Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH TÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 586/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 22-5-2024

V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phi Yến.
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Bà Bùi Diệu Huệ;
    2. Ông Lê Văn Khanh.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Xuân Uyên – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Từ Ngọc Hòa - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1078/2023/TLST- HNGĐ ngày 2 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 146/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 116/2024/QÐST-HNGĐ ngày 06/5/2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thùy T, sinh năm: 1983
  • Thường trú: đường L, phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • - Bị đơn: Ông Trần Trung V. Sinh năm: 1982
  • Thường trú: đường L, phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn và bản tự khai của các bên đương sự tại tòa cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ thì nội dung vụ án được xác định như sau:

Bà Nguyễn Thị Thùy T là nguyên đơn có bản tự khai trình bày: Bà và Ông Trần Trung V tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 28 quyển số 01/2005 do Ủy ban nhân dân phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 11/4/2005.

Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau do ông V ngoại tình, gây gỗ và không còn tình cảm với vợ. Nay bà yêu cầu ly hôn với Ông Trần Trung V.

Về con chung: Có hai con chung tên Trần Nguyễn Quỳnh N, sinh ngày 25/02/2007, Trần Nguyễn Như Q sinh ngày 07/11/1014. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi hai con chung

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận

Về nợ chung: Không có.

Bị đơn Ông Trần Trung V có bản tự khai trình bày: Ông đồng ý với lời trình bày của bà T về mâu thuẫn, con chung, tài sản chung và nợ chung, ông yêu cầu tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Ông đồng ý để bà T trực tiếp nuôi con chung, ông không cấp dưỡng nuôi con.

Tại phiên tòa:

Bị đơn, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa có ý kiến như sau:

  • - Về Thủ tục tố tụng: Các văn bản tố tụng của Tòa án đều được tống đạt cho đương sự theo đúng quy định pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng trình tự tố tụng và đảm bảo thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp phát sinh giữa Bà Nguyễn Thị Thùy T và Ông Trần Trung V là tranh chấp ly hôn. Xét bị đơn có nơi cư trú tại số đường L, phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo kết quả xác minh của Công an phường Bình Hưng Hòa B, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh thì Ông Trần Trung V có đăng ký hộ khẩu thường trú và đang thực tế cư trú tại địa chỉ trên. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2]Về thủ tục xét xử vắng mặt: Nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà T ông V theo quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung tranh chấp:

Bà Nguyễn Thị Thùy T và Ông Trần Trung V tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 28 quyển số 01/2005 do Ủy ban nhân dân phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 11/4/2005. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Theo bà T trình bày Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau do ông V ngoại tình, gây gỗ và không còn tình cảm với vợ. Nay bà yêu cầu ly hôn với ông V.

Tòa án tiến hành triệu tập để hòa giải giữa các bên nhưng ông V vắng mặt không tham gia hòa giải. Ngày 22/5/2024, ông V có bản tự khai yêu cầu tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật và yêu cầu được vắng mặt trong quá trình tòa án xét xử vụ án.

Trên cơ sở xem xét các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và lời trình bày của các bên trong quá trình giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy, cuộc sống chung hiện tại của vợ chồng bà T ông V không có sự quan tâm, chia sẻ, yêu thương nhau. Tòa án đã nhiều lần triệu tập để hòa giải nhưng ông V không đến là không có thiện chí để giải quyết mâu thuẫn vợ chồng. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà T ông V đã trầm trọng, không còn khả năng để hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T.

Về con chung: Có hai con chung tên Trần Nguyễn Quỳnh N, sinh ngày 25/02/2007, Trần Nguyễn Như Q sinh ngày 07/11/1014, bà T yêu cầu nuôi con chung, ông V đồng ý giao con cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi cũng như sự phát triển của trẻ và để hạn chế được phần nào về sự ảnh hưởng tiêu cực về tâm sinh lý của trẻ. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình, xét thấy việc giao trẻ Trần Nguyễn Quỳnh N và trẻ Trần Nguyễn Như Q cho Bà Nguyễn Thị Thùy T trực tiếp nuôi dưỡng là hợp lý.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung và các nghĩa vụ dân sự khác: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Hội đồng xét xử thống nhất với quan điểm của Kiểm sát viên đã trình bày tại phiên tòa về hướng giải quyết vụ án.

[4] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thùy T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2023/0026418 ngày 27/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1,3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 56, Điều 57, Điều 58, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ vào Luật Thi hành án Dân sự.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà Nguyễn Thị Thùy T.
    1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thùy T được ly hôn với ông Trần Trung V. Giấy chứng nhận kết hôn số 28 quyển số 01/2005 do Ủy ban nhân dân phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 11/4/2005 không còn giá trị pháp lý.
    2. Về con chung: Giao trẻ Trần Nguyễn Quỳnh N, sinh ngày 25/02/2007, Trần Nguyễn Như Q sinh ngày 07/11/1014 cho Bà Nguyễn Thị Thùy T trực tiếp nuôi dưỡng. Ông V không cấp dưỡng nuôi con vì bà T không yêu cầu.
    3. Bà T ông V có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở.

      Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

      Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

      Vì lợi ích của con, việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi.

    4. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
    5. Về nợ chung và các nghĩa vụ dân sự khác: Bà T ông V xác nhận không có nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
  2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thùy T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2023/0026418 ngày 27/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà T đã nộp đủ tiền án phí.
  3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
  4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quyết định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.

Nơi nhận:

  • -Các đương sự;
  • -Viện kiểm sát cùng cấp;
  • -Lưu: hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Phi Yến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 586/2024/HNGĐ-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 586/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger