|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 587/2024/HNGĐ-ST Ngày: 26/7/2024 V/v Tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Hoàng Thống;
- Bà Nguyễn Hồng Dịu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Phương – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Tp. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thị Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 26/7/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Tp. đã xét xử công khai vụ án hôn nhân sơ thẩm thụ lý số 120/2024/HNST ngày 05/3/2024 về việc “Tranh chấp về ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 148/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 121/2024/QĐST-HNGĐ ngày 15/7/2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Lê Nguyễn Mai P, sinh năm 1985.
- Địa chỉ: Số D P, Phường C, Quận H, Tp.
- - Bị đơn: Ông Tạ Đức H, sinh năm 1987.
- Địa chỉ: Số D P, Phường C, Quận H, Tp.
Nguyên đơn và Bị đơn có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo Đơn khởi kiện ly hôn ngày 13/3/2023, bản khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, Nguyên đơn là bà Lê nguyễn Mai P1 trình bày:
Bà Lê Nguyễn Mai P và ông Tạ Đức H tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường C, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 91/KH, quyển số 01/2009, đăng ký ngày 05/5/2009.
Trong thời gian chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thiếu sự cảm thông chia sẻ cho nhau nên đã làm ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình. Cả hai đã nhiều lần hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả nên đã ly thân từ 02 năm nay. Hiện tình cảm vợ chồng không còn, bà P không muốn tiếp tục duy trì cuộc sống hôn nhân này nữa, bà không còn tình cảm với ông H, bà nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, hai bên không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên bà P yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông H để ổn định cuộc sống.
- Về con chung: Quá trình chung sống, hai bên có 01 con chung là Tạ Thiện N (nam, sinh ngày 13/02/2013), bà P yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng bé Tạ Thiện N, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn là ông Tạ Đức H trình bày ý kiến tại, bản khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa như sau:
Ông xác nhận lời trình bày của bà Lê Nguyễn Mai P về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung là đúng. Ông thừa nhận cuộc sống chung không hạnh phúc do bất đồng về quan điểm, không tìm được tiếng nói chung nên ông và bà P đã ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Nguyên nhân khác nữa dẫn đến mâu thuẫn trầm trọng là do trước đây ông có tình cảm với người phụ nữ khác, tuy nhiên sau khi hai vợ chồng sống ly thân, bản thân bà P cũng có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác. Nay, bà P yêu cầu ly hôn với ông, ông không đồng ý vì ông muốn giữ gia đình cho con vì trước đây cha mẹ ông ly hôn nên ông cảm nhận được nỗi buồn của người con khi cha mẹ ly hôn. Hiện nay mẹ ông đang bị bệnh nên ông chưa có phương án hàn gắn, hòa giải với bà P, cũng không biết phải làm gì để hai vợ chồng có thể quay lại đoàn tụ với nhau. Ông muốn giữ tình trạng ly thân, mạnh ai người đó sống như bây giờ. Trường hợp Tòa án xử ly hôn thì tùy Tòa án chứ ông không đồng ý ly hôn.
- Về con chung: Ông H đồng ý giao con chung tên Tạ Thiện N (nam, sinh ngày 13/02/2013) cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng và không cấp dưỡng nuôi con do bà P không yêu cầu.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Tp. phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
Việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tòa án xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, thời hiệu, thực hiện thủ tục cấp tống đạt các văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát, thành phần tham gia xét xử được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 không có kiến nghị gì về tố tụng.
2
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Lê Nguyễn Mai P ly hôn với ông Tạ Đức H. Về con chung, hai bên tự thỏa thuận việc giao con chung cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng, bà P không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung, hai bên đề xác nhận không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về pháp luật tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án của Tòa án:
Nguyên đơn bà Lê Nguyễn Mai P khởi kiện yêu cầu được ly hôn Bị đơn ông Tạ Đức H, do vậy xác định đây là tranh chấp hôn nhân gia đình về ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ số D đường P, Phường C, Quận H, Tp. nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về pháp luật nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 91/KH, quyển số 01/2009 do Ủy ban nhân dân Phường C, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 05/5/2009; Căn cứ lời khai của bà P, ông H về quá trình tiến đến hôn nhân giữa bà P, ông H là tự nguyện và có đăng ký kết hôn nên có cơ sở xác định đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu của Nguyên đơn – bà Lê Nguyễn Mai P về việc yêu cầu ly hôn với ông Tạ Đức H, Hội đồng xét xử nhận thấy: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà P và ông H đều xác nhận trong quá trình chung sống hai ông bà thời gian đầu chung sống với nhau hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, lối sống, hai bên không tìm được tiếng nói chung. Cả hai đã nhiều lần hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, thực tế hai bên đã ly thân từ 02 năm nay.
Bà P vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với ông H để ổn định cuộc sống vì bà không còn tình cảm với ông H, bà không muốn tiếp tục duy trì cuộc sống hôn nhân này nữa. Trong thời gian hai bên ly thân, bà P cũng muốn tạo cơ hội để hai bên có thể suy nghĩ lại tình cảm vợ chồng và tìm cách hàn gắn, nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, thực tế cả hai đều có quan hệ tình cảm mới với người khác. Ông H không đồng ý ly hôn vì muốn giữ gia đình cho con. Do mẹ ông đang bị bệnh nên ông chưa có phương án hàn gắn, hòa giải với bà P, cũng không biết phải làm gì để hai vợ chồng có thể quay lại đoàn tụ với nhau. Ông muốn giữ tình trạng ly thân như hiện nay, mạnh ai người đó sống như bây giờ. Trường hợp Tòa án xử ly hôn thì tùy Tòa án chứ ông không đồng ý ly hôn.
3
Tòa án đã tiến hành hòa giải để hai bên hàn gắn, đoàn tụ nhưng không thành.
Xét cuộc sống chung giữa Nguyên đơn và Bị đơn không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được, không có khả năng đoàn tụ, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài vì vậy yêu cầu ly hôn của Nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình.
[2.2] Về con chung:
Theo lời trình bày của bà P, bà và ông H có 01 con chung tên Tạ Thiện N (nam, sinh ngày 13/02/2013). Bà P yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, bà P không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Do cháu Thiện N trên 07 tuổi nên Tòa án đã lấy lời khai của cháu để xem xét nguyện vọng của bé theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Căn cứ vào Bản khai của cháu Thiện N, nguyện vọng của cháu là muốn ở với mẹ.
Hội đồng xét xử xét thấy cháu Tạ Thiện N hiện nay đang được bà P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông H cũng đồng ý giao con chung cho bà P nuôi dưỡng, bà P không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận thỏa thuận của các đương sự.
Ông H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà mình không trực tiếp nuôi dưỡng. Không ai được quyền cản trở, nhưng ông H không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của bà P.
Vì lợi ích của con, khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, hoặc hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Các bên đều xác nhận không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Xét đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và giải quyết nội dung vụ án nêu trên phù hợp với những đánh giá, nhận định của Hội đồng xét xử.
[4] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[4] Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
4
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- - Điều 6; Điều 7; Điều 9; Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn – bà Lê Nguyễn Mai P:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Nguyễn Mai P, sinh năm 1985 được ly hôn với ông Tạ Đức H, sinh năm 1987.
Giấy chứng nhận kết hôn số 91/KH, quyển số 01/2009 do Ủy ban nhân dân Phường C, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 05 tháng 5 năm 2009 không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của bà Lê Nguyễn Mai P và ông Tạ Đức H về việc giao con chung tên Tạ Thiện N (nam, sinh ngày 13/02/2013) cho bà Lê Nguyễn Mai P trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà P không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà mình không trực tiếp nuôi dưỡng. Không ai được quyền cản trở, nhưng ông H không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của bà P.
Vì lợi ích của con, khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, hoặc hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
- Về tài sản chung, nợ chung: Hai bên khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm không có giá ngạch:
Bà Lê Nguyễn Mai P phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí bà P đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0036674 ngày 02/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà P đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
5
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./ .
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Phạm Thị Thu Hiền |
6
Bản án số 587/2024/HNGĐ-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 587/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Lê Nguyên Mai Phụng yêu cầu ly hôn ông Tạ Đức Hoàng
