Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số 587/2023/DS-PT

Ngày 30/11/2023

V.v Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phan Nam
  • Các Thẩm phán:Ông Mai Anh Tài
  • Ông Điều Văn Hằng

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thanh Huyền, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội: Ông Phạm Ngọc Vỹ, Kiểm sát viên cao cấp;

Ngày 30 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội tiến hành xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 116/2023/TLPT-DS ngày 23/3/2023 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất” do có kháng cáo của nguyên đơn đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2023/DS-ST ngày 06/01/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 13051/2023/QĐ-PT ngày 13 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Trần Văn D, sinh năm 1968, vắng mặt;

Chị Đinh Thị H, sinh năm 1969, có mặt;

Đều trú tại: Phố T, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hòa Bình;

Người đại diện ủy quyền của nguyên đơn: Ông Dương Kim S, sinh năm 1975; trú tại: Số B, B, đường A, phường V, quận H, thành phố Hà Nội, theo Hợp đồng ủy quyền ngày 24/7/2023);

Bị đơn:Anh Nguyễn Hoàng S1, sinh năm 1971, vắng mặt;

Anh Nguyễn Hoàng L, sinh năm 1974, vắng mặt;

Đều trú tại: Phố N, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hòa Bình.

Người đại diện theo ủy quyền của anh S1, anh L: Chị Trịnh Thị T, sinh năm 1973; trú tại: Phố N, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hòa Bình, có mặt;

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Hòa Bình;
  • Địa chỉ: Phố H, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hòa Bình;
  • Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Văn K, Phó Chủ tịch UBND huyện L và ông Quách Khắc D1, Trưởng phòng Phòng Tài nguyên- Môi trường huyện L, có đơn xin xét xử vắng mặt;
  • - Ủy ban nhân dân thị trấn V, huyện L, tỉnh Hòa Bình;
  • Địa chỉ: Phố T, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hòa Bình;
  • Người đại diện theo ủy quyền: Bà Bùi Thị T1, Phó Chủ tịch UBND thị trấn V, có đơn xin xét xử vắng mặt;
  • - Ngân hàng N-Chi nhánh huyện L, tỉnh Hòa Bình;
  • Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Quang T2, Giám đốc, có mặt.
  • Bà Bùi Thị L1, sinh năm 1938, vắng mặt;
  • Anh Nguyễn Hoàng K1, sinh năm 1967, có mặt;
  • Chị Đinh Thị Thu H1, sinh năm 1979, có mặt;
  • Đều trú tại: phố N, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hòa Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và ý kiến trình bày trong quá trình giải quyết tại phiên tòa nguyên đơn trình bày:

Gia đình ông Đinh Trọng H2 khai phá sử dụng đất làm nhà ở phố D (nay là phố N), thị trấn V, huyện L, tỉnh Hòa Bình từ năm 1980. Năm 1985, bà Nguyễn Hoàng H3 đã vào mượn ông H2 phần đất giáp giếng nước để làm quán bán hàng nước đến năm 1988 thì không bán nữa và trả lại đất; sau đó, chị Đinh Thị H (con gái ông H2) tiếp tục sử dụng để bán hàng. Đến năm 1989, thực hiện đo đạc bản đồ giải thửa 299 của thị trấn V, ông H2 được quy chủ 02 thửa đất: Thửa đất số 64, tờ bản đồ số 4, diện tích 1155m² và thửa đất số 57, tờ bản đồ số 4, diện tích 596m². Ngày 20/10/1990, ông H2 được Ủy ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) tỉnh Hà Sơn Bình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là GCNQSD đất) với tổng diện tích là 1.751m² chia thành hai thửa đất, một thửa số 57, tờ bản đồ số 4, diện tích 596m² và thửa đất số 64, tờ bản đồ số 4, diện tích 1.155m², mục đích sử dụng ghi trên giấy chứng nhận là đất ở + vườn, thời hạn sử dụng lâu dài.

Năm 2002, ông H2 chuyển nhượng thửa đất số 64 cho vợ chồng con gái (chị Đinh Thị H và anh Trần Văn D); ngày 22/11/2002, UBND huyện L, tỉnh Hoà Bình cấp GCNQSD đất thửa 64, tờ bản đồ số 4, diện tích 1.155m² (gồm 400m² thổ cư, 755m² đất vườn), mang tên hộ anh Trần Văn D. Năm 2019, anh D, chị H có nghi ngờ diện tích sử dụng không đúng với diện tích ghi trong giấy, nên đã yêu cầu chính quyền xác định, giải quyết kết quả là 02 hộ anh Nguyễn Hoàng L và anh Nguyễn Hoàng S1 sử dụng và được cấp GCNQSD đất chồng lấn lên đất của anh D, chị H; nên anh D, chị H có đơn đến Tòa án yêu cầu giải quyết:

  • - Buộc 02 hộ anh Nguyễn Hoàng L và anh Nguyễn Hoàng S1 trả lại diện tích đất sử dụng không đúng, lấn sang phần đất của anh D, chị H.
  • - Huỷ, thu hồi các quyết định hành chính của UBND huyện L đã cấp GCNQSD đất cho anh Nguyễn Hoàng S1 thửa số 66a, tờ bản đồ số 18, diện tích 70m²; và cho anh Nguyễn Hoàng L thửa số 66, tờ bản đồ số 18, diện tích 48m²;
  • - Phục hồi nguyên trạng hình thể, ranh giới, diện tích đất đã cấp cho hộ anh Trần Văn D theo GCNQSD đất thửa 64, tờ bản đồ số 4, diện tích 1.155m² bao gồm 400m2 thổ cư và 755m² đất vườn.

Bị đơn anh Nguyễn Hoàng S1 và anh Nguyễn Hoàng L trình bày: Từ năm 1964, gia đình bị đơn chuyển theo Nhà máy Sắn từ T vào L và được nhà máy bố trí cho ở khu đất hiện nay; từ khu đất đó, bố mẹ 02 anh là ông Nguyễn Hoàng M và bà Bùi Thị L1 đã làm nhà và sinh sống ổn định từ đó đến nay. Năm 1980, ông Đinh Trọng H2 là hàng xóm liền kề có mượn phần đất của gia đình để đào giếng lấy nước ăn, bố mẹ 02 anh đồng ý; năm 1985, bà Nguyễn Hoàng H3 đã vào mượn phần đất giáp giếng nước để làm quán bán hàng nước, đến năm 1988 thì không bán nữa trả lại đất cho gia đình 02 ông, khi bà H3 nghỉ không bán quán nữa thì chị Đinh Thị H là con gái ông H2 tiếp tục mượn để bán hàng, bán được một thời gian thì mẹ 02 anh không cho mượn nữa và chị H đã trả lại quán.

Năm 1989, thực hiện đo đạc bản đồ giải thửa 299 của thị trấn V, ông Nguyễn Hoàng M được quy chủ tại thửa đất số 63, tờ bản đồ số 4, diện tích 1.533 m²; anh Nguyễn Hoàng K1 (anh trai 2 anh) được quy chủ tại thửa đất số 81, tờ bản đồ số 4, diện tích 542 m².

Năm 1990, UBND tỉnh H cấp GCNQSD đất thửa đất số 63, tờ bản đồ số 04, diện tích 1.533m² tại phố D, thị trấn V, mục đích sử dụng ghi trên giấy chứng nhận là đất ở + vườn cho ông Nguyễn Hoàng M; thửa đất số 81, tờ bản đồ số 04, diện tích 542m2 tại phố D, thị trấn V, mục đích sử dụng ghi trên giấy chứng nhận là đất ở + vườn cho anh Nguyễn Hoàng K1.

Năm 1992, ông H2 lấp giếng trả lại toàn bộ phần đất cho gia đình. Sau đó, anh K1 làm nhà trên phần đất đó, gia đình ông H2 không có ý kiến gì.

Năm 2000 thực hiện đo đạc địa chính chính quy của thị trấn V thửa đất số 63, tờ bản đồ số 4, diện tích 1.533 m² của ông M và thửa đất số 81, tờ bản đồ số 04, diện tích 542 m² của ông K1 (bản đồ 299) đo gộp thành 01 thửa đất số 73 tờ bản đồ 18, diện tích 2,271,1 m² quy chủ bà Bùi Thị L1. Năm 2003, mẹ 02 anh cho anh K1 làm nhà dịch lên phía trước. Ngày 21/11/2005, UBND huyện L cấp GCNQSD đất cho bà L1 thửa số 73, tờ bản đồ số 18, diện tích 1.759,1m²; anh Nguyễn Hoàng K1 thửa số 66B, tờ bản đồ số 18, diện tích 121,6m²; anh Nguyễn Hoàng S1 thửa số 66A, tờ bản đồ số 18, diện tích 70m²; và anh Nguyễn Hoàng L thửa số 66, tờ bản đồ số 18, diện tích 48m².

Hai anh cho rằng khi UBND huyện L cấp GCNQSD đất cho ông H2 đã không xem xét thực tế các hộ đang sử dụng dẫn đến khi chuyển nhượng cho vợ chồng anh D, chị H thì diện tích chuyển nhượng không đúng với diện tích thực tế các hộ đang sử dụng. Khi ông H2 còn sống và cả sau khi ông H2 chết (năm 2008) thì gia đình 2 anh và gia đình ông H2 vẫn sử dụng đúng phần đất của mình, không có tranh chấp gì cho đến khi chị H và anh D khởi kiện vụ án.

Ngày 04/11/2021, bị đơn có yêu cầu phản tố đề nghị UBND huyện L điều chỉnh lại GCNQSD đất đã cấp cho hộ ông Trần Văn D cho đúng diện tích đất đang sử dụng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

- Bà Bùi Thị L1 và anh Nguyễn Hoàng K1 có lời khai thống nhất như lời khai của anh Nguyễn Hoàng L, anh Nguyễn Hoàng S1.

- UBND thị trấn V có Công văn số 31 ngày 22/3/2022 trả lời cho Tòa án có nội dung: Gia đình ông Nguyễn Hoàng M và ông Đinh Trọng H2 sử dụng thửa đất từ năm 1986, sau khi Nhà máy sắn huyện L chuyển lên địa điểm mới tại xóm N, xã X, huyện L. Hai gia đình được Nhà máy sắn giao lại cho thửa đất dễ làm nhà và canh tác sản xuất ổn định không có tranh chấp về đất đai. Theo bản đồ 299 được đo đạc năm 1989, năm 1990, hộ ông Nguyễn Hoàng M được cấp GCNQSD đất cho thửa đất số 63, tờ bản đồ số 04, diện tích 1533m²; hộ ông Đinh Trọng H2 được cấp GCNQSD đất cho thửa đất số 64, tờ bản đồ số 4, diện tích: 1155 m².

+ Về thửa đất của ông Đinh Trọng H2: Năm 2002, anh D nhận chuyển nhượng của ông H2 thửa đất số 64 và đã được cấp GCNQSD đất ngày 22/11/2002. Khi cán bộ địa chính của thị trấn V và cán bộ chuyên viên của Phòng Địa chính nông nghiệp xuống thực địa thẩm định trích đo để làm hồ sơ chuyển nhượng đã không đo đạc thực địa mà trình sao nguyên vẹn thửa đất theo sơ đồ trên giấy chứng nhận từ ông Đinh Trọng H2 sang ông Trần Văn D, nên đã dẫn tới hiện trạng sử dụng thực tế và trên giấy tờ không trùng khớp theo ranh giới sử dụng của hai gia đình. Đến năm 2019, chị H tách đất cho em gái mới phát hiện phần diện tích đất của nhà anh Nguyễn Hoàng L và anh Nguyễn Hoàng S1 nằm trồng lên giấy chứng nhận của nhà chị nên đã làm đơn để xác minh lại thửa đất.

+ Về thửa đất của ông Nguyễn Hoàng M: Sau khi ông M chết, theo quy định các thành viên trong gia đình chỉ được thừa kế thửa đất của ông M là thửa đất số 63; tờ bản đồ số 04, diện tích 1.533m², còn thửa đất số 66, diện tích 391,6m² được đo đạc theo hiện trạng sử dụng năm 2000 chưa được cấp giấy chứng nhận và đang bị đo trồng nên thửa đất của nhà ông H2 năm 2002 đã chuyển nhượng cho anh D. Theo quy định của luật đất đai thì trình tự thủ tục như vậy là sai; nếu thửa đất số 66, tờ bản đồ số 18, diện tích 391,6m² được công nhận cho hộ bà Bùi Thị L1, hoặc anh Nguyễn Hoàng K1, sau đó mới được chia tách thửa cho các con, nhưng khi làm thủ tục phân chia di sản thừa kế, cán bộ đã gộp cả thửa của anh K1 được quy chủ năm 2000 và thửa đất cấp năm 1990 của ông M để chia tách phân thửa cho anh K1, anh L và anh S1 là không đúng quy định.

- UBND huyện L có Công văn số 447 ngày 08/4/2022 trả lời cho Tòa án có nội dung: Gia đình ông Định Trọng H4 và gia đình ông Nguyễn Hoàng M đều sử dụng đất từ năm 1986, sau khi Nhà máy sản huyện L chuyển lên địa điểm mới tại xóm N, xã X, huyện L được nhà máy sẵn giao lại cho thửa đất để làm nhà ở tại phố D, thị trấn V.

+ Đến năm 1989, thực hiện đo đạc bản đồ giải thửa theo Chỉ thị 299/TTg ngày 10/11/1980 của Thủ tướng Chính phủ về công tác đo đạc, phân hạng, đăng ký ruộng đất trong cả nước, ông H4 được quy chủ 02 thửa đất gồm: Thửa đất số 64, tờ bản đồ số 4, diện tích 1.155 m² và thửa đất số 57, tờ bản đồ số 04, diện tích 596 m²; ông Nguyễn Hoàng M được quy chủ tại thửa đất số 63, tờ bản đồ số 4, diện tích 1.533 m²; anh Nguyễn Hoàng K1 (con ông M) được quy chủ tại thửa đất số 81, tờ bản đồ số 4, diện tích 542 m².

+ Năm1990, ông H4 được UBND tỉnh H cấp GCNQSD đất gồm 2 thửa đất: Thửa đất số 64, tờ bản đồ số 4, diện tích 1.155 m² và thửa đất số 57, tờ bản đồ số 04, diện tích 596 m²; ông M được UBND tỉnh H cấp GCNQSD đất thửa đất số 63, tờ bản đồ số 04, diện tích 1.533 m² tại phố D, thị trấn V, mục đích sử dụng ghi trên giấy chứng nhận là đất ở + vườn (thửa đất giáp đất ông H4, không tiếp giáp mặt đường 436); anh K1 được UBND tỉnh H cấp GCNQSD đất thửa đất số 81, tờ bản đồ số 04, diện tích 542m² tại phố D, thị trấn V, mục đích sử dụng ghi trên giấy chứng nhận là đất ở + vườn (thửa đất giáp đất ông H4, tiếp giáp mặt đường 436).

+ Năm 2000 thực hiện đo đạc địa chính chính quy của thị trấn V, ông H4 được quy chủ 01 thửa đất là thửa số 72, tờ bản đồ số 18, diện tích 1.549,7m²; thửa đất số 63, tờ bản đồ số 4, diện tích 1.533 m² của ông M và thửa đất số 81, tờ bản đồ số 04, diện tích 542 m² của anh K1 được gộp thành thửa đất số 73 tờ bản đồ 18, diện tích 2.271,1m² quy chủ bà Bùi Thị L1 (mẹ đẻ anh K1); Thửa đất số 66, tờ bản đồ số 18, diện tích 391,6 m² quy chủ anh K1.

+ Ngày 15/8/2002, ông H4 lập hồ chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh D tại thửa đất số 64, tờ bản đồ số 4, diện tích 1.155 m² (gồm 400m² đất ở, 755m² đất vườn) thời hạn sử dụng đất lâu dài, và ngày 22/11/2002, anh D được UBND huyện L cấp CNQSD đất cho thửa đất số 64 nêu trên là đúng quy định.

+ Ngày 25/8/2005, bà L1 cùng các con là anh K1, anh L và anh S1 lập hồ sơ nhận thừa kế quyền sử dụng đất của ông M (chết năm 1991). Ngày 21/11/2005, UBND huyện L cấp GCNQSD đất cho bà L1 thửa đất số 73, tờ bản đồ số 18, diện tích 1.759,1m²; anh K1 thửa đất số 66B, tờ bản đồ số 18, diện tích 121,6m²; anh L thửa đất số 66, tờ bản đồ số 18, diện tích 48m²; anh S1 thửa đất số 66A, tờ bản đồ số 18, diện tích 70 m² (cấp theo hệ thống bản đồ đo đạc địa chính chính quy năm 2000 của thị trấn V). Kiểm tra, thẩm định hồ sơ thừa kế quyền sử dụng đất của bà L1, anh K, anh L và anh S1 thì thấy công chức địa chính- xây dựng thị trấn V và chuyên viên Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện L đã có sơ xuất không đối chiếu giữa bản đồ đo đạc năm 1989 với bản đồ đo đạc năm 2000 nên đã làm thủ tục cấp GCNQSD đất cho anh L và anh S1 vào thửa đất 66, tờ bản đồ 18 theo bản đồ đo đạc địa chính chính quy năm 2000 của thị trấn V, nhưng thửa đất số 66 không nằm trong GCNQSD đất đã cấp cho ông Nguyễn Hoàng M năm 1990 (cấp theo bản đồ đo đạc năm 1989). Như vậy, việc thừa kế quyền sử dụng đất từ ông Nguyễn Hoàng M cho anh L và anh S1 không đúng theo quy định, vì không đúng vị trí thửa đất của ông Nguyễn Hoàng M được cấp năm 1990 (không tiếp giáp mặt đường 436). Ủy ban nhân dân huyện L đề nghị Tòa án xem xét.

Người làm chứng trình bày:

- Ông Trần Thanh S2 là cán bộ địa chính của UBND thị trấn V giai đoạn 2000 đến năm 2007; Tại Biên bản làm việc ngày 07/6/2021 ông S2 khai: Khi vào kiểm tra thực tế thực địa mảnh đất của ông H4 để chuyển thượng cho anh D, bản thân ông được gia đình chỉ các mốc giới giáp ranh mà không đo đạc thực địa, không đối chiếu bản đồ địa chính 299 với bản đồ chính quy 2000 của thị trấn V, khi làm hồ sơ về ranh giới các gia đình giáp ranh các hộ giữa ông H4 với bà L1, anh S1, anh L đúng như hiện trạng bây giờ, ông H4 có mời các hộ giáp ranh ra xác định ranh giới của từng gia đình.

- Tại Biên bản làm việc ngày 07/6/2021, ông Bùi Văn Q, cán bộ Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện L khai: Tại thời điểm năm 2005, ông được phân công thẩm định hồ sơ cho tặng đất của bà L1 cho các con gồm anh K1, anh L, anh S1; khi xuống thực địa, ông không kiểm tra bản đồ địa chính 299 với bản đồ chính quy 2000 của thị trấn V mà chỉ dựa trên cơ sở bà L1 chỉ vị trí nào, tặng cho ai, sau đó hoàn thiện hồ sơ, quá trình thẩm định hồ sơ, thẩm định tại thực địa không xảy ra tranh chấp đất đai giữa các hộ liền kề với hộ anh D.

+ Tại Hội nghị ngày 03/6/2021 do Thanh tra huyện L tổ chức, các hộ gia đình sinh sống tại phố D, đã trình bày:

- Ông Phạm Tiến T3, sinh năm 1955, trú tại phố T, thị trấn V: Tôi là chồng của bà Hoàng Thị H5, vợ tôi chết năm 2013 tôi xác định vào năm 1985 vợ tôi có nói với tôi là vào mượn đất bà L1 để mở quán bán hàng, và đó chính là chỗ anh L đang ở hiện nay, đến năm 1988 thì không bán nữa và đã trả lại đất cho bà L1.

- Ông Trương Quang H6, sinh năm 1952, trú tại phố D, T: Gia đình tôi cùng sinh sống với gia đình bà L1 tại phố D suốt 40 năm qua, nhà tôi cách nhà bà L1 khoảng 30m, gia đình ông H4 và gia đình bà L1 đều có ranh giới rõ ràng, ổn định từ xưa tới nay.

- Bà Nguyễn Thị D2, sinh năm 1960; bà Phan Thị D3, sinh năm 1967, bà Đoàn Thị T4; ông Trương Quang M1 đều khai trước đó không thấy tranh chấp giữa hai gia đình.

Ông Phạm Hồng Đ, Bí thư Đảng uỷ thị trấn V: Thực tế các hộ gia đình đã sinh sống ổn định lâu dài theo hiện trạng bây giờ.

+ Người làm chứng do nguyên đơn cung cấp đã trình bày:

- Bà Nguyễn Thị V: Mảnh đất nhà ông H4 là do bố bà V nhận ông H4 là con nuôi nên đã cho ông H4.

- Ông Phạm Ngọc T5, nguyên trưởng phố D: Phần đất đang tranh chấp là của nhà ông H4, còn sau này mua bán chuyển nhượng hay không thì tôi không được rõ.

- Ông Nguyễn Ngọc K2, nguyên trưởng phố D: Tôi nghe bà con trong phổ nói đất đào giếng là của ông H4, còn thực tế của ai thì tôi không rõ, nếu đất này của ông H4 thì tại sao khi nhà bà L1 làm nhà cho con thì ông H4 không có tranh chấp gì hết, hay có mua bán gì không.

- Bà Nguyễn Thị V1 (chị dâu chị H): Phần đất nhà chị H chỉ tới phần bờ tường xây giữa nhà tôi và nhà chị H, trong vụ án này chị H chưa có tranh chấp gì với nhà tôi nên tôi không có ý kiến gì.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2023/DS-ST ngày 06/01/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình đã quyết định:

  • Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu ông Nguyễn Hoàng S1 phải trả diện tích đất tranh chấp là 70m² tại thửa số 66A, tờ bản đồ số 18 thuộc phố N, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hòa Bình và yêu cầu ông Nguyễn Hoàng L phải trả diện tích đất tranh chấp là 48m² tại thửa số 66, tờ bản đồ số 18 thuộc phố N, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hòa Bình cho nguyên đơn..

  • Không chấp nhận yêu cầu hủy GCNQSD đất do UBND huyện L cấp cho hộ ông Nguyễn Hoàng S1, số vào số cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00425 ngày 21/11/2005 và GCNQSD đất do UBND huyện L cấp cho hộ ông Nguyễn Hoàng L, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00426 ngày 21/11/2005.

  • Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn để kiến nghị UBND huyện L, cơ quan có thẩm quyền thu hồi để chỉnh lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện L cấp cho hộ ông Trần Văn D (thửa đất số 64, tờ bản đồ số 4, diện tích 1155m²) số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (không có số) ngày 22/11/2002 cho đúng với diện tích đất hộ ông Trần Văn D sử dụng.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo.

Ngày 17/01/2023, chị Đinh Thị H có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bên đương sự không xuất trình thêm tài liệu, chứng cứ mới và không thống nhất được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Nguyên đơn là anh Trần Văn D và chị Đinh Thị H do anh Dương Kim S đại diện không rút đơn khởi kiện, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và về cơ bản vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày tại Tòa án cấp sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn kháng cáo, sửa án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án vì có dấu hiệu vi phạm pháp luật cố ý làm trái.

Bị đơn là anh Nguyễn Hoàng L, anh Nguyễn Hoàng S1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Bùi Thị L1 do chị Trịnh Thị T đại diện và anh Nguyễn Hoàng K1 về cơ bản vẫn giữ nguyên quan điểm đã trình bày tại Tòa án cấp sơ thẩm và đề nghị Tòa án không chấp nhận kháng cáo, bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đơn kháng cáo của chị Đinh Thị H là hợp lệ. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung, kháng cáo của chị Đinh Thị H là không có căn cứ chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự xử không chấp nhận kháng cáo của chị Đinh Thị H và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên giữ nguyên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Ngày 17/01/2023, chị Đinh Thị H có đơn kháng cáo là trong thời hạn luật định nên hợp lệ, được chấp nhận xem xét, giải quyết yêu cầu kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm.

Nguyên đơn anh Trần Văn D và chị Đinh Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 1155m² anh chị đã nhận chuyển nhượng từ ông Đinh Trọng H2, đồng thời yêu cầu hủy GCNQSD đất được UBND huyện L cấp cho anh Nguyễn Hoàng S1 và anh Nguyễn Hoàng L. Bị đơn anh Nguyễn Hoàng K1 và anh Nguyễn Hoàng L có yêu cầu phản tố yêu cầu UBND huyện L, tỉnh Hòa Bình điều chỉnh lại GCNQSD đất đã cấp cho hộ anh Trần Văn D cho đúng diện tích đất đang sử dụng. Căn cứ quy định tại Điều 34, 37, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì quan hệ tranh chấp của vụ án là tranh chấp quyền sử dụng đất có yêu cầu hủy GCNQSD đất, nên Tòa án nhân dân tỉnh Hoà Bình thụ lý và giải quyết sơ thẩm vụ án là đúng thẩm quyền.

[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của chị Đinh Thị H thì thấy:

[2.1] Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ thể hiện: Gia đình ông Định Trọng H4 và gia đình ông Nguyễn Hoàng M đều sử dụng đất từ năm 1986, sau khi Nhà máy sắn huyện L chuyển lên địa điểm mới tại xóm N, xã X, huyện L; gia đình 02 ông được Nhà máy sắn giao lại cho thửa đất để làm nhà ở tại phố D, thị trấn V.

- Theo Bản đồ và S3 mục kê năm 1989 thì ông Nguyễn Hoàng M đứng tên 02 thửa là thửa số 62a, diện tích 244m² và thửa 63a, diện tích 1533m²; anh Nguyễn Hoàng K1 đứng tên thửa số 63b, diện tích 542m²; ông Đinh Trọng H2 đứng tên thửa số 64a, diện tích 987m²; ông Đinh Trọng H7 đứng tên thửa số 64b, diện tích 545m².

- Theo Công văn số 31 ngày 22/3/2022, UBND thị trấn V và Công văn số 447 ngày 08/4/2022, UBND huyện L trả lời cho Tòa án thì căn cứ vào bản đồ giải thửa theo Chỉ thị 299/TTg ngày 10/11/1980 của Thủ tướng Chính phủ về công tác đo đạc, phân hạng, đăng ký ruộng đất trong cả nước được đo đạc năm 1989, thì: Ông Đinh Trọng H2 được quy chủ 02 thửa đất gồm: Thửa đất số 64, tờ bản đồ số 4, diện tích 1.155 m² và thửa đất số 57, tờ bản đồ số 04, diện tích 596 m²; ông Nguyễn Hoàng M được quy chủ tại thửa đất số 63, tờ bản đồ số 4, diện tích 1.533 m²; anh Nguyễn Hoàng K1 (con ông M) được quy chủ tại thửa đất số 81, tờ bản đồ số 4, diện tích 542 m²; và năm 1990, UBND tỉnh H cấp GCNQSD đất cho ông H2 02 thửa đất số 64 và 57 nêu trên; cho ông M thửa đất số 63 và cho anh K1 thửa đất số 81 nêu trên. Thực hiện đo đạc địa chính chính quy của thị trấn V năm 2000, ông H2 được quy chủ 01 thửa đất là thửa số 72, tờ bản đồ số 18, diện tích 1.549,7m²; thửa đất số 63, tờ bản đồ số 4, diện tích 1.533 m² của ông M và thửa đất số 81, tờ bản đồ số 04, diện tích 542 m² của anh K1 được gộp thành thửa đất số 73 tờ bản đồ 18, diện tích 2.271,1m² quy chủ bà Bùi Thị L1 (mẹ đẻ anh K1); Thửa đất số 66, tờ bản đồ số 18, diện tích 391,6 m² quy chủ anh K1.

Như vậy, diện tích đất của ông H2, ông M đều tăng so với Bản đồ và sổ mục kê năm 1989; tại Công văn số 31/BC-UBND ngày 22/3/2022, UBND thị trấn V cho rằng: “Sau khi ông M chết, theo quy định các thành viên trong gia đình chỉ được thừa kế thửa đất của ông M là thửa đất số 63; tờ bản đồ số 04, diện tích 1.533m², còn thửa đất số 66, diện tích 391,6m² được đo đạc theo hiện trạng sử dụng năm 2000 chưa được cấp giấy chứng nhận và đang bị đo trồng nên thửa đất của nhà ông H2 năm 2002 đã chuyển nhượng cho anh D. Theo quy định của luật đất đai thì trình tự thủ tục như vậy là sai; nếu thửa đất số 66, tờ bản đồ số 18, diện tích 391,6m² được công nhận cho hộ bà Bùi Thị L1, hoặc anh Nguyễn Hoàng K1, sau đó mới được chia tách thửa cho các con, nhưng khi làm thủ tục phân chia di sản thừa kế, cán bộ đã gộp cả thửa của anh K1 được quy chủ năm 2000 và thửa đất cấp năm 1990 của ông M để chia tách phân thửa cho anh K1, anh L và anh S1 là không đúng quy định.” Nhưng chính UBND thị trấn V cũng đã xác định khi ông H2 chuyển nhượng phần đất trên cho anh D, cán bộ địa chính đã không thực hiện việc đo đạc xác định ranh giới thực tế của thửa đất mà trích sao nguyên vẹn sơ đồ thửa đất trên giấy chứng nhận từ ông H2 sang anh D nên dẫn tới hiện trạng sử dụng thực tế và trên giấy tờ không trùng khớp theo ranh giới sử dụng của các hộ. Sau khi nhận chuyển nhượng, anh D chị H cũng không sử dụng phần đất có tranh chấp, cũng không biết phần đất đó có trong GCNQSD đất của mình chỉ đến năm 2019 khi đối chiếu thì mới biết có phần đất đó và khởi kiện.

[2.2] Tại Công văn số 447 ngày 08/4/2022, UBND huyện L cho rằng: “Qua kiểm tra, thẩm định hồ sơ thừa kế quyền sử dụng đất của bà L1, anh K, anh L và anh S1 thì thấy công chức địa chính- xây dựng thị trấn V và chuyên viên Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện L đã có sơ xuất không đối chiếu giữa bản đồ đo đạc năm 1989 với bản đồ đo đạc năm 2000 nên đã làm thủ tục cấp GCNQSD đất cho anh L và anh S1 vào thửa đất 66, tờ bản đồ 18 theo bản đồ đo đạc địa chính chính quy năm 2000 của thị trấn V, nhưng thửa đất số 66 không nằm trong GCNQSD đất đã cấp cho ông Nguyễn Hoàng M năm 1990 (cấp theo bản đồ đo đạc năm 1989). Như vậy, việc thừa kế quyền sử dụng đất từ ông Nguyễn Hoàng M cho anh L và anh S1 không đúng theo quy định, vì không đúng vị trí thửa đất của ông Nguyễn Hoàng M được cấp năm 1990 (không tiếp giáp mặt đường 436)”. Nhưng thực tế cho thấy tại thời điểm những năm 1990 thì phần đất này lại do gia đình bà L1 đang sử dụng, nguyên đơn cho rằng đó là phần đất do ông H2 sử dụng và đã chuyển nhượng lại cho nguyên đơn là không đúng, bởi lẽ:

Các bên đều thừa nhận trước đó gia đình ông H2 có đào giếng, xác định phần giếng nước hiện tại đã lấp và gia đình anh K1 đã làm nhà trên đó từ năm 1992 lúc này ông H2 còn sống các bên không có ý kiến tranh chấp gì, đến khi ông H2 chuyển nhượng đất cho anh D và gia đình anh D chị H sử dụng đều biết năm 2013 anh L đã làm lại nhà trên đó nhưng cũng không có ý kiến gì (anh L có Giấy phép xây dựng số 19/GPXD ngày 29/11/2012).

Tại Biên bản xác định sơ đồ thửa đất đo đạc quy chủ năm 2000 có xác nhận của UBND thị trấn V thì bà L1, anh K1 và ông H2 đều có chữ ký của chủ sử dụng đất liền kề theo đúng hiện trạng các hộ đang sử dụng, theo đó, ông H2 có ký giáp gianh thể hiện thừa nhận thửa đất của gia đình ông tiếp giáp với phần đất đang tranh chấp và phần đất này là của anh K1. UBND thị trấn V và UBND huyện L cũng đã khẳng định việc cấp GCNQSD đất cho ông S1 và ông L đã thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của Luật đất đai năm 2003 và Điều 48 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành luật đất đai.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện UBND thị trấn V và UBND huyện L đều có ý kiến đề nghị Tòa án giữ nguyên hiện trạng sử dụng đất của các gia đình anh S1 và anh L. Hơn nữa, tại Công văn số 138/UBND ngày 10/10/2023 của UBND thị trấn V và Công văn số 1937/UBND-TNMT ngày 30/10/2023 của UBND huyện L đều khẳng định hộ gia đình ông Nguyễn Hoàng K1 đã sử dụng thửa đất số 66, tờ bản đồ số 18, diện tích 391,6m² và làm nhà ở từ năm 1992 được quy chủ ghi tên ông K1 theo bản đồ đo đạc địa chính chính quy năm 2000 của thị trấn V, và không có tranh chấp ranh giới, mốc giới với thửa đất của gia đình ông H2, cho đến năm 2019 gia đình ông D, bà H mới có đơn giải quyết tranh chấp đất đai. Tại Công văn số 95 ngày 04/10/2020 của UBND thị trấn V cũng đã trả lời là một phần đất của ông H2 bị bà V1 lấn. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn D và chị Đinh Thị H là có căn cứ. Nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của chị H về vấn đề này.

[2.3]. Về yêu cầu phản tố của bị đơn cho rằng khi cấp đất cho ông H2 đã không xem xét thực tế các hộ đang sử dụng dẫn đến khi chuyển nhượng cho vợ chồng anh D chị H cũng không đúng đề nghị điều chỉnh lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho anh Trần Văn D, thì thấy:

Theo điểm d, khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai 2013 thì Nhà nước sẽ thu hồi giấy chứng nhận khi: “Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai, trừ trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai,

Theo kết quả đo đạc chỉnh lý bản đồ địa chính: 02-2022, hệ toạ độ VN2000, phố D, Tờ bản đồ số 18 (264545 1 –c) ngày 03/10/2022 của Văn phòng Đăng ký đất đai- Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H xác định: Phần diện tích đất của gia đình anh D, chị H theo chỉ dẫn đo đạc thực tế hiện có là 834,8m² (chưa tính phần đất mà chị H cho rằng bà V1 liền kề đang sử dụng); và với các căn cứ nêu trên, ý kiến của UBND thị trấn V và UBND huyện L, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn kiến nghị UBND huyện L, cơ quan có thẩm quyền thu hồi để chỉnh lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho hộ anh Trần Văn D cho phù hợp với diện tích đất thực tế gia đình anh D mang tên đang sử dụng là có căn cứ.

Tại cấp phúc thẩm, không phát sinh tình tiết mới, do đó không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của chị Đinh Thị H và cần giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

[3] Về án phí: Do kháng cáo của chị H không được chấp nhận nên chị H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên, căn cứ khoản 1 Điều 308; khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của chị Đinh Thị H; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2023/DS-ST ngày 06/01/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình.

  2. Về án phí: Chị Đinh Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, đối trừ với 300.000 đồng chị Đinh Thị H đã nộp tại Biên lai thu số 0000881 ngày 17/01/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hòa Bình. Xác nhận chị Đinh Thị H đã thi hành xong khoản tiền nộp án phí dân sự phúc thẩm.

  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận

  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - TAND tỉnh Hòa Bình;
  • - VKS ND tỉnh Hòa Bình;
  • - Cục THADS tỉnh Hòa Bình;
  • - Các đương sự theo địa chỉ trên;
  • - Lưu HSVA, Phòng HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Phan Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 587/2023/DS-PT ngày 30/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 587/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/11/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: kc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger