|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 587/2024/DS-PT
Ngày: 24 và 31-7/2024
V/v: “Tranh chấp di sản thừa kế, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Phan Tô Ngọc |
| Các thẩm phán: | Ông Nguyễn Văn Minh |
| Ông Phạm Trí Tuấn |
- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Thu Phương – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 24, 31 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 891/2023/TLPT-DS ngày 25 tháng 12 năm 2023 về việc “ Tranh chấp di sản thừa kế, yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 49/2023/DS-ST ngày 27 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 944/2024/QĐ- PT ngày 08 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Minh T, sinh năm 1956 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Bị đơn: Anh Trần Thanh H, sinh năm 1970
Đại diện: Bà Trần Thị D (có mặt)
Địa chỉ: Ấp Đ, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh, do ông Nguyễn Văn H1, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện L1 đại diện (vắng mặt).
Địa chỉ: Khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
-
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T, do ông Trần Văn H2, Giám đốc làm đại diện.
Địa chỉ: Số D, đường M, Khóm C, Phường F, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
Người đại diện hợp pháp của Trần Văn H2: Ông Nguyễn Minh T1, Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T “Theo văn bản ủy quyền ngày 20/02/2023” (vắng mặt).
-
Ngân hàng Thương mại Cổ phần K, do ông Trần Ngọc M, Tổng Giám đốc làm đại diện.
Địa chỉ: Số D, đường P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện hợp pháp của Tổng Giám đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phần K: Bà Lê Thị Thúy V, Chuyên viên Xử lý nợ “Theo văn bản ủy quyền ngày 03/02/2023" (có mặt).
- Bà Trần Thị D, sinh năm 1954 (có mặt)
- Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1991 (vắng mặt)
- Anh Lê Minh Đ, sinh năm 1991 (có mặt)
- Bà Trần Thị P, sinh năm 1951 (vắng mặt)
-
Anh Trần Minh T2, sinh năm 1981 (vắng mặt)
Địa chỉ: Cùng ấp Đ, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
-
Bà Trần Ngọc R, sinh năm 1964 (có mặt khi xử, vắng mặt khi tuyên án).
Địa chỉ: Ấp X, xã P, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 03 tháng 10 năm 2017, đơn khởi kiện bổ sung các ngày 28/5/2019, 20/8/2020, 03/11/2020 và 24/02/2023; các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Trần Minh T trình bày: Cha mẹ của ông tên cụ Trần Văn C1 (Chết năm 2004) và cụ Nguyễn Thị T3 (Chết năm 2016) có tất cả 06 người con chung, gồm: (1) Trần Thị P, (2) Trần Thị D, (3) Trần Minh T, (4) Trần Ngọc R, (5) Trần Văn L (Đã chết, không có vợ, con), (6) Trần Văn D1 (Đã chết, không có vợ, con). Lúc sinh thời, cụ C1 và cụ T3 có tạo lập được diện tích đất 1.190m², thửa số 117, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại ấp Đ, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Đến năm 2004 cụ C1 chết, nên cụ T3 làm thủ tục nhận thừa kế toàn bộ thửa đất mà không có sự đồng ý của ông. Đến năm 2007, Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ T3. Ngày 27/11/2007, cụ T3 lập di chúc để cho anh Trần Thanh H được hưởng toàn bộ diện tích đất và căn nhà tình nghĩa gắn liền với đất. Sau đó, anh H tiếp tục làm thủ tục tách thửa số 117 thành 03 thửa, gồm: Thửa số 36, diện tích 534,5m²; thửa số 103, diện tích 420,9m²; thửa số 110, diện tích 161,4m², cùng tờ bản đồ số 43. Nay, ông làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết chia thừa kế theo pháp luật cho ông được hưởng một suất thừa kế bằng hiện vật, với diện tích đất là 297,5m², thửa số 36 và hưởng căn nhà tình nghĩa, 01 tủ thờ, 01 bàn dài bằng cây Gõ đen. Đồng thời, yêu cầu Tòa án giải quyết hủy “Tờ di chúc” của cụ C1 ngày 21/5/2004, hủy “Tờ di chúc” của cụ T3 ngày 27/11/2007; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp cho anh H ngày 16/01/2018 đối với thửa số 36 và thửa số 110; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho cụ T3 ngày 28/01/2013 đối với thửa số 103.
Theo bị đơn anh Trần Thanh H trình bày: Anh thừa nhận nguồn gốc đất, có diện tích đất 1.190m², thửa số 117, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại ấp Đ, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh, cùng với căn nhà tình nghĩa gắn liền với đất là của ông bà ngoại anh (Cụ C1 và cụ T3). Nhưng anh sống chung cùng với cụ C1 và cụ T3 từ nhỏ nên hai cụ lập di chúc để toàn bộ tài sản này cho anh. Sau đó, anh làm thủ tục tách thửa đất này thành 03 thửa như ông T trình bày là đúng. Trong 03 thửa đất, anh tặng cho mẹ ruột tên bà Trần Thị P 02 thửa (Thửa số 103 và thửa số 110) và bà P đã xây dựng căn nhà ở trên thửa số 103. Còn lại thửa số 36, do anh đang quản lý, sử dụng. Vì vậy, anh không đồng ý chia thừa kế theo yêu cầu khởi kiện của ông T.
Theo đơn khởi kiện ngày 28/3/2023 của người đại diện theo pháp luật của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K và các lời khai chị Lê Thị Thúy V trong quá trình giải quyết vụ án: Ngày 22/6/2020, bà Trần Thị P có dùng tài sản là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 103 và thửa số 110 thế chấp tại Ngân hàng để bảo lãnh cho anh Lê Minh Đ và chị Nguyễn Thị C vay tiền vốn tại Ngân hàng bằng 160.000.000 đồng (Một trăm sáu mươi triệu đồng). Tuy nhiên, sau khi vay tiền thì anh Đ và chị C không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng, mặc dù Ngân hàng đã thông báo, nhắc nhở nhiều lần. Vì vậy, Ngân hàng làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Đ và chị C có nghĩa vụ trả tiền nợ gốc cho Ngân hàng bằng 160.000.000 đồng (Một trăm sáu mươi triệu đồng), tiền lãi quá hạn bằng 68.281.644 đồng (Sáu mươi tám triệu hai trăm tám mươi mốt nghìn sáu trăm bốn mươi bốn đồng) và tiền lãi kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi trả xong nợ. Trường hợp anh Đ và chị C không trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu kê biên, phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Theo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị D và là người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị P trình bày: Nguồn gốc đất, có diện tích 1.190m², thửa số 117, tờ bản đồ số 11, cùng với căn nhà tình nghĩa là tài sản của cha mẹ bà (Cụ C1 và cụ T3). Sau đó, hai cụ lập di chúc để toàn bộ tài sản cho anh H và anh H làm thủ tục tách thửa và tặng cho bà Trần Thị P thửa số 103 và thửa số 110. Bà P đã xây dựng căn nhà ở; đồng thời, bà P bảo lãnh cho anh Đ và chị C vay tiền tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần K. Vì vậy, đề nghị Tòa án giải quyết không chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của ông T.
Tại bản án số 01/2021/DS-ST, ngày 23-02-2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh đã quyết định:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Minh T về việc yêu cầu anh Trần Thanh H và bà Trần Thị P trả các loại cây kiểng.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Minh T về việc yêu cầu chia thừa kế di sản của cụ Trần Văn C1 và cụ Nguyễn Thị T3.
Đình chỉ yêu cầu khởi kiện Ngân hàng Thương mại Cổ phần K và bà Trần Ngọc R.
Dành cho ông Trần Minh T khởi kiện một vụ kiện dân sự khác về việc tranh chấp tiền điện với anh Trần Thanh H.
Ngoài ra, bản án còn quyết định về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, chi phí định giá tài sản, về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử, ông Trần Minh T làm đơn kháng cáo bản án sơ thẩm.
Tại bản án số 343/2022/DS-PT, ngày 25-5-2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Trần Minh T.
Hủy toàn bộ bản án số 01/2021/DS-ST, ngày 23-02-2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh giải quyết lại vụ án.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 49/2023/DSST ngày 27-10-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh quyết định:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 1, khoản 2 Điều 147, khoản 2 Điều 157, khoản 1 Điều 161, khoản 2 Điều 165, khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 357, Điều 466, Điều 610, Điều 612, Điều 649, Điều 650, Điều 651, Điều 658 và Điều 660 của Bộ luật Dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 và khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 7 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Minh T về việc xin chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản của cụ Trần Văn C1 và cụ Nguyễn Thị T3.
- Công nhận cho anh Trần Thanh H được quyền sử dụng đất, thửa số 36, diện tích 534,50m² (Đất ở nông thôn 300m², đất trồng cây lâu năm 234,50m²), tờ bản đồ số 43, tọa lạc tại ấp Đ, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp cho anh Trần Thanh H ngày 16/01/2018.
-
Công nhận cho anh Trần Thanh H được quyền sở hữu các tài sản gắn liền với đất thửa số 36, gồm: Sân lót Đanl bê tông cốt thép, có diện tích là 21m²; căn nhà tình nghĩa, có diện tích là 36,5m².
Đồng thời, có nghĩa vụ quản lý nhà mồ, có diện tích đất là 68,70m² nằm trong diện tích 534,50m², thửa số 36, tờ bản đồ số 43.
-
Buộc anh Trần Thanh H có nghĩa vụ thanh toán giá trị di sản thừa kế cho ông Trần Minh T số tiền bằng 79.032.500 đồng (Bảy mươi chín triệu không trăm ba mươi hai nghìn năm trăm đồng).
Buộc anh Trần Thanh H có nghĩa vụ thanh toán giá trị di sản thừa kế cho bà Trần Ngọc R số tiền bằng 39.516.250 đồng (Ba mươi chín triệu năm trăm mười sáu nghìn hai trăm năm mươi đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Đối với các cây ông Trần Minh T đã trồng trên diện tích đất thửa số 36, ông Trần Minh T tự di dời đem về trồng trên phần đất của ông T.
- Công nhận cho bà Trần Thị P được quyền sử dụng đất, thửa số 103, diện tích 420,90m² và thửa số 110, diện tích 102,40m², đất trồng cây lâu năm, tờ bản đồ số 43, tọa lạc tại ấp Đ, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do Giám đốc Văn phòng Đ chi nhánh huyện T xác nhận chỉnh lý biến động đất đai cho bà Trần Thị P ngày 29/01/2018.
-
Công nhận diện tích đất 49m², thửa số 110, tờ bản đồ số 34, sử dụng làm lối đi chung trong thân tộc để ra vào nhà mồ, có tứ cận và kích thước:
- - Hướng Đông giáp diện tích đất còn lại của thửa số 110, kích thước 31,66 mét;
- - Hướng Tây giáp diện tích đất còn lại của thửa số 110, kích thước 46,97 mét;
- - Hướng Nam giáp bờ Kênh, kích thước 01 mét;
- - Hướng Bắc giáp đường Nhựa, kích thước 01 mét.
- (Phần ký hiệu C trên sơ đồ khu đất)
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện độc lập của người đại diện hợp pháp của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K.
-
Buộc anh Lê Minh Đ và chị Nguyễn Thị C có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K số tiền vốn bằng 160.000.000 đồng và số tiền lãi bằng 71.589.699 đồng. Tổng cộng số tiền vốn và số tiền lãi bằng 231.589.699 đồng (Hai trăm ba mươi mốt triệu năm trăm tám mươi chín nghìn sáu trăm chín mươi chín đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Trường hợp anh Lê Minh Đ và chị Nguyễn Thị C không trả số tiền vốn và số tiền lãi cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K thì người đại diện hợp pháp của Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự kê biên, bán đấu giá phát mãi tài sản trong phạm vi bảo lãnh của bà Trần Thị P để thu hồi nợ. Nhưng khi tổ chức kê biên, bán đấu giá phát mãi tài sản phải trừ diện tích đất sử dụng làm đường đi ra vào nhà mồ là 49m², thửa số 110 (Phần ký hiệu C trên sơ đồ khu đất).
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 07-11-2023, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Trần Ngọc R có kháng cáo với nội dung yêu cầu tòa án cấp phúc thẩm công nhận được nhận 280 m2 đất nằm trong thửa số 36, ông Trần Thanh H không có phần chia trong thừa kế này.
Ngày 08-11-2023, nguyên đơn ông Trần Minh T có đơn kháng cáo với nội dung yêu cầu tòa án cấp phúc thẩm cho ông được hưởng một cái tủ thờ và một cái bàn dài bằng gỗ mun; công nhận cho ông được hưởng quyền sử dụng đất với diện tích 297,5 m² nằm trong thửa đất số 36 và yêu cầu ông Trần Thanh H phải trả giá trị 45 tấm đal dài 1 m, ngang 0,5 m...
Ngày 09-11-2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh có quyết định kháng nghị số 03/QĐ-VKS-DS với nội dung kháng nghị một phần bản án dân sự sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp cao áp dụng khoản 2 Điều 308 sửa bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn ông Trần Minh T vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo và trình bày: Giữ nguyên những lời trình bày tại cấp sơ thẩm.
Ông sống với cha mẹ từ bé, đến năm 2008 mới tách ra riêng. Năm 2013 Trần Thanh H ra xã báo mất sổ hổ khẩu, làm lại sổ hộ khẩu không có tên ông và con.. H cố ý lập các di chúc trái pháp luật. H lãnh tiền liệt sỹ hàng tháng, sử dụng vào việc uống rượu. Cha mất ông T, bà D cùng mẹ lo mai tang. Mẹ chết thì ông và bà D lo mai tang hết hơn 15.000.000đ. Chị P, chị D, em R1 ủy quyền cho ông nhận tiền mai táng, được 19.000.000 đồng, sau khi trừ tiền mai táng 15.000.000đ, còn dư 4.000.000₫ ông đưa lại cho bà P giữ làm giỗ. H không hề bỏ tiền mai táng. Cấp sơ thẩm cho H hưởng 1 phần thừa kế là không đúng. Cấp sơ thẩm chỉ chia cho ông 79.032.500 đồng là không đúng. Ông yêu cầu nhận 297,5 m² thuộc thửa 36 có căn nhà tình nghĩa trên phần đất này để ông thờ cúng cha mẹ. Yêu cầu cho ông hưởng 01 tủ thờ và 01 bàn dài bằng gỗ mun để sử dụng vào việc thờ cúng. Yêu cầu H trả giá trị 46 tấm đan dài 1m, ngang 0,5 m.
Ông có 4 người, 02 trai, 02 gái, thừa nhận dã nhận gần 900 m2 đất mặt lộ như ghi nhận trong tờ di chúc ngày 21/05/2003. Tờ di chúc ngày 21/5/2004 ông ký không ký, thừa nhận cả hai bản di chúc là do bà Trần Thị T4, vợ ông viết. Ông và vợ ông đã ly hôn năm 2001. Đồng ý một phần với kháng nghị của Viện kiểm sát. Đề nghị cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm, chia di sản làm bốn phần. H về ở với cha mẹ ông từ năm 14 tuổi chứ không phải từ nhỏ như bà D trình bày.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Trần Ngọc R vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo và trình bày: giữ nguyên lời trình bày tại cấp sơ thẩm. Thống nhất với ý kiến của ông T về việc mai táng. Trần Thanh H nghiện rượu. Cấp sơ thẩm cho rằng H bỏ tiền mai táng là không đúng. Bà chưa hề được chia đất. Đề nghị chia đất như ý kiến của ông T. Xác nhận có ký tên trong di chúc Tờ di chúc ngày 21/5/2004
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Trần Thanh H là bà Trần Thị D trình bày: đề nghị bác kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
Trần Thanh H là cháu ngoại, ở với cha mẹ bà từ nhỏ, H là người lo chăm sóc cụ C1, cụ T3 khi già yếu, đồng ý với bản án sơ thẩm. Đề nghị không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị
Đại diện Ngân hàng TMCP K trình bày: đề nghị bác kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Không có ý kiến về kháng nghị của Viện Kiểm sát
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ Luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ Luật Tố tụng dân sự.
Về hình thức: kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh; đơn kháng cáo của ông Trần Minh T, bà Trần Ngọc R làm trong hạn luật định nên được chấp nhận.
Về nội dung: Bản án sơ thẩm xác định di chúc của cụ C1, cụ T3 không hợp pháp là có căn cứ. Tuy nhiên thửa đất 117 có diện tích 1.190 m² (nay là thửa 36, diện tích 534,5 m²; thửa số 103, diện tích 420,9 m²; thửa 110, diện tích 112,4 sau khi trừ lối đi vào mộ). Đây là di sản chưa chia. Cần chia theo pháp luật. Bà R chưa được cho đất mà được chia bằng bà D là không công bằng.
Phần diện tích 68,7 m² (phần A2, A3) thuộc một phần thửa 36 là đất nhà mồ. Cấp sơ thẩm không chia là có căn cứ nhưng tuyên giao cho ông Trần Thanh H quản lý là không hợp lý.
Phần diện tích 161,4 m² thuộc thửa 110 trừ lối đi vào nhà mồ có diện còn lại là 112,4 m² mà cấp sơ thẩm tuyên 102,4m² là không chính xác, cần sửa lại số liệu cho đúng.
Đề nghị chấp nhận kháng nghị, một phần kháng cáo của ông T, bà R, chia thừa kế theo hướng nhận định trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài tiệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về hình thức: kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh; đơn kháng cáo của ông Trần Minh T, bà Trần Ngọc R làm trong hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2]. Về tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND huyện T, Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T có đơn xin xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị C, anh Lê Minh Đ, bà Trần Thị P, anh Trần Minh T2 được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[3]. Về nội dung:
Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều thừa nhận thống nhất với nhau, cụ Trần Văn C1 (Chết năm 2004) và cụ Nguyễn Thị T3 (Chết năm 2016) có tất cả 06 người con chung, gồm: Trần Thị P, Trần Thị D, Trần Minh T, Trần Ngọc R, Trần Văn L (Chết không có vợ, con), Trần Văn D1 (C2 không có vợ, con). Như vậy, những người thừa kế theo pháp luật thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ C1 và cụ T3 còn lại là bà P, bà D, ông T và bà R.
Về tài sản bà cụ C1 và cụ T5 để lại là diện tích đất 1.190m², thửa số 117, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại ấp Đ, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh, cùng căn nhà tình nghĩa gắn liền với đất.
Xét kháng cáo của các đương sự, Hội đồng xét xử thấy:
[3.1] Đối với kháng cáo của ông Trần Minh T:
Tại tờ di chúc ngày 21/5/2004 của cụ C1 thể hiện nội dung: “Tôi sử dụng 3.400 m² đất- số tờ bản đồ 0011- số thửa 117 ở ấp Đ. Tôi đã cắt cho 04 cháu nội tôi miếng đất giáp lộ mà con ruột tôi đang đứng tên là: Trần Minh T chiết thửa 117 - ra thửa 908 – 790m² TQ...
Và ngày 12-11-2022 chấp thuận số 63 – CT – UBH của UBND Huyện T, cắt cho con tôi tên Trần Thị D – sinh năm 1954 miếng đất chiết ra từ thửa 117 ra thửa 918 – Diện tích = 1170 m²...
Vậy là số đất còn lại là 1.440 m² về sau tôi để lại cho cháu ngoại tôi tên Trần Thanh H...”
Tờ di chúc này có chữ ký của Trần Ngọc R2, Trần Thị D, Trần Minh T, Trần Thanh H. Tuy Trần Minh T cho rằng không ký tờ di chúc này, nhưng Theo kết luận giám định số 09/KLGĐ, ngày 22/01/2021 của Phòng K1 Công an tỉnh T “Chữ ký và chữ viết Trần Minh T trên tờ di chúc ngày 21/5/2004 (Ký hiệu A) so với chữ ký, chữ viết Trần Minh T trên các tài liệu mẫu so sánh (Ký hiệu M1, M2,...M10) do cùng một người ký, viết ra” (BL 469, 486, 487).
Đến ngày 27/11/2007, cụ T3 tiếp tục lập “Tờ di chúc”, có nội dung “...Tôi tự nguyện lập di chúc này để lại cho cháu ngoại tôi tên Trần Thanh H, sinh năm 1970, diện tích đất 1.190m², thửa số 117, tờ bản đồ số 11, trong đó đất ở nông thôn 300m², đất trồng cây lâu năm 890m²; 01 căn nhà tình nghĩa, tài sản và các loại vật dụng dùng trong nhà...” (BL 470).
Như vậy tuy Di chúc của cụ C1, cụ T3 không phù hợp quy định về hình thức, nhưng thể hiện ý chí rõ ràng, cụ C1 đã chia đất cho các cháu nội (con ông T), cho bà D, phần còn lại di chúc toàn bộ cho Trần Thanh H. Di chúc của cụ T3 cũng để toàn bộ phần đất còn lại diện tích 1.190 m² thuộc thửa số 117 tờ bản đồ số 11 cho Trần Thanh H.
Việc cấp sơ thẩm giao toàn bộ diện tích đất đang tranh chấp cho ông H tiếp tục quản lý sử dụng là có căn cứ.
Hơn nữa, theo tờ tường trình ngày 29/02/2013 của ông T, ông T ghi “Hôm nay, tôi cùng gia đình đồng ý tách thửa cho chị Trần Thị P diện tích đất 234m² (chiều ngang 09 mét, chiều dài 26 mét). Số còn lại là 956m² để mẹ tôi đứng tên, nếu mẹ tôi có 100 tuổi già, theo ông bà, tôi là con trai được quyền thừa kế thờ cúng tổ tiên, ông bà...” (BL 199). Nay, ông T khởi kiện yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật cả thửa số 103 và thửa số 110 mà bà P đã xây dựng nhà ở, là không đúng với ý chí trước đó của ông T, không đúng di nguyện của cụ C1, cụ T3 và không công bằng giữa ông T với bà P về phần hưởng tài sản của cụ C1 và cụ T3. Cấp sơ thẩm đã chia một phần di sản, buộc ông Trần Minh H3 thanh toán 79.032.500 đồng là có căn cứ, đúng pháp luật. Ông T kháng cáo cho rằng ông là người trả tiền mai tang nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh, Việc chia di sản thừa kế như cấp sơ thẩm đã tuyên là có lợi cho ông T, bà R so với ý nguyện của người để lại di sản là cụ C1, cụ T5.
Về kháng cáo đòi nhận 01 tủ, 01 bàn là di sản thừa kế và giá trị các tâm Đal bê tông: Phần các tâm đal đã được định giá trong trong biên bản định giá ngày 15/6/2023, đã được chia giá trị cho các đồng thừa kế. Đối với tủ và bàn, ông T không cung cấp được chứng cứ chứng minh là di sản thừa kế.
[3.2] Đối với kháng cáo của bà Trần Ngọc R: Tương tự như nhận định trên, bà R có ký trong Tờ di chúc ngày 21/05/2004 của cụ C1. Cấp sơ thẩm chấp nhận chia 01 phần di sản cho bà R tương đương 79.032.500 đồng. Tuy nhiên bà R tự nguyện cho ông H3 ½ giá trị di sản nên buộc Trần Thanh H thanh toán 39.516.250 đồng là có lợi hơn so với ý nguyện của cụ C1, cụ T3. Vì vậy cũng không có cơ sở chấp nhận kháng cáo.
[3.3] Đối với kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Trà Vinh và ý kiến của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh:
Về việc phân chia di sản của cụ C1 cụ T5, như đã nhận định trên, cấp sơ thẩm chia di sản cho ông T, bà R là đã có lợi hơn ý nguyện của cụ C1, cụ T5 nên không có căn cứ chấp nhận kháng nghị này.
Đối với kháng nghị yêu cầu xem xét về diện tích nhà mồ và phần diện tích làm lối đi vào nhà mồ:
Nhận thấy, theo sơ đồ khu đất đính kèm bản án sơ thẩm (đính kèm công văn số 581/VPĐKĐĐ-KTĐC ngày 06/7/2023 thì:
- - Phần nhà mồ có diện tích 68,70m² nằm gồm các thửa phân chiết A2 có diện tích 67,3 m² thuộc thửa 36; A3 có diện tích 0,4 m² thuộc thửa 110; A4 có diện tích 1,0 m² thuộc thửa 110 cùng tờ bản đồ số 43. Nằm trong phần diện tích đất đã cấp cho ông Trần Thanh H, bà Trần Thị P. Cấp sơ thẩm xác định toàn bộ diện tích nhà mồ thuộc thửa 36 tờ bản đồ số 43 là chưa chính xác.
- - Phần diện tích thửa 110 theo sơ đồ bao gồm các thửa phân chiết: A3 có diện tích 0,4 m², A4 có diện tích 1,0 m², A5 diện tích 7,8 m², A6 diện tích 0,8 m², B1 diện tích 3,0 m², B2 diện tích 10,1 m², B4 diện tích 89,3 m², C diện tích 49 m². Tổng diện tích là 161,4 m². Sau khi trừ diện tích lối đi phần C, 49m² (bao gồm cả A3, A4) còn lại 111 m².
Do đó, cần chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉn Trà Vinh, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát Nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. Sửa bản án sơ thẩm. Cụ thể phần diện tích còn lại công nhận cho bà P, thuộc thửa 110 là 111 m². Đồng thời điều chỉnh phần diện tích nhà mồ trong phần quyết định đối với ông Trần Thanh H. Đối với phần nhà mồ A3, A4 thuộc thửa 110: phần này cấp sơ thẩm vừa ghi nhận giao cho ông H quản lý, vừa ghi nhận làm lối đi chung. Do phần diện tích này thuộc phần C, thửa 110 đã ghi nhận trong lối đi chung, cần điều chỉnh ra khỏi phần công nhận cho ông Trần Thanh H.
Việc ghi nhận tứ cận của cấp sơ thẩm cũng chưa chính xác (hướng tây lối đi chung không giáp thửa 110) và không cần thiết vì đã có sơ đồ kèm theo.
Về việc giao diện tích nhà mồ cho Trần Thanh H: Diện tích đất nhà mồ nằm trong phần diện tích đất nông nghiệp, không đủ điều kiện tách thửa, lúc sinh thời, cụ C1, cụ T5 sống cùng với Trần Thanh H, di nguyện giao phần diện tích đất còn lại cho Trần Thanh H trong đó có cả phần đất nhà mồ. Phần này ông T, bà R cũng không kháng cáo, không yêu cầu công nhận quyền quản lý sử dụng. Cấp sơ thẩm giao cho Trần Thanh H tiếp tục quản lý là có căn cứ.
Do đó, cần bác kháng cáo của ông Trần Minh T, bà Trần Ngọc R, chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Trà Vinh.
[4]. Về án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Trần Minh T, bà Trần Ngọc R phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, ông T, bà R thuộc trường hợp người cao tuổi nên được miễn.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội,
- Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh;
- Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Minh T, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Trần Ngọc R, sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 49/2023/DSST ngày 27-10-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Minh T về việc xin chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản của cụ Trần Văn C1 và cụ Nguyễn Thị T3.
- Công nhận cho anh Trần Thanh H được quyền sử dụng đất, thửa số 36, diện tích 534,50m² (Đất ở nông thôn 300m², đất trồng cây lâu năm 234,50m²), tờ bản đồ số 43, tọa lạc tại ấp Đ, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp cho anh Trần Thanh H ngày 16/01/2018.
-
Công nhận cho anh Trần Thanh H được quyền sở hữu các tài sản gắn liền với đất thửa số 36, gồm: Sân lót Đanl bê tông cốt thép, có diện tích là 21m²; căn nhà tình nghĩa, có diện tích là 36,5m².
Đồng thời, có nghĩa vụ quản lý nhà mồ, có diện tích đất là 67,3 m² thuộc thửa 36, tờ bản đồ số 43)
-
Buộc anh Trần Thanh H có nghĩa vụ thanh toán giá trị di sản thừa kế cho ông Trần Minh T số tiền bằng 79.032.500 đồng (Bảy mươi chín triệu không trăm ba mươi hai nghìn năm trăm đồng).
Buộc anh Trần Thanh H có nghĩa vụ thanh toán giá trị di sản thừa kế cho bà Trần Ngọc R số tiền bằng 39.516.250 đồng (Ba mươi chín triệu năm trăm mười sáu nghìn hai trăm năm mươi đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Đối với các cây ông Trần Minh T đã trồng trên diện tích đất thửa số 36, ông Trần Minh T tự di dời đem về trồng trên phần đất của ông T.
- Công nhận cho bà Trần Thị P được quyền sử dụng đất, thửa số 103, diện tích 420,90m² và thửa số 110, diện tích 111 m².
-
Công nhận diện tích đất 49m², thửa số 110, tờ bản đồ số 34, sử dụng làm lối đi chung trong thân tộc để ra vào nhà mồ, có tứ cận và kích thước:
(Phần ký hiệu C trên sơ đồ khu đất)
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện độc lập của người đại diện hợp pháp của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K.
-
Buộc anh Lê Minh Đ và chị Nguyễn Thị C có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K số tiền vốn bằng 160.000.000 đồng và số tiền lãi bằng 71.589.699 đồng. Tổng cộng số tiền vốn và số tiền lãi bằng 231.589.699 đồng (Hai trăm ba mươi mốt triệu năm trăm tám mươi chín nghìn sáu trăm chín mươi chín đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
-
Trường hợp anh Lê Minh Đ và chị Nguyễn Thị C không trả số tiền vốn và số tiền lãi cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K thì người đại diện hợp pháp của Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự kê biên, bán đấu giá phát mãi tài sản trong phạm vi bảo lãnh của bà Trần Thị P để thu hồi nợ. Nhưng khi tổ chức kê biên, bán đấu giá phát mãi tài sản phải trừ diện tích đất sử dụng làm đường đi ra vào nhà mồ là 49m², thửa số 110
(Phần ký hiệu C trên sơ đồ khu đất).
-
Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản: Buộc ông Trần Minh T phải chịu số tiền bằng 6.209.850 đồng (Sáu triệu hai trăm linh chín nghìn tám trăm năm mươi đồng), nhưng được trừ vào số tiền ông Trần Minh T đã nộp tạm ứng trước, nên không phải nộp tiếp.
Buộc anh Trần Thanh H phải chịu số tiền bằng 6.209.850 đồng (Sáu triệu hai trăm linh chín nghìn tám trăm năm mươi đồng), để hoàn trả cho ông Trần Minh T.
Buộc bà Trần Ngọc R phải chịu số tiền bằng 2.483.940 đồng (Hai triệu bốn trăm tám mươi ba nghìn chín trăm bốn mươi đồng), để hoàn trả cho ông Trần Minh T.
- Buộc anh Lê Minh Đ và chị Nguyễn Thị C phải chịu số tiền bằng 1.575.000 đồng (Một triệu năm trăm bảy mươi lăm nghìn đồng), để hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K.
- Về chi phí giám định: Buộc ông Trần Minh T phải chịu toàn bộ số tiền bằng 2.430.000 đồng (Hai triệu bốn trăm ba mươi nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền ông Trần Minh T đã nộp tạm ứng trước, nên không phải nộp tiếp.
-
Về án phí:
-
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho ông Trần Minh T. Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm cho ông Trần Minh T bằng 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng), theo biên lai thu số 0011723, ngày 20/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh.
Buộc anh Trần Thanh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm bằng 3.951.625 đồng (Ba triệu chín trăm năm mươi mốt nghìn sáu trăm hai mươi lăm đồng).
Buộc bà Trần Ngọc R phải chịu án phí dân sự sơ thẩm bằng 1.975.812 đồng (Một triệu chín trăm bảy mươi lăm nghìn tám trăm mười hai đồng).
Hoàn trả tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K bằng 5.268.000 đồng (Năm triệu hai trăm sáu mươi tám nghìn đồng), theo biên lai thu số 0016829, ngày 12/5/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Trà Vinh.
Buộc anh Lê Minh Đ và chị Nguyễn Thị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm bằng 11.579.485 đồng (Mười một triệu năm trăm bảy mươi chín nghìn bốn trăm tám mươi lăm đồng).
- - Về án phí dân sự phúc thẩm: ông Trần Minh T, bà Trần Ngọc R được miễn.
-
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Tô Ngọc |
|
Các thẩm phán
|
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Phan Tô Ngọc |
14
Bản án số 587/2024/DS-PT ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp di sản thừa kế, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 587/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp di sản thừa kế, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Minh T, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Trần Ngọc R; chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh, sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm.
