Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 588/2024/HS-PT

Ngày: 19/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Nhã
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Văn Thành
Ông Trần Đức Hiếu
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Huy - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trần Thúy Bình - Kiểm sát viên

Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 413/2024/TLPT-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Lê Thành L do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2024/HSST ngày 27/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội.

Bị cáo có kháng cáo:

Lê Thành L, sinh ngày 28/10/2005; giới tính: nam; ĐKHKTT: thôn A, xã N, huyện P, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: học sinh; trình độ học vấn 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H và bà Trần Thị H1; vợ con, chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

Ngoài tra, trong bản án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo; không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 28/12/2022, do có mâu thuẫn từ trước nên sau khi tan học, Phí Đăng T bị Dương Anh K gọi vào trong nhà vệ sinh trường học để cho Đỗ Nhật A, Đỗ Hoành Minh H2, Đào Khánh T1, Đào Trọng K1 dùng chân tay không đánh T. Nhóm Nhật A, H2, T1, K1 còn dọa buổi chiều khi tan học sẽ tiếp tục đánh T và Lê Thành L là bạn học cùng lớp với T. Ngay sau khi bị đánh thì T kể cho Lê Thành L biết việc vừa bị nhóm Nhật A, H2, T1, K1 đe dọa đánh T và L vào buổi chiều cùng ngày sau khi tan học. Do đó, sau khi tan học buổi sáng trở về nhà thì L chuẩn bị sẵn một con dao (loại dao bấm) mang đi đến trường với mục đích để phòng thân, nếu bị đánh thì có hung khí chống trả. Về phía T, do sợ bị đánh nên T có nhờ Nguyễn Anh Đ đứng ra giàn xếp, hòa giải hộ T. Đ đồng ý nên có nhắn tin cho Trần Mỹ Lệ Q nhờ Q báo tin hẹn gặp nhóm của Dương Anh K để nói chuyện giảng hòa cho T ở cổng trường THPT N1 vào chiều ngày 28/12/2022 sau khi tan học. Chị Q có kể cho Đỗ Công D biết về việc Đ nhờ. Đỗ Công D báo tin cho nhóm Nhật A, H2, T1, K1 biết. Sau đó Nhật A rủ Trần Anh H3 và Nguyễn Ngọc T2; H3 rủ thêm Nguyễn Chí C. Nguyễn Chí C rủ Trần Văn C1 và Đỗ Đức D1; Trần Văn C1 rủ Quách Văn S. Còn Nguyễn Văn Đ1, tình cờ đến cổng trường đón bạn và tham gia.

Đến khoảng 17 giờ 15 phút cùng ngày. Ngay sau khi tan học thì Lê Thành L cùng Phí Đăng T đi ra đứng trước cổng trường đợi xem nhóm dọa đánh T, L có đến như T nói không. Cùng lúc này thì Nguyễn Sinh H4, Nguyễn Trọng K2, Nguyễn Văn D2 trên đường đi học từ trường THPT H5 về nhà đi ngang qua cổng trường THPT N1 thì H4 được L gọi lại. L có kể cho H4 nghe về việc bị nhóm thanh niên trong trường dọa đánh, L có rủ H4 ở lại cùng L, nếu L bị quây đánh thì H4 giúp L đánh trả. H4 đồng ý và có rủ thêm K2 và D2 ở lại cùng tham gia. Nhóm Long, H4, D2, K2, T đứng đợi nhóm Nhật A, H2, K1 trước cửa nhà dân đối diện trường THPT N1. Lúc này nhóm nam thanh niên gồm: Nguyễn Ngọc T2, Đỗ Đức D1, Đỗ Nhật A, Đỗ Hoành Minh H2, Trần Văn C1, Trần Anh H3, Nguyễn Văn Đ1, Quách Văn S, Dương Anh K, Nguyễn Chí C đang tụ tập ở quán nước của bà Đỗ Thị N, sinh năm1979, trú tại Thôn H, xã N, huyện P, TP Hà Nội, cách cổng trường THPT N1 khoảng 50 mét để đợi gặp Nguyễn Anh Đ nói chuyện hòa giải mâu thuẫn. Sau khi tan học buổi chiều thì Đ nhắn tin cho Đỗ Đức D1 là Đ sẽ không đến để nói chuyện hòa giải việc của T nữa. Thấy Đ nhắn tin như vậy thì cả nhóm định ra về thì nhóm Đào Khánh T1, Đào Trọng K1, Đỗ Công D sau khi tan học có đi ra quán bà N để tụ tập cùng nhóm Đỗ Nhật A thì nhìn thấy L, T, H4, D2, K2 đang đứng ở cổng trường nên T1, K1 có nói với cả nhóm Đỗ Nhật A là “Bọn nó đang đứng ở cổng trường”. Dứt lời thì cả nhóm gồm T2, S, Đ1, K1, Nhật A, T1, H3, Đỗ Đức D1, H2, Trần Văn C1, Đỗ Công D, K đi ra ngoài đường (chỉ có Nguyễn Chí C vẫn ở lại trong quán) nhìn về phía cổng trường thì thấy nhóm L, T, H4, D2, K2 ở đó nên cả nhóm đi bộ về phía cổng trường rồi đi đến đứng cạnh nhóm L. Thấy nhóm T2, K1, Nhật A đi đến thì L có hỏi “giờ chúng mày muốn thế nào” thì bất ngờ T2 lao vào dùng tay không đấm 1-2 cái trúng mặt L. L bị đánh thì cúi khom người xuống đồng thời lúc này tay phải cầm sẵn dao đút trong túi áo lôi ra đâm trúng vào vùng bụng T2. Cùng lúc đó thấy L bị đánh thì H4 đứng bên trái T2 lao vào, dùng tay không đấm T2 1-2 cái trúng vào mặt và vai. Sáng đứng cạnh đó lao vào dùng chân, tay không đấm đá trúng nhiều cái vào người, đầu H4. K2 thấy H4 bị đánh thì lao tới dùng tay không đấm nhiều cái trúng vào mặt, đầu Sáng. Đ1 dùng tay không đánh K2 rồi cùng S dồn đánh H4, K2 đến trước cửa hàng bán giày dép của chị Cấn Mai T3 ở đối diện cổng trường. Nhật A và T1 lao tới dùng tay không đánh D2. D2 dùng tay không đánh trả Nhật A và T1 thì ngay sau đó có thêm K1, H2, H3 lao vào cùng Nhật A và T1 xúm lại dùng tay không đánh trúng nhiều cái vào vùng đầu, lưng, mặt D2. T thấy đánh nhau thì bỏ chạy. Đỗ Đức D1 có lao vào dùng chân tay không đấm L thì bị L cầm dao bằng tay phải đâm trúng một cái vào bụng D1. Tiếp đó L thấy D2 đang bị Nhật A, T1, K1, H2, H3 quây đánh nên có cầm dao trên tay phải lao tới, dùng hai tay xô đẩy và đâm một cái trúng vào bụng T1, đẩy nhóm đang đánh D2 lùi ra xa. Sau đó L thấy H4 và K2 đang bị đánh thì lao tới để giải vây. Nhóm Sáng, Đ1 thấy L lao tới thì lùi lại không đánh H4, K2 nữa. Ngay sau đó thì L đi về phía chợ N2 rồi bỏ đi về. Còn H4, D2, K2 vẫn đứng ở trước cửa hàng bán giày dép nhà chị T3. Sau khi biết tin T2, T1, Đỗ Đức D1 bị đâm thì Trần Văn C1, Sáng, Đỗ Đức D1, Đ1 có đi lại chỗ nhóm H4, D2, K2 và hỏi ai là người dùng dao đâm thì H4 trả lời không biết. Lập tức H4 bị Trần Văn C1, S, Đỗ Đức D1, Đ1 lao tới dùng chân tay không đấm đá nhiều cái trúng vào vùng mặt, lưng, bụng. Đ1 dùng tay không tát trúng một cái vào mặt D2. Sau khi bị đánh thì H4, D2, K2 sợ nên trốn vào trong cửa hàng bán giày dép nhà chị T3. Nhóm Trần Văn C1, S, Đỗ Đức D1, Đ1 đứng ngoài cửa quán chửi, đe dọa rồi sau đó bỏ đi. Đợi đến khi Công an xã N đến thì K2, D2 đưa H4 đi ra trạm y tế xã N sơ cứu vết thương do chảy máu vùng đầu. Về phía L, sau khi bỏ đi thì có cất lại dao vào trong túi quần bên phải đang mặc rồi quay người đi về phía đình H, xã N. L vừa rời đi thì thấy nhóm Nhật A đuổi theo nên L bỏ chạy và trốn vào trong Đình Hương V. Đợi đến khi nhóm Nhật A bỏ đi thì L mới ra về. Trên đường về nhà thì L có đi đến cầu S và ném bỏ con dao bấm xuống sông Đ rồi mới đi về nhà, ném hướng nào, vị trí cụ thể L không để ý nên không nhớ rõ.

Hậu quả:

  • - Nguyễn Sinh H4 bị 02 vết thương vùng chẩm đầu, kích thước mỗi vết thương 1 cm.

  • - Nguyễn Ngọc T2 bị thương tích ở thành bụng vùng thượng vị dưới mũi ức khoảng 3 cm, chiều dài vết thương khoảng 2cm, đứt cân cơ thành bụng, thấu ổ bụng gây rách gan trái dài khoảng 1,5 cm.

  • - Đào Khánh T1, sinh năm 2007, trú tại: Thôn F, xã T, huyện P, TP Hà Nội bị một vết thương hạ sườn phải kích thước 1,5 cm.

  • - Đỗ Đức D1, sinh năm 2006, trú tại: Thôn E, xã T, huyện P, TP Hà Nội bị một vết thương thành bụng, vùng thượng vị, dưới mũi ức, kích thước dài 02 cm, rách cân cơ thành bụng, không thông ổ bụng.

Cơ quan điều tra đã tiến hành ra quyết định trưng cầu giám định thương tích đối với Nguyễn Ngọc T2, Đỗ Đức D1, Đào Khánh T1, Nguyễn Sinh H4 để xác định thương tích của những người trên làm căn cứ giải quyết vụ việc theo quy định pháp luật. Sau khi được cơ quan điều tra giải thích quyền và nghĩa vụ của người bị thương tích thì những người bị thương tích là các anh Nguyễn Ngọc T2, Đỗ Đức D1, Đào Khánh T1, Nguyễn Sinh H4 kiên quyết từ chối giám định thương tích đồng thời có đơn xin rút lại đề nghị giải quyết thương tích của mình, cam kết sẽ không có thắc mắc hay đề nghị gì về việc bị người khác gây thương tích trong sự việc nêu trên.

Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm con dao mà Lê Thành L sử dụng làm hung khí nhưng không thu giữ được.

Quá trình điều tra, Lê Thành L đã bồi thường cho Nguyễn Ngọc T2 số tiền 30.000.000 đồng. Đỗ Đức D1, Đào Khánh T1, Nguyễn Sinh H4 không yêu cầu đề nghị bồi thường gì

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2024/HSST ngày 27/3/2024, Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội đã quyết định:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Lê Thành L 15 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với 06 bị cáo khác; quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 05/4/2024, bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm quy kết.

  • - Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội: Kháng cáo của các bị cáo trong hạn luật định nên được chấp nhận về hình thức. Đủ căn cứ quy kết bị cáo phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Sau khi phân tích, đánh giá nguyên nhân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Kháng cáo của bị hại trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Lê Thành L khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ được tóm tắt nêu trên, bị cáo thừa nhận bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt là đúng người, đúng tội, không oan. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với các chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện huyện Phúc Thọ xử phạt bị cáo về tội “Gât rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Giai đoạn điều tra, bị cáo đã bồi thường anh Nguyễn Ngọc T2 30.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật nơi công cộng nên việc áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là cần thiết. Tuy nhiên, theo quy định pháp luật, đường lối xử lý đối với người chưa thành niên là cần tạo điều kiện tốt nhất để họ phát triển toàn diện về thể chất cũng như tinh thần, chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm. Với trường hợp của Lê Thành L, bị cáo chỉ thực hiện hành vi phạm tội sau khi bị nhóm bị cáo Nhật A đánh, hành vi của nhóm Nhật A là nguyên nhân chính xảy ra vụ án; khi phạm tội, bị cáo mới 17 năm 02 tháng tuổi và là học sinh, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, đã ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Với các căn cứ như trên, Hội đồng xét xử nhận thấy không cần thiết phải cách ly Lê Thành L khỏi xã hội, việc cho bị cáo tự cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương đã đủ tác dụng giáo dục, đồng thời tạo điều kiện để bị cáo có thể tiếp tục học tập, tu dưỡng trở thành công dân có ích.

[3] Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Lê Thành L 15 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

    Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện P, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Căn cứ Điều 136, Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án.

    Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND Tp. Hà Nội;
  • - TAND huyện Phúc Thọ;
  • - VKSND huyện Phúc Thọ;
  • - Công an huyện Phúc Thọ;
  • - Chi cục THADS huyện Phúc Thọ;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HSVA; VP;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Nhã

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 588/2024/HS-PT ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự phúc thẩm (vụ án gây rối trật tự công cộng)

  • Số bản án: 588/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Vụ án Gây rối trật tự công cộng)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thành L Gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger