Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 589/2024/HS-ST

Ngày: 26-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Viết Nghiêm

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Văn Phước
  2. Ông Võ Văn Lợi

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hằng Nga – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quốc Đạt – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 557/2024/HS-ST ngày 24 tháng 10 năm 2024, theo hình thức trực tuyến, gồm 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, điểm cầu thành phần đặt tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 637/2024/QĐXXST-HS ngày 08/11/2024 đối với các bị cáo:

1/ Võ Hoàng T; Giới tính: Nam; Sinh ngày 27/3/1991, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký Hộ khẩu thường trú: 28/3 Đường A, khu phố B, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 2 Đường A, khu phố B, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Phật; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Võ Văn Phụng H, sinh năm: không rõ (chết) và bà Âm Thị H1, sinh năm 1965; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con út; Tiền án: Ngày 18/5/2016, bị Tòa án nhân dân quận Thủ Đức xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/9/2021 (đã đóng án phí); Tiền sự: Ngày 28/4/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chấp hành xong ngày 05/10/2023; Nhân thân: Ngày 08/4/2006, bị Công an quận T xử lý vi phạm hành chính về hành vi bắt trộm chó mèo; Ngày 22/7/2011, bị Tòa án nhân dân quận Thủ Đức xử phạt 01 năm 02 tháng 29 ngày tù giam về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, (đã chấp hành xong). Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/3/2024.

1

2/ Trịnh Thái T1; Giới tính: Nam; Sinh ngày 01/12/1996, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký Hộ khẩu thường trú: Số F Đường số H, khu phố C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện tại: Không nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Trịnh Thanh T2, sinh năm: không rõ (chết) và bà Trần Thị L, sinh năm 1973; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con út; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 23/11/2015, bị Công an huyện N xử phạt hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng; Ngày 23/11/2016, bị Tòa án nhân dân quận Thủ Đức áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Ngày 02/02/2018, bị Tòa án nhân dân quận Thủ Đức áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Ngày 26/02/2020, bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/3/2024.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Em Trần Đào Minh T3, sinh ngày 07/01/2007.

Địa chỉ: 3 Đường A, khu phố E, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (có Đơn xin xét xử vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Đào Thị Hồng T4 là mẹ ruột của bị hại Trần Đào Minh T3, địa chỉ 38/1 Đường A, khu phố E, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (có Đơn xin xét xử vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Bà Trần Thị L, sinh ngày 1975

Địa chỉ: Nhà số C Hẻm C, Đường H, khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài cá nhân, Trịnh Thái T1 rủ Võ Hoàng T sử dụng xe mô tô đi vòng quanh khu vực thành phố T tìm người có tài sản sơ hở để chiếm đoạt, T đồng ý. Khoảng 10 giờ 04 phút ngày 06/3/2024, T1 điều khiển xe mô tô hiệu Vario 125 màu đen, không có biển số (đang chờ lấy biển) chở theo Võ Hoàng T đi trên đường V, thành phố T để thực hiện ý định chiếm đoạt tài sản. Khi T1 điều khiển xe mô tô chở T rẽ vào Đường A, Khu phố A, phường B, thành phố T thì phát hiện em Trần Đào Minh T3 (sinh năm 2007) đang ngồi trên yên xe đạp dừng ngược chiều bên trái Đường 13 theo chiều xe Thuận lưu thông, trên tay em T3 đang cầm chiếc điện thoại di động Iphone X màu đen nên cả hai nảy sinh ý định cướp giật chiếc điện thoại nêu trên. T1 điều khiển xe quay đầu hướng ra đường V và chạy áp sát bên trái em T3 để T dùng tay phải giật lấy chiếc điện thoại di động Iphone X của em T3 rồi tăng ga tẩu thoát. Lúc này, em T3 nắm giữ được chiếc áo của T kéo lại làm T1 điều khiển xe té ngã xuống đường. T1 đứng dậy định tăng ga bỏ chạy thì bị người dân xung quanh phát hiện sự việc đến khống chế bắt giữ rồi điện báo Công an phường B đến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

2

Tại Cơ quan Công an, Trịnh Thái T1 và Võ Hoàng T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên (Bút lục: 39-46; 58-61)

Bản kết luận định giá tài sản số 168-KV3/KLDG-HDĐGTS ngày 28/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự, thành phố T, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu đen 64GB giá trị là 4.033.000 đồng (Bút lục: 133)

* Vật chứng vụ án:

  • - 01 điện thoại di động Iphone X 64GB màu đen của em Trần Đào Minh T3. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu.
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario 125 màu đen không có biển số, số máy JA69E5014999, số khung MHIJA4659RK 017113 do mẹ ruột của Trịnh Thái T1 là bà Trần Thị L mua vào ngày 27/02/2024, bà L cho T1 mượn xe để sử dụng, không biết về việc T1 đi cướp giật tài sản.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Redmi 9T màu cam, 01 áo khoác dài tay màu xám có in nhiều chữ LV (Thu giữ của Trịnh Thái T1);
  • - 01 điện thoại di động hiệu Oppo A17K, màu xanh, 01 áo sơ mi dài tay, màu trắng (Thu giữ của Võ Hoàng T);
  • - 01 USB chứa video ghi nhận sự việc.

Về trách nhiệm dân sự.

  • - Em Trần Đào Minh T3 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường dân sự (Bút lục: 77)

Cáo trạng số 501/CT-VKSTPTĐ ngày 16/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố Trịnh Thái T1 về Tội “Cướp giật tài sản”, theo quy định tại điểm d Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Truy tố Võ Hoàng T về Tội “Cướp giật tài sản”, theo quy định tại điểm d, i Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị xử phạt bị cáo Trịnh Thái T1 từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù, Võ Hoàng T từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù;
  • - Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng nêu là đúng và xin xem xét giảm nhẹ hình phạt .
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị L trình bày: xe mô tô hiệu Vario 125 màu đen (đang chờ lấy biển) là của bà L. Ngày 06/3/2024, Trịnh Thái T1 đã dùng xe trên để đi cướp giật tài sản bà L không hề hay biết. Tại phiên tòa hôm nay bà L có nguyện vọng được nhận lại xe mô tô hiệu Vario 125 màu đen, không có biển số (đang chờ lấy biển).

3

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an thành phố T, của Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức trong quá trình điều tra truy tố là thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; các bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, lời khai nhận tội của các bị cáo Trịnh Thái T1, Võ Hoàng T phù hợp với nhau và phù hợp với: Nội dung Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập ngày 06/3/2024 tại trụ sở Công an phường B, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh; Lời khai của bị hại Trần Đào Minh T3; Biên bản kiểm tra xác định địa điểm lập ngày 06/3/2024; Biên bản nhận dạng; Biên bản xác nhận hình ảnh lập ngày 06/3/2024; Biên bản nhận dạng, Phiếu khảo sát giá; Kết luận định giá tài sản số 168-KV3/KLÐG-HĐĐGTS ngày 28/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân thành phố T cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở kết luận: vào khoảng 10 giờ 04 phút ngày 06/3/2024, Trịnh Thái T1 điều khiển xe mô tô hiệu Vario 125 màu đen, không có biển số chở Võ Hoàng T ngồi sau đến Đường A, Khu phố A, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thì phát hiện ra em Trần Đào Minh T3 đang ngồi trên yên xe đạp dừng ngược chiều bên trái Đường 13 theo chiều xe Thuận lưu thông, trên tay em T3 đang cầm chiếc điện thoại di động Iphone X màu đen nên T1 và T nảy sinh ý định cướp giật điện thoại của em T3. T1 điều khiển xe mô tô quay lại, áp sát xe của em T3 để T ngồi sau dùng tay phải công khai, bất ngờ giật điện thoại di động Iphone X màu đen trị giá 4.033.000 đồng của em T3, rồi T1 tăng ga tẩu thoát, do em T3 nắm giữ được chiếc áo của T kéo lại làm T1 điều khiển xe té ngã xuống đường. T1 đứng dậy định tăng ga bỏ chạy thì bị người dân xung quanh phát hiện sự việc đến khống chế bắt giữ. Hành vi nêu trên của bị cáo Trịnh Thái T1, đã đủ yếu tố cấu thành Tội “Cướp giật tài sản” trong trường hợp dùng thủ đoạn nguy hiểm được quy định tại điểm d Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Võ Hoàng T đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, chưa được xóa án tích mà nay lại thực hiện hành vi phạm tội mới do cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” dùng làm tình tiết định khung hình phạt. Do đó Võ Hoàng T đã phạm tội “Cướp giật tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Lời khai của các bị cáo đã thống nhất với tội danh và Điều luật mà đại diện Viện kiểm sát đã truy tố và luận tội đối với các bị cáo. Như vậy, nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đối với các bị cáo Trịnh Thái T1, Võ Hoàng T là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

4

[3]. Các bị cáo là đối tượng hình sự đã từng bị Tòa án xử phạt tù và áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Trong đó, Trịnh Thái T1 bị Tòa án nhân dân (quận T cũ), nay là thành phố T, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc vào các năm 2016, 2018 và năm 2020, Võ Hoàng T bị Tòa án nhân dân (quận T cũ), nay là thành phố T xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt ngày 23/9/2021 chưa được xóa án tích thì đến ngày 06/3/2024 bị cáo Võ Hoàng T lại tiếp tục tái phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Sau khi được tha tù và chấp hành xong biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện về thì các bị cáo không tu dưỡng, sinh sống lành mạnh, mà đua đòi ăn chơi và lười lao động nên đi sâu vào con đường nghiện ngập chất ma túy và phạm tội chiếm đoạt tài sản. Do cần tiền để thỏa mãn việc nghiện ma túy. Trong vụ án này, bị cáo T1 là người khởi xướng, rủ rê bị cáo T tham gia việc phạm tội, bị cáo T1 là đồng phạm tích cực trong vai trò điều khiển xe giúp sức, tạo điều kiện thuận lợi cho bị cáo T ngồi sau trực tiếp thực hiện hành vi cướp giật tài sản. Hành vi sử dụng xe gắn máy làm phương tiện phóng nhanh để cướp giật điện thoại di động Iphone X màu đen trị giá 4.033.000 đồng do bị cáo Trịnh Thái T1, Võ Hoàng T thực hiện là có tính cố ý cao, thực hiện một cách táo bạo, nguy hiểm, đã không chỉ trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn đe dọa xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tham gia giao thông trên đường, góp phần gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Tuy nhiên cũng xét tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà các bị cáo khai báo thành khẩn có thái độ ăn năn hối lỗi Do đó, khi quyết định hình phạt:

Đối với bị cáo Trịnh Thái T1 căn cứ Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, cần áp dụng: Điểm d Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định khung hình phạt phải áp dụng, Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp có đồng phạm, điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Đối với bị cáo Võ Hoàng T căn cứ Điểm d, i Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định khung hình phạt phải áp dụng, Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp có đồng phạm, điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Để có hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội, vai trò trong đồng phạm, nhân thân của các bị cáo thì mới có tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo thành công dân tốt về sau.

Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, phù hợp quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

5

[4]. Về bồi thường dân sự: Tại phiên tòa, bị hại Trần Đào Minh T3 và người đại diện hợp pháp của bị hại là bà Đào Thị Hồng T4 có đơn xin xét xử vắng mặt, nhưng theo các tài liệu có trong hồ sơ thì em T3 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm, do đó Tòa án không phải giải quyết về bồi thường dân sự cho bị hại.

[5]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

  • + Đối với: 01 điện thoại di động hiệu Redmi 9T màu cam; 01 áo khoác dài tay màu xám có in nhiều chữ LV; 01 điện thoại di động hiệu Oppo A17K, màu xanh; 01 áo sơ mi dài tay, màu trắng, thu giữ của Trịnh Thái T1 và của Võ Hoàng T là tư liệu sinh hoạt và không liên quan đến việc thực hiện tội phạm, nghĩ nên; giao trả 01 điện thoại di động hiệu Redmi 9T màu cam; 01 áo khoác dài tay màu xám có in nhiều chữ LV cho Trịnh Thái T1; giao trả 01 điện thoại di động hiệu Oppo A17K, màu xanh; 01 áo sơ mi dài tay, màu trắng cho Võ Hoàng T.
  • + Đối với xe mô tô hiệu 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario 125 màu đen không có biển số, số máy JA69E5014999, số khung MHIJA4659RK 017113, do mẹ ruột của Trịnh Thái T1 là bà L mua vào ngày 27/02/2024, bà L cho T1 mượn xe để sử dụng, không biết về việc T1 đi cướp giật tài sản. Do đó nghĩ nên giao trả xe trên cho bà Trần Thị L.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm d Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuyên bố Trịnh Thái T1 phạm Tội “Cướp giật tài sản”;

1.1. Căn cứ điểm d, i Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuyên bố Võ Hoàng T phạm Tội “Cướp giật tài sản”;

2. Áp dụng điểm d Khoản 2 Điều 171, Điều 17 và Điều 58, điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi sung năm 2017. Xử phạt: Trịnh Thái T1 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/3/2024.

2.1 Áp dụng điểm d, i Khoản 2 Điều 171, Điều 17 và Điều 58, điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt: Võ Hoàng T 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù . Thời hạn tù tính từ ngày 06/3/2024.

3. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị hại em Trần Đào Minh T3 và người đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu bị cáo bồi thường trách nhiệm dân sự.

4. Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

  • + Giao trả 01 điện thoại di động hiệu Redmi 9T màu cam; 01 áo khoác dài tay màu xám có in nhiều chữ LV cho Trịnh Thái T1;

6

+ Giao trả 01 điện thoại di động hiệu Oppo A17K, màu xanh; 01 áo sơ mi dài tay, màu trắng cho Võ Hoàng T.

+ Giao trả 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario 125 màu đen không có biển số, số máy JA69E5014999, số khung MHIJA4659RK 017113 cho bà Trần Thị L.

(Tài sản giao trả được ghi trong Lệnh nhập kho vật chứng số 733 ngày 12/3/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố T)

5. Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Trịnh Thái T1 và Võ Hoàng T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án. Người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án NDTP.HCM;
  • - Viện KSND TP.HCM;
  • - Viện KSND thành phố Thủ Đức;
  • - Công an thành phố Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS thành phố Thủ Đức;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Bùi Viết Nghiêm

7

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 589/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm về tội cướp giật tài sản

  • Số bản án: 589/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về Tội Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 557/2024/HS-ST ngày 24 tháng 10 năm 2024,
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger