của Công an xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An, xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, nộp ngày 23/10/2018; bị bắt tạm giữ từ ngày 06/01/2023 đến ngày 12/01/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

  2. Họ và tên: Trần Thị N, sinh năm 1978; tên gọi khác: Không; giới tính: Nữ; nơi ĐKNKTT: Khối Y, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; con ông Trần Hữu N1 và bà Nguyễn Thị C; Chồng: Lê Tuấn A, sinh năm 1976 và có 4 con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án: Bản án số 73/2015/HSST ngày 19/3/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, xử phạt 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy", (chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/4/2021); Tiền sự: không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/01/2023 đến ngày 23/02/2023. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh; có mặt.

  3. Họ và tên: Bùi Xuân H, sinh năm 1978; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; nơi cư trú: K, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; con ông: Bùi Xuân N2 và bà Hồ Thị T2; vợ: Dương Thị Hoàng Y, sinh năm 1981 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 27/2017/HSST ngày 17/01/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, xử phạt 7.000.000 đồng, 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm về tội “Đánh bạc", (chấp hành xong ngày 17/01/2017); Bị bắt tạm giữ từ ngày 06/01/2023 đến ngày 12/01/2023. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

  4. Họ và tên: Trần Thị T1, sinh năm 1991; tên gọi khác: Không; giới tính: Nữ; nơi cư trú: Khối Y, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; con ông Trần Đình P và bà Đinh Thị L1; Chồng: Đặng Ngọc A1, sinh năm 1985 và con có 03 con, lớn nhất sinh năm 2012 nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân:

    • Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 03 ngày 16/01/2013 của Công an phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An, xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, nộp ngày 16/01/2013.
    • Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 96 ngày 11/10/2016 của Công an phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An, xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, nộp ngày 11/10/2016.
    • Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 07 ngày 11/01/2017 của Công an phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An, xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, nộp ngày 17/01/2017.

    Bị bắt tạm giữ từ ngày 06/01/2023 đến ngày 12/01/2023; Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

Trong vụ án còn có các bị cáo không kháng cáo, không bị kháng nghị, không liên quan đến kháng cáo của các bị cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm số 301/2023/HS-ST ngày 21/9/2023 của Toà án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 06/01/2023, tại số nhà A, đường Đ thuộc phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An, tổ công tác Đội 3, phòng C1 Công an tỉnh N tiến hành kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Trần Thị N và Nguyễn Thị T đang đánh bạc bằng hình thức đánh số lô, số đề. Tại Cơ quan điều tra, Trần Thị N khai nhận còn tham gia đánh bạc với Trần Thị T1 và Bùi Xuân H. Cùng ngày 06/01/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Bùi Xuân H và Trần Thị T1. Cùng ngày 06/01/2023, Lê Thị H2 và Phạm Thị Hồng L2 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đầu thú, khai nhận hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh số lô, số đề với Bùi Xuân H. Ngày 10/01/2023 và 15/01/2023, Nguyễn Văn L3 và Phan Thiên B đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đầu thú, khai nhận hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh số lô, số đề với Nguyễn Thị T.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã tiến hành kiểm tra, trích xuất dữ liệu liên quan đến hành vi đánh bạc trong 08 (tám) máy điện thoại di động thu giữ của Bùi Xuân H, Trần Thị N, Nguyễn Thị T, Lê Thị H2 và Nguyễn Văn L3, xác định hành vi đánh bạc của các bị cáo như sau:

  1. Hành vi đánh bạc giữa Bùi Xuân H với Lê Thị H2, Trần Thị N, Trần Thị T1 và Phạm Thị Hồng L2 được xác định như sau:

    1. Hành vi đánh bạc giữa Bùi Xuân H với Lê Thị H2:

      Vào hồi 17 giờ 57 phút ngày 06/01/2023, Lê Thị H2 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A12 đăng nhập tài khoản Telegram được đăng ký bởi số thuê bao 0899.663.783 nhắn tin đến tài khoản Telegram đăng ký bằng số thuê bao 0815.663.454 của Bùi Xuân H để đánh số lô, số đề. Trong đó: H2 đánh 1.441 điểm số lô (một điểm lô đánh với số tiền là 21.750 đồng), số tiền đánh số lô là 31.341.750 đồng; đánh 5.356.000 đồng tiền số đề; đánh 30.000 đồng tiền số đề ba càng; đánh 80.000 đồng tiền lô xiên. Tổng số tiền đánh số lô, số đề là 36.807.750 đồng (ba mươi sáu triệu, tám trăm linh bảy nghìn, bảy trăm năm mươi đồng). H2 đã thanh toán cho H số tiền 20.000.000 đồng.

      Sau khi có kết quả xổ số miền B1 mở thưởng ngày 06/01/2023, Lê Thị H2 trúng thưởng 157 điểm số lô gồm: Số lô 08 trúng 02 điểm, số lô 21 trúng 20 điểm, số lô 83 trúng 10 điểm, số lô 64 trúng 15 điểm, số lô 77 trúng 10 điểm, số lô 44 trúng 20 điểm, số lô 10 trúng 5 điểm, số lô 93 trúng 5 điểm, số lô 79 trúng 20 điểm, số lô 86 trúng 10 điểm, số lô 32 trúng 5 điểm, số lô 06 trúng 5 điểm, số lô 54 trúng 5 điểm, số lô 70 trúng 5 điểm, số lô 16 trúng 5 điểm, số lô 81 trúng 5 điểm, số lô 73 trúng 5 điểm, số lô 87 trúng 5 điểm, số lô 79 trúng 20 điểm. Tổng số tiền trúng thưởng số lô là 12.560.000 đồng. Số tiền Bùi Xuân H và Lê Thị H2 sử dụng để đánh bạc ngày 06/01/2023 là: tiền đánh 36.807.750 đồng + tiền trúng thưởng 12.560.000 đồng = 49.367.750 đồng (bốn mươi chín triệu, ba trăm sáu mươi bảy nghìn, bảy trăm năm mươi đồng).

    2. Hành vi đánh bạc giữa Bùi Xuân H với Trần Thị N:

      Vào hồi 18 giờ 06 phút ngày 06/01/2023, Trần Thị N sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A57 đăng nhập tài khoản Telegram được đăng ký bởi số thuê bao 0947.558.413 nhắn tin đến tài khoản Telegram đăng ký bằng số thuê bao 0815.663.454 của Bùi Xuân H để đánh số lô, số đề. Trong đó: N đánh 3.124 điểm số lô (một điểm lô đánh với số tiền là 21.730 đồng), số tiền đánh số lô là 67.884.520 đồng; đánh 1.370.000 đồng tiền số đề; đánh 350.000 đồng tiền số đề ba càng; đánh 4.710.000 đồng tiền số lô xiên. Tổng số tiền đánh số lô, số đề là 74.314.520 đồng. N chưa thanh toán tiền cho H.

      Sau khi có kết quả xổ số miền B1 mở thưởng ngày 06/01/2023, Trần Thị N trúng thưởng 937 điểm số lô gồm: Số lô 75 trúng 260 điểm, số lô 73 trúng 120 điểm, số lô 10 trúng 200 điểm, số lô 79 trúng 130 điểm, số lô 83 trúng 140 điểm, số lô 64 trúng 7 điểm, số lô 21 trúng 80 điểm. Số tiền trúng thưởng số lô là 74.960.000 đồng, trúng thưởng 6.000.000 đồng cặp số lô xiên (57,75). Tổng số tiền trúng thưởng là 80.960.000 đồng. Số tiền Bùi Xuân H và Trần Thị N sử dụng để đánh bạc ngày 06/01/2023 là: 74.314.520 đồng tiền đánh + 80.960.000 đồng tiền trúng thưởng 155.274.520 đồng (một trăm năm mươi lăm triệu, hai trăm bảy mươi bốn nghìn, năm trăm hai mươi đồng).

    3. Hành vi đánh bạc giữa Bùi Xuân H với Trần Thị T1:

      Vào hồi 17 giờ 56 phút ngày 06/01/2023, Trần Thị T1 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy (T1 không rõ loại gì) đăng nhập tài khoản Telegram được đăng ký bởi số thuê bao 0773.320.998 nhắn tin đến tài khoản Telegram đăng ký bằng số thuê bao 0815.663.454 của Bùi Xuân H để đánh số lô, số đề. Trần Thị T1 đánh 3.375 điểm số lô (một điểm lô đánh với số tiền là 21.720 đồng), số tiền đánh số lô là 73.305.000 đồng (bảy mươi ba triệu, ba trăm linh năm nghìn đồng). T1 chưa thanh toán tiền cho H. Sau khi biết H bị bắt, do sợ bị cơ quan Công an phát hiện, trên đường về nhà, T1 đã vứt chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy của mình xuống sông.

      Sau khi có kết quả xổ số miền B1 mở thưởng ngày 06/01/2023, Trần Thị T1 trúng thưởng 1.420 điểm số lô gồm: Số lô 35 trúng 100 điểm, số lô 75 trúng 450 điểm, số lô 81 trúng 25 điểm, số lô 70 trúng 200 điểm, số lô 73 trúng 200 điểm, số lô 77 trúng 200 điểm, số lô 79 trúng 200 điểm, số lô 16 trúng 25 điểm, số lô 82 trúng 10 điểm, số lô 66 trúng 10 điểm. Tổng số tiền trúng thưởng số lô là 113.600.000 đồng. Số tiền Bùi Xuân H và Trần Thị T1 sử dụng để đánh bạc ngày 06/01/2023 là: 73.305.000 đồng tiền đánh + 113.600.000 đồng tiền trúng thưởng 186.905.000 đồng (một trăm tám mươi sáu triệu, chín trăm linh năm nghìn đồng).

    4. Hành vi đánh bạc giữa Bùi Xuân H với Phạm Thị Hồng L2:

      Vào hồi 18 giờ ngày 06/01/2023, Bùi Xuân H sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A32 đăng nhập tài khoản Telegram đăng ký bởi số thuê bao 0815.663.454 nhắn tin đến tài khoản Telegram đăng ký bởi số thuê bao 0834.444.537 của Phạm Thị Hồng L2 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A50 để đánh số lô, số đề. Trong đó: Bùi Xuân H đánh 5.515 điểm số lô (một điểm lô đánh với số tiền là 21.720 đồng), số tiền đánh số lô là 119.785.800 đồng; đánh 5.548.000 đồng tiền số đề; đánh 380.000 đồng tiền ba càng; đánh 3.870.000 đồng tiền lô xiên. Tổng số tiền đánh số lô, số đề là 129.583.800 đồng (một trăm hai mươi chín triệu, năm trăm tám mươi ba nghìn, tám trăm đồng). H chưa thanh toán tiền cho L2. Sau khi biết H bị bắt, do sợ bị cơ quan Công an phát hiện, L2 đã vứt chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A50 của mình ở khu vực sân trường mầm non và cấp 1 H, thành phố V. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã truy tìm nhưng không thấy.

      Sau khi có kết quả xổ số miền B1 mở thưởng ngày 06/01/2023, Bùi Xuân H trúng thưởng 1.710 điểm số lô gồm: Số lô 93 trúng 25 điểm, số lô 35 trúng 70 điểm, số lô 44 trúng 10 điểm, số lô 75 trúng 504 điểm, số lô 70 trúng 160 điểm, số lô 73 trúng 220 điểm, số lô 77 trúng 160 điểm, số lô 16 trúng 12 điểm, số lô 10 trúng 160 điểm, số lô 79 trúng 230 điểm, số lô 83 trúng 80 điểm, số lô 82 trúng 5 điểm, số lô 66 trúng 5 điểm, số lô 64 trúng 7 điểm, số lô 21 trúng 50 điểm. Số tiền trúng thưởng số lô là 136.800.000 đồng; trúng thưởng 5.000.000 đồng cặp số lô xiên (57,75). Tổng số tiền trúng thưởng là 141.800.000 đồng. Số tiền Bùi Xuân H và Phạm Thị Hồng L2 sử dụng để đánh bạc ngày 06/01/2023 là: 129.583.800 đồng tiền đánh + 141.800.000 đồng tiền trúng thưởng = 271.383.800 đồng (hai trăm bảy mươi mốt triệu, ba trăm tám mươi ba nghìn, tám trăm đồng).

  2. Hành vi đánh bạc giữa Trần Thị N với Trần Thị T1 và Nguyễn Thị T được xác định như sau:

    1. Hành vi đánh bạc giữa Trần Thị N với Trần Thị T1:

      Vào hồi 17 giờ 58 phút ngày 06/01/2023, Trần Thị N sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A57 đăng nhập tài khoản Telegram đăng ký bởi số thuê bao 0947.558.413 nhắn tin đến tài khoản Telegram đăng ký bởi số thuê bao 0773.320.998 của Trần Thị T1 để đánh số lô, số đề. Trong đó: N đánh 230 điểm số lô (một điểm lô đánh với số tiền là 21.750 đồng), số tiền đánh số lô là 5.002.500 đồng; đánh 11.620.000 đồng tiền số đề; đánh 5.200.000 đồng tiền lô xiên. Tổng số tiền sử dụng để đánh số lô, số đề là 21.822.500 đồng (hai mươi mốt triệu, tám trăm hai mươi hai nghìn, năm trăm đồng). N chưa thanh toán tiền cho T1.

      Sau khi có kết quả xổ số miền Bắc ngày 06/01/2023, Trần Thị N trúng thưởng 70 điểm số lô gồm: Số lô 70 trúng 10 điểm, số lô 75 trúng 50 điểm, số lô 06 trúng 10 điểm. Số tiền trúng thưởng số lô là 5.600.000 đồng; trúng thưởng 2.450.000 đồng tiền số đề 70. Tổng số tiền trúng thưởng là 8.050.000 đồng. Số tiền Trần Thị N và Trần Thị T1 sử dụng để đánh bạc ngày 06/01/2023 là: 21.822.500 đồng tiền đánh + 8.050.000 đồng tiền trúng thưởng 29.872.500 đồng (hai mươi chín triệu, tám trăm bảy mươi hai nghìn, năm trăm đồng).

    2. Hành vi đánh bạc giữa Trần Thị N với Nguyễn Thị T:

      Vào hồi 17 giờ 57 phút ngày 06/01/2023, Trần Thị N sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A57 đăng nhập tài khoản Telegram đăng ký bởi số thuê bao 0947.558.413 nhắn tin đến tài khoản Telegram đăng ký bởi số thuê bao 0942.252.164 của Nguyễn Thị T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 để đánh số lô, số đề. Trong đó: N đánh 1544 điểm số lô (một điểm lô đánh với số tiền là 21.700 đồng), số tiền đánh số lô là 33.504.800 đồng; đánh 8.750.000 đồng tiền số đề; đánh 30.000 đồng tiền ba càng; đánh 1.720.000 đồng tiền lô xiên. Tổng số tiền đánh bạc là 44.004.800 đồng (bốn mươi bốn triệu, không trăm linh bốn nghìn, tám trăm đồng). N chưa thanh toán tiền cho T.

      Sau khi có kết quả xổ số miền B1 mở thưởng ngày 06/01/2023, Trần Thị N trúng thưởng 532 điểm số lô gồm: Số lô 81 trúng 33 điểm, số lô 86 trúng 45 điểm, số lô 57 trúng 45 điểm, số lô 64 trúng 23 điểm, số lỗ 21 trúng 30 điểm, số lô 06 trúng 10 điểm, số lô 75 trúng 36 điểm, số lô 16 trúng 120 điểm, số lô 73 trúng 135 điểm, số lô 66 trúng 30 điểm, số lô 44 trúng 25 điểm. Số tiền trúng thưởng số lô là 42.560.000 đồng; trúng thưởng 4.760.000 đồng tiền số đề 70; trúng thưởng 2.000.000 đồng cặp số lô xiên (57,75). Tổng số tiền trúng thưởng là 49.320.000 đồng. Số tiền Trần Thị N và Nguyễn Thị T sử dụng để đánh bạc vào hồi 17 giờ 57 phút ngày 06/01/2023 là: 44.004.800 đồng tiền đánh + 49.320.000 đồng tiền trúng thưởng) = 93.324.800 đồng (chín mươi ba triệu, ba trăm hai mươi bốn nghìn, tám trăm đồng).

      Đến 18 giờ 04 phút ngày 06/01/2023, sau khi nhận bảng số lô, số đề từ Trần Thị N, Nguyễn Thị T định chuyển toàn bộ bảng số lô, số đề đó đến đánh với Phan Thiên B nhưng do B chưa thanh toán tiền đánh những ngày trước nên T không chuyển cho B nữa. Sau đó, T sửa lại các số lô, số đề và nhắn lại cho Trần Thị N để N chuyển đánh với Bùi Xuân H. Trong đó, T đánh 3.028 điểm số lô (một điểm lô đánh với số tiền là 21.700 đồng), số tiền đánh số lô là 65.707.600 đồng; đánh 150.000 đồng tiền ba càng; đánh 8.360.000 đồng tiền lô xiên. Tổng số tiền đánh bạc là 74.217.600 đồng (bảy mươi bốn triệu, hai trăm mười bảy nghìn, sáu trăm đồng). N, T và H chưa thanh toán tiền với nhau.

      Sau khi có kết quả xổ số miền B1 mở thưởng ngày 06/01/2023, Nguyễn Thị T trúng thưởng 668 điểm số lô gồm: Số lô 73 trúng 119 điểm, số lô 10 trúng 200 điểm, số lô 79 trúng 129 điểm, số lô 83 trúng 140 điểm, số lô 21 trúng 80 điểm. Số tiền trúng thưởng số lô là 53.440.000 đồng; trúng thưởng 6.000.000 đồng cặp số lô xiên (57,75). Tổng số tiền trúng thưởng là 59.440.000 đồng (năm mươi chín triệu, bốn trăm, bốn mươi nghìn đồng). Số tiền Trần Thị N và Nguyễn Thị T sử dụng để đánh bạc vào hồi 18 giờ 04 phút ngày 06/01/2023 là: 74.217.600 đồng tiền đánh + 59.440.000 đồng tiền trúng thưởng = 133.657.600 đồng (một trăm, ba mươi ba triệu, sáu trăm năm mươi bảy nghìn, sáu trăm đồng). Tổng cộng số tiền Trần Thị N và Nguyễn Thị T sử dụng để đánh bạc ngày 06/01/2023 là: 93.324.800 đồng tiền đánh + 133.657.600 đồng tiền trúng thưởng = 226.982.400 đồng (hai trăm hai mươi sáu triệu, chín trăm tám mươi hai nghìn, bốn trăm đồng).

  3. Hành vi đánh bạc giữa Nguyễn Thị T với Nguyễn Văn L3 và Phan Thiên B được xác định như sau:

    1. Hành vi đánh bạc giữa Nguyễn Thị T với Nguyễn Văn L3:

      Vào hồi 17 giờ 49 phút ngày 05/01/2023, Nguyễn Văn L3 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A39, bên trong lắp thẻ sim số thuê bao 0583.724.258 nhắn tin đánh số lô đến số thuê bao 0942.252.164 của Nguyễn Thị T. Trong đó: L3 đánh 1.800 điểm số lô (một điểm lô đánh với số tiền là 21.750 đồng), tổng số tiền đánh số lô là 39.150.000 đồng (ba mươi chín triệu, một trăm, năm mươi nghìn đồng). L3 đã thanh toán tiền cho T. Đối chiếu kết quả xổ số miền Bắc ngày 05/01/2023, L3 không trúng thưởng số lô nào. Số tiền Nguyễn Thị T và Nguyễn Văn L3 sử dụng để đánh bạc ngày 05/01/2023 là 39.150.000 đồng (ba mươi chín triệu, một trăm, năm mươi nghìn đồng).

    2. Hành vi đánh bạc giữa Nguyễn Thị T với Phan Thiên B:

      Vào hồi 17 giờ 27 phút ngày 28/12/2022, Nguyễn Thị T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 truy cập vào ứng dụng Telegram đăng ký bởi số thuê bao 0942.502.164 nhắn tin đến tài khoản Telegram đăng ký bởi số thuê bao 0962.234.019 của Phan Thiên B sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 để đánh số lô, số đề. Trong đó: T đánh 5.649 điểm số lô (một điểm lô đánh với số tiền là 21.620 đồng), số tiền đánh số lô là 122.131.380 đồng; đánh 1.800.000 đồng tiền số đề; đánh 5.850.000 đồng tiền lô xiên. Tổng số tiền T sử dụng để đánh bạc là 129.781.380 đồng (một trăm hai mươi chín triệu, bảy trăm, tám mươi mốt nghìn, ba trăm tám mươi đồng). T chưa thanh toán tiền cho B. Sau khi biết T bị bắt, trên đường về nhà, B đã vứt chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 của mình dọc đường.

      Sau khi có kết quả xổ số miền B1 mở thưởng ngày 28/12/2022, Nguyễn Thị T trúng thưởng 1.260 điểm số lô gồm: Số lô 03 trúng 400 điểm, số lô 29 trúng 100 điểm, số lô 92 trúng 100 điểm, số lô 68 trúng 180 điểm, số lô 79 trúng 100 điểm, số lô 58 trúng 170 điểm, số lô 94 trúng 80 điểm, số lô 77 trúng 50 điểm, số lô 73 trúng 80 điểm. Tổng số tiền trúng thưởng số lô là 100.800.000 đồng (một trăm triệu, tám trăm nghìn đồng). Số tiền Nguyễn Thị T và Phan Thiên B sử dụng để đánh bạc ngày 28/12/2022 là: 129.781.380 đồng tiền đánh + 100.800.000 đồng tiền trúng thưởng = 230.581.380 đồng (hai trăm ba mươi triệu, năm trăm, tám mươi mốt nghìn, ba trăm tám mươi đồng).

Tại Bản án số 301/2023/HS-ST ngày 21/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh đã quyết định:

  • Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị T 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Trần Thị N 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Bùi Xuân H 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Trần Thị T1 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”.

Ngoài ra bản án còn xử phạt các bị cáo đồng phạm trong vụ án và xử lý về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của các bị cáo.

Ngày 27/9/2023, bị cáo Trần Thị N, Trần Thị T1 và Bùi Xuân H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo.

Ngày 03/10/2023, bị cáo Nguyễn Thị T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, nội dung kháng cáo của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo làm trong hạn luật định, nội dung và hình thức đơn kháng cáo phù hợp với quy định của pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Bùi Xuân H, Nguyễn Thị T, Trần Thị N, Trần Thị T1; sửa bản án sơ thẩm, giảm hình phạt cho các bị cáo.

  • Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s, u khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Bùi Xuân H 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Đánh bạc".
  • Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 33 (Ba mươi ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Thị N 33 (Ba mươi ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Thị T1 33 (Ba mươi ba) tháng tù về tội “Đánh bạc".

Về án phí: Các bị cáo không phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1]. Về nội dung: Tại phiên toà các bị cáo Nguyễn Thị T, Trần Thị N, Bùi Xuân H, Trần Thị T1 hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã xét xử. Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác, đã được thẩm tra tại phiên toà. Vì vậy, có đầy đủ căn cứ để kết luận:

    Vào ngày 28/12/2022, tại thành phố V, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Thị T và Phan Thiên B đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức sử dụng tin nhắn ghi số lô, số đề. Số tiền đánh bạc được xác định là 230.581.380 đồng (hai trăm ba mươi triệu, năm trăm tám mươi mốt nghìn, ba trăm tám mươi đồng). Ngày 05/01/2023, tại thành phố V, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Thị T và Nguyễn Văn L3 đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức sử dụng tin nhắn ghi số lô, số đề. Số tiền đánh bạc được xác định là 39.150.000 đồng (ba mươi chín triệu, một trăm, năm mươi nghìn đồng).

    Ngày 06/01/2023, tại thành phố V, tỉnh Nghệ An, Bùi Xuân H, Trần Thị N, Trần Thị T1, Nguyễn Thị T, Phạm Thị Hồng L2 và Lê Thị H2 đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức sử dụng tin nhắn ghi số lô, số đề. Trong đó: Bùi Xuân H sử dụng 662.931.070 đồng (sáu trăm sáu mươi hai triệu, chín trăm ba mươi mốt nghìn, không trăm bảy mươi đồng) đánh bạc; Trần Thị N sử dụng 412.129.420 đồng (bốn trăm mười hai triệu, một trăm hai mươi chín nghìn, bốn trăm hai mươi đồng) đánh bạc; Trần Thị T1 sử dụng 216.777.500 đồng (hai trăm mười sáu triệu, bảy trăm bảy mươi bảy nghìn, năm trăm đồng) đánh bạc; Nguyễn Thị T sử dụng 226.982.400 đồng (hai trăm hai mươi sáu triệu, chín trăm tám mươi hai nghìn, bốn trăm đồng) đánh bạc; Tổng cộng Nguyễn Thị T sử dụng 496.713.780 đồng (bốn trăm chín mươi sáu triệu, bảy trăm mười ba nghìn, bảy trăm tám mươi đồng) đánh bạc.

    Bản án sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Trần Thị N, Nguyễn Thị T, Trần Thị T1, Bùi Xuân H, về tội Đánh bạc theo điểm b Khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

  2. [2] Xét kháng cáo của các bị cáo về xin giảm nhẹ hình phạt:

    Bản án sơ thẩm đã xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, đánh giá vai trò, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo. Mặc dù các bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc với số tiền khác nhau. Nhưng bị cáo Nguyễn Thị T tham gia đánh bạc nhiều lần nhất, bị cáo N là người đang có tiền án, bị cáo H là người tham gia đánh bạc với số tiền lớn nhất, bị cáo T1 có nhiều nhân thân xấu nhất để xử phạt các bị cáo với mức hình phạt ngang nhau và xử phạt mỗi bị cáo 36 tháng tù là phù hợp và đúng quy định của pháp luật.

    Tuy nhiên trong giai đoạn xét xử phúc thẩm các bị cáo cung cấp các tình tiết giảm nhẹ mới, cụ thể:

    • Bị cáo Bùi Xuân H sau khi phạm tội đã có công cứu anh Nguyễn Sỹ Đ, sinh năm 1988, là công nhân tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ1 thoát khỏi sự nguy hiểm đến tính mạng do đuối nước, được chính quyền địa phương xã N, huyện T xác nhận. Đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
    • Ngày 29/3/2024, bị cáo Nguyễn Thị T sau khi phạm tội đã có công trong việc phát hiện đám cháy rừng, thông báo cho trạm kiểm lâm C2, hạt kiểm lâm Q1 kịp thời huy động lực lượng dập tắt đám cháy. Trong dịp tết nguyên đán 2024 đã tích cực vận động và ủng hộ quỹ vì người nghèo phường H. Bị cáo T có bác ruột là Liệt sỹ hy sinh tại chiến trường CamPuchia. Đây là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
    • Ngày 29/3/2024 bị cáo Trần Thị N đã có công phát hiện và báo cho Hạt Kiểm Lâm huyện Q1 vụ việc bà Lương Thị T3 chặt phá rừng tự nhiên đã bị Hạt Kiểm Lâm huyện Q1 xử phạt hành chính 11.000.000 đồng được Hạt Kiểm Lâm huyện Q1 xác nhận. Đây là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
    • Ngày 25/10/2022, bị cáo Trần Thị T1 cùng chồng đã kịp thời phát hiện và cứu cháu Trần Gia B2 bị đuối nước. Sau khi sơ cứu cháu B2 đã qua khỏi sự nguy hiểm đến tính mạng được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An xác nhận. Đây là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  3. [3] Xét các bị cáo cùng nhau đánh bạc nhưng sự liên kết trong hành vi phạm tội chỉ là sự đồng phạm giản đơn. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội chủ yếu là nhận số lô, số đề của người này chuyển cho người khác để hưởng hoa hồng, số tiền đánh bạc chủ yếu là tiền thắng số lô, số đề nhưng chưa thanh toán cho nhau, các bị cáo đều chưa được hưởng lợi nên hành vi của các bị cáo không phải là vai trò chính và cốt yếu trong vụ án.

    Từ các nhận định trên, xét thấy mức án mà bản án sơ thẩm đã xử phạt các bị cáo là có phần nghiêm khắc, có thêm tình tiết giảm nhẹ mới chưa được xem xét. Vì vậy, chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo, áp dụng khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt, cho các bị cáo hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

  4. [4] Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo:

    Bị cáo Trần Thị N là đối tượng tham gia đánh bạc tích cực. Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị xét xử về tội Mua bán trái phép chất ma túy chưa được xóa án tích, phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo Bùi Xuân H là đối tượng tham gia đánh bạc có số tiền lớn và nhiều nhất. Bị cáo Trần Thị T1 là người có nhân thân bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc. Vì vậy cần thiết phải cách ly các bị cáo một thời gian để cải tạo, giáo dục và để răn đe và phòng ngừa chung. Do đó không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo.

  5. [5] Về án phí: Các bị cáo không phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm do được chấp nhận một phần kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm;

    Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự. Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo về xin giảm nhẹ hình phạt, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt; không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo Trần Thị N, Bùi Xuân H và Trần Thị T1.

  2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 20 (Hai mươi) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 06/01/2023 đến ngày 12/01/2023.

    Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Thị N 20 (Hai mươi) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/01/2023 đến ngày 23/02/2023.

    Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Bùi Xuân H 20 (Hai mươi) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 06/01/2023 đến ngày 12/01/2023.

    Xử phạt bị cáo Trần Thị T1 20 (Hai mươi) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 06/01/2023 đến ngày 12/01/2023.

  3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2017/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

    Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • VKSND tỉnh Nghệ An;
  • Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • TAND thành phố Vinh;
  • VKSND thành phố Vinh;
  • CQCSĐT Công an thành phố Vinh;
  • Chi Cục THADS thành phố Vinh;
  • Các bị cáo;
  • UBND P. Hưng Bình, xã Nghi Đức;
  • Lưu HSVA, Tòa hình sự, VP;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Nguyễn Anh Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58a/2024/HS-PT ngày 15/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về hình sự phúc thẩm về tội đánh bạc

  • Số bản án: 58a/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HSPT
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger