Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 586/2023/DS-PT

Ngày: 29/11/2023

V/v tranh chấp: “Hợp

đồng đặt cọc”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Huy.

Các Thẩm phán:

Bà Nguyễn Thị Ánh Phương.

Bà Lâm Ngọc Tuyền.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khanh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa:

Bà Lê Thị Thắm - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 23 và ngày 29 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 265/2023/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2023 về việc tranh chấp “Hợp đồng đặt cọc”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 117/2023/DS-ST ngày 11 tháng 7 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 765/2023/QĐ-PT ngày 11 tháng 10 năm 2023 giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Lê Quốc L, sinh năm 1978;

    Nguyễn Ngọc D, sinh năm 1987;

    Cùng địa chỉ: ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

    Người đại diện theo ủy quyền: Nguyễn Văn T, sinh năm 1967 (có mặt).

    Địa chỉ: số F, tổ C, khu B, thị trấn C, huyện C, Tiền Giang.

    (Theo văn bản ủy quyền ngày 09/5/2023).

  • * Bị đơn: Lê Văn K, sinh năm 1950;

    Nguyễn Thị T1, sinh năm 1951;

    Lê Văn N, sinh năm 1976;

    Lê Văn N1, sinh năm 1983;

Cùng địa chỉ: ấp M, xã H, huyện C, Tiền Giang.

Người đại diện theo ủy quyền: Phan Văn V, sinh năm 1984 (có mặt).

Địa chỉ: ấp M, xã M, huyện C, Tiền Giang.

(Theo văn bản ủy quyền ngày 23/5/2023).

* Người kháng cáo: Bị đơn Lê Văn K, Nguyễn Thị T1, Lê Văn N, Lê Văn N1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo án sơ thẩm;

* Ông Nguyễn Văn T là người đại diện theo ủy quyền nguyên đơn anh Lê Quốc L và chị Nguyễn Ngọc D trình bày:

Ông K có thửa đất số 22, tờ bản đồ số 03, diện tích 1.141,7m² do UBND huyện C cấp ngày 15/10/2014 và thửa số 17, tờ bản đồ số 03, diện tích 5.518,3m² tọa lạc tại ấp M, xã H, huyện C, Tiền Giang do UBND huyện C cấp ngày 10/10/2013 cho ông Lê Văn K đứng tên. Do hộ ông K vay tiền ở ngân hàng đến ngày đáo hạn không có tiền trả, nên hộ ông K mới thống nhất trích đo 02 thửa đất số 22 và 17 chuyển nhượng cho anh L và chị D 3.150m², giá 1.252.500.000 đồng, nên ngày 23/02/2023 ông anh Nghĩa là con của ông K là thành viên trong hộ thay mặt hộ nhận số tiền đặt cọc 200.000.000 đồng để trả ngân hàng, sau đó thực hiện việc đo đạc đất tách thửa lập thủ tục sang tên cho anh L và chị D nhưng hộ ông K không thực hiện.

Đến ngày 12/3/2023 thì hộ gia đình ông K mới làm giấy tay giao trả lại tiền đặt cọc 200.000.000 đồng cho anh L và chị D, nhưng anh N đã tự ý soạn sẵn thỏa thuận này khi đưa anh L và chị D ký tên không đọc lại nội dung cho các bên nghe lại, mà anh N chỉ nói ký tên về việc nhận số tiền cọc 200.000.000 đồng trước đây với đầy đủ các thành viên trong hộ gia đình ông K ký tên, nhưng sau khi đem giấy này về xem lại thì mới thấy nội dung là giấy thỏa thuận về việc giao trả tiền mua đất. Trong nội dung này anh N ghi lý do rất vô lý là khi nào hộ gia đình ông K bán được hai thửa đất 22 và 17 thì hộ gia đình ông K mới hoàn trả số tiền cọc 200.000.000 đồng này cho anh L và chị D. Như vậy, anh N làm giấy tay này đã lừa dối phía anh L và chị D, vì nếu như hộ gia đình ông K không bán đất thì xem như số tiền cọc 200.000.000 đồng này anh L và chị D không đòi lại được.

Từ những lý do không phù hợp theo giấy tay ngày 12/3/2023 nên anh L và chị D mới khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết, nay anh L và chị D yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết buộc các bị đơn Lê Văn K, Nguyễn Thị T1, Lê Văn N, Lê Văn N1 có nghĩa vụ liên đới hoàn trả số tiền cọc 200.000.000 đồng, trả 01 lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

* Anh Phan Văn V là người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Văn K, bà Nguyễn Thị T1, anh Lê Văn N và anh Lê Văn N1 trình bày:

Tháng 02/2023 các bị đơn Khởi, T1, N, N1 thỏa thuận miệng với anh L và chị D bán phần đất nhà và vườn phía sau nhà một phần thửa số 17 và thửa 22, diện tích khoảng 2.750m², số tiền chuyển nhượng 1.252.500.000 đồng, có lấy cọc trước 200.000.000 đồng, số tiền này các bị đơn lấy trả nợ ở Ngân hàng A, nhưng anh L và chị D không muốn thực hiện đúng như thỏa thuận hợp đồng. Các bị đơn đồng ý hoàn trả lại số tiền 200.000.000 đồng cho anh L và chị D theo đúng thỏa thuận ngày 12/3/2023 là khi nào các bị đơn bán được đất mới hoàn trả lại. Giấy thỏa thuận ngày 12/3/2023 là do anh N con ông K đánh máy tại nhà đọc đưa các bên nghe ký tên, có những người làm chứng chứng kiến thấy.

Do đó, nay các bị đơn muốn yêu cầu anh L và chị D tiếp tục thực hiện hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng mua bán đất; nếu anh L và chị D không thực hiện thì sẽ mất số tiền đặt cọc 200.000.000 đồng. Các bị đơn không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện nguyên đơn anh L và chị D.

* Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Ông Nguyễn Văn T là đại diện ủy quyền nguyên đơn anh Lê Quốc L và chị Nguyễn Ngọc D xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu các bị đơn chịu phạt cọc số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng).

* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 117/2023/DS-ST ngày 11 tháng 7 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang đã căn cứ các Điều 328, 423, 427 Bộ luật dân sự; Điều 217, 244, 227, 228, 271, 272, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án. Xử:

  1. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của anh L và chị D về việc yêu cầu các bị đơn ông K, bà T1, anh N và anh N1 liên đới phạt cọc số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng).
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Quốc L và chị Nguyễn Ngọc D.

Hủy giấy tay đặt cọc mua bán đất ngày 23/02/2023 giữa anh Lê Quốc L và chị Nguyễn Ngọc D với anh Lê Văn N.

Buộc ông Lê Văn K, bà Nguyễn Thị T1, anh Lê Văn N và anh Lê Văn N1 có nghĩa vụ liên đới hoàn trả lại cho anh Lê Quốc L và chị Nguyễn Ngọc D số tiền đặt cọc 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự, quyền thỏa thuận thi hành án theo quy định pháp luật.

* Ngày 24 tháng 7 năm 2023, bị đơn Lê Văn K, Nguyễn Thị T1, Lê Văn N, Lê Văn N1 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 143/2023/DS-ST ngày 19/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết những vấn đề sau:

  • Hủy bản án sơ thẩm số 117/2023/DS-ST ngày 11/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang;
  • Yêu cầu xét xử lại theo hướng không chấp nhận tiền án phí 10.000.000 đồng;
  • Đối với việc trả lại số tiền đặt cọc 200.000.000 đồng thì bị đơn sẽ trả lại cho nguyên đơn đúng theo “Giấy thỏa thuận về việc giao trả tiền mua đất” mà nguyên đơn và bị đơn đã ký kết ngày 12/3/2023.

Tại phiên tòa phúc thẩm;

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn trình bày: Theo đơn kháng cáo ngày 24/7/2023, bị đơn yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm vừa hủy bản án dân sự sơ thẩm vừa xem xét lại án phí và thời hạn trả nợ là không đúng. Do vậy, bị đơn xác định lại kháng cáo là yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm không buộc các bị đơn chịu án phí 10.000.000 đồng, trả lại số tiền đặt cọc 200.000.000 đồng theo “Giấy thỏa thuận về việc giao trả tiền mua đất” mà nguyên đơn và bị đơn đã ký kết ngày 12/3/2023.

Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên phần nghĩa vụ dân sự, sửa bản án dân sự sơ thẩm về phần án phí dân sự sơ thẩm đối với ông Lê Văn K và bà Nguyễn Thị T1.

Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về thủ tục kháng cáo: Ông Lê Văn K, bà Nguyễn Thị T1, anh Lê Văn N, anh Lê Văn N1 nộp đơn kháng cáo và thực hiện các thủ tục kháng cáo hợp lệ, trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

  2. Về nội dung xét kháng cáo:

    Theo hồ sơ vụ án: hộ ông Lê Văn K gồm ông Lê Văn K, bà Nguyễn Thị T1, Lê Văn N và Lê Văn N1 thỏa thuận miệng chuyển nhượng cho anh Lê Quốc L và chị Nguyễn Ngọc D một phần thửa đất số 17 và thửa đất số 22, cùng tờ bản đồ số 3 tại ấp M, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang với giá 1.252.500.000 đồng. Ngày 23/02/2023, anh N thay mặt hộ ông K nhận của anh L, chị D số tiền đặt cọc 200.000.000 đồng. Do hai bên không tiếp tục giao kết chuyển nhượng đất, nên ngày 12/3/2023, ông K, bà T1, anh N, anh N1 cùng anh L và chị D ký văn bản thỏa thuận chấm dứt việc giao kết chuyển nhượng đất và cam kết hoàn trả số tiền đặt cọc 200.000.000 đồng khi nào hộ ông K chuyển nhượng được đất. Trước khi khởi kiện khoảng 02 tháng, anh L và chị D đòi lại số tiền đặt cọc nhưng hộ ông K không đồng ý trả vì không bán được đất.

    Xét thấy, việc cam kết trả tiền của hộ ông K cho anh L, chị D tại văn bản thỏa thuận ngày 12/3/2023 là thuộc trường hợp không xác định thời hạn nghĩa vụ trả tiền. Việc hai bên thống nhất xác định, trước khi khởi kiện vụ án khoảng 02 tháng, anh L và chị D có yêu cầu hộ ông K hoàn trả số tiền đặt cọc đã nhận là phía anh L, chị D đã thông báo cho hộ ông K thời gian hợp lý. Mặt khác, tại phiên tòa sơ thẩm, phía ông K, bà T1, anh N và anh N1 chấp nhận trả số tiền 200.000.000 đồng trong thời hạn 01 năm nhưng không được phía anh L và chị D chấp nhận. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang buộc hộ ông K có nghĩa vụ trả cho anh L và chị D số tiền 200.000.000 đồng là có căn cứ, phù hợp khoản 3 Điều 278 Bộ luật Dân sự.

    Như phân tích trên, ông K, bà T1, anh N và anh N1 kháng cáo yêu cầu trả số nợ 200.000.000 đồng với thời hạn “...khi nào ông K bán được đất cho người khác” theo văn bản thỏa thuận ngày 12/3/2023 là không có căn cứ pháp luật, gây thiệt thòi quyền lợi chính đáng của anh L và chị D, nên Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận.

    Về án phí dân sự sơ thẩm: Tại cấp sơ thẩm, ông K và bà T1 không có đơn xin miễn án phí dân sự sơ thẩm nên không được Tòa án xem xét. Tuy nhiên, ông bà có đơn gửi Tòa án cấp phúc thẩm xin miễn án phí dân sự sơ thẩm do thuộc trường hợp người cao tuổi. Xét thấy, việc xin miễn án phí của ông K và bà T1 phù hợp quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án nên Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận miễn số tiền án phí mà ông bà phải chịu và sửa bản án dân sự sơ thẩm về phần án phí. Đối với anh Lê Văn N, anh Lê Văn N1 không thuộc trường hợp được miễn án phí nên phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định. Trường hợp này không do lỗi của Tòa án cấp sơ thẩm.

  3. Những phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

  4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa bản án dân sự sơ thẩm, nên căn cứ khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

  5. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 278, Điều 328, Điều 357, Điều 423, Điều 427 Bộ luật Dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án. Xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Lê Văn K, bà Nguyễn Thị T1, anh Lê Văn N, anh Lê Văn N1. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 117/2023/DS-ST ngày 11/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang về nghĩa vụ dân sự.

    Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Quốc L và chị Nguyễn Ngọc D.

    Hủy giấy tay đặt cọc mua bán đất ngày 23/02/2023 giữa anh Lê Quốc L và chị Nguyễn Ngọc D với anh Lê Văn N.

    Buộc ông Lê Văn K, bà Nguyễn Thị T1, anh Lê Văn N và anh Lê Văn N1 có nghĩa vụ liên đới hoàn trả lại cho anh Lê Quốc L và chị Nguyễn Ngọc D số tiền đặt cọc 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

  2. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông Lê Văn K, bà Nguyễn Thị T1, Lê văn N2, Lê Văn N về án phí dân sự sơ thẩm.

    Miễn phần án phí dân sự sơ thẩm cho ông Lê Văn K, bà Nguyễn Thị T1.

    Anh Lê Văn N, anh Lê Văn N1 phải liên đới chịu 5.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

  3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Trả lại anh Lê Văn N, anh Lê Văn N1 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0012749 ngày 24/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

  1. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng.

  2. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - TAND huyện Cái Bè;
  • - CCTHADS huyện Cái Bè;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Lê Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 586/2023/DS-PT ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 586/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hợp đồng đặt cọc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger