Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

Bản án số: 586/2024/DS-PT

Ngày: 03/12/2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài

sản và góp hụi; yêu cầu hủy hợp

đồng mua bán tài sản”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - hạnh phúc

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thúy Hằng

Các Thẩm phán: Bà Phạm Ngọc Giàu

Bà Phạm Thị Thùy Trang

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Mai Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bé Thi - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 576/2024/TLPT-DS, ngày 31 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản và góp hụi; yêu cầu hủy hợp đồng mua bán tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 186/2024/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2024, của Toà án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 614/2024/QĐ-PT ngày 06 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị O, sinh năm 1980; địa chỉ: ấp T, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh (có mặt).
    • - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phạm Văn T – Luật sư Công ty L thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).
  2. Bị đơn: Chị Trần Thị Thu T1, sinh năm 1992; địa chỉ: ấp T, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
    • - Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Phạm Thanh Đ, sinh năm 1964; địa chỉ: 2 Đường C, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh – là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 29/12/2023) (có mặt)).
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • - Bà Võ Thị M, sinh năm 1967 (có mặt).
    • - Ông Trần Văn T2, sinh năm 1969 (có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt).
    • - Chị Phạm Hồng T3, sinh năm 1977 (có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt).

    Cùng địa chỉ: ấp T, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.

    • - Người đại diện hợp pháp của bà Võ Thị M: Ông Phạm Thanh Đ, sinh năm 1964; địa chỉ: 2 Đường C, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh – là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 27/11/2024) (có mặt)).
    • - Anh Phạm Công D, sinh năm 1984; địa chỉ: ấp T, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh (có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt).
    • - Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1992 (có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt).
    • - Anh Lê Minh H1, sinh năm 1984 (có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt).

    Cùng địa chỉ: khu phố P, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.

Người kháng cáo: Bà Võ Thu M1, ông Trần Văn T2 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo Đơn khởi kiện ngày 23/10/2023, Đơn khởi kiện bổ sung ngày 25/12/2023 và ngày 15/01/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị Phạm Thị O trình bày:

Chị O và chị T1 là chị em chòm xóm. Chị T1 có vay tiền của chị nhiều lần, cụ thể như sau: ngày 17/01/2023 dương lịch vay 50.000.000 đồng; ngày 20/01/2023 dương lịch vay 100.000.000 đồng; ngày 15/4/2023 dương lịch vay 500.000.000 đồng; ngày 05/5/2023 dương lịch vay 100.000.000 đồng. Ngoài ra, chị không nhớ chính xác thời gian, chị T1 có vay của chị 100.000.000 đồng.

Các khoản tiền trước chị cho chị T1 vay không thỏa thuận lãi suất. Riêng số tiền 500.000.000 đồng chị T1 có hứa miệng đến tháng 9 trả lại và sẽ trả tiền lãi cho chị T1 4%/tháng. Đối với các lần vay trước chị T1 chỉ nói miệng mượn tạm 01 tuần hoặc 10 ngày trả lại. Khi vay tiền chị T1 không thế chấp tài sản gì cho chị O. Từ ngày vay đến nay, tiền gốc và lãi chị T1 chưa trả cho chị số tiền nào.

Ngoài ra, chị có tham gia 03 dây hụi do chị T1 làm chủ thảo, cụ thể như sau:

  • Dây hụi thứ nhất: Hụi mệnh giá 2.000.000 đồng/tháng, mở ngày 10/4/2022 dương lịch, hụi gồm 25 phần, chị tham gia 03 phần, góp hụi đến kỳ thứ 17 (ngày 10/8/20223). Đến ngày 01/9/2023, chị T1 tuyên bố bể hụi. Dây hụi này chị T1 thỏa thuận trả lại cho chị 2.000.000 đồng/kỳ (theo giá hụi chết) x 17 kỳ x 03 phần = 102.000.000 đồng.
  • Dây hụi thứ hai: Hụi mệnh giá 2.000.000 đồng/tháng, mở ngày 15/5/2022 dương lịch, hụi gồm 26 phần, chị tham gia 04 phần, góp hụi đến kỳ thứ 16 (ngày 15/8/2023). Đến ngày 01/9/2023, chị T1 tuyên bố bể hụi. Dây hụi này chị T1 thỏa thuận trả lại cho chị 2.000.000 đồng/kỳ (theo giá hụi chết) x 16 kỳ x 04 phần = 128.000.000 đồng nhưng do giấy tính tiền hụi ban đầu chị T1 tính thiếu 01 phần nên chỉ lấy 16 kỳ x 03 phần x 2.000.000 đồng = 96.000.000 đồng. Sau đó, chị T1 cộng thêm 01 phần là 32.000.000 đồng (2.000.000 đồng x 16 kỳ) = 128.000.000 đồng.
  • Dây hụi thứ ba: Hụi mệnh giá 2.000.000 đồng/tháng, mở ngày 20/02/2023 dương lịch, hụi gồm 26 phần, chị tham gia 03 phần, góp hụi đến kỳ thứ 07 (ngày 20/8/20223). Đến ngày 01/9/2023, chị T1 tuyên bố bể hụi. Dây hụi này chị T1 thỏa thuận trả lại cho chị 1.500.000 đồng/kỳ (chị T1 xin trả theo giá trung bình chung là 1.500.000 đồng/kỳ) x 07 kỳ x 03 phần = 31.500.000 đồng.

Như vậy, tổng cộng 10 phần hụi trên chị T1 thỏa thuận trả lại cho chị số tiền 261.500.000 đồng. Tuy nhiên, chị còn nợ chị T1 12.000.000 đồng tiền hụi chết của dây hụi 3.000.000 đồng nên chị T1 cấn trừ 12.000.000 đồng. Do đó, số tiền chị T1 thỏa thuận trả lại cho chị là 249.500.000 đồng.

Trong 10 phần hụi mà chị tham gia của chị T1 có 06 phần hụi của chị và 03 phần hụi chị lấy tên của chị Phạm Hồng T3 và 01 phần hụi chị lấy tên của anh Phạm Công D để tham gia. Tuy nhiên, chị T3 và anh D không trực tiếp tham gia góp hụi với chị T1, không đóng tiền cho chị T1 mà hàng tháng chị T3 và anh D trực tiếp đóng tiền hụi cho chị và khi chị cùng chị T1 chốt tiền hụi thì đã tính luôn 04 phần hụi mà chị lấy tên chị T3 và anh D để tham gia góp hụi. Do đó, nay chị xác định 10 phần hụi trên là của chị. Giữa chị và chị T3, anh D sẽ tự thỏa thuận với nhau về số tiền chị T3, anh D đã góp cho chị. Nếu không tự thỏa thuận được chị, chị T3, anh D sẽ yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ án khác.

Theo thỏa thuận thì ngày 15/9/2023 chị T1 phải trả số tiền 500.000.000 đồng cho chị nhưng ngày 01/9/2023 chị T1 đã tuyên bố bể hụi và đi khỏi địa phương. Đến ngày 15/9/2023 chị T1 mới quay về. Chị và chị T1 ngồi lại tính toán tiền hụi thì hai bên thống nhất 06 dây hụi (bao gồm 10 phần) chị T1 phải trả lại cho chị tổng cộng số tiền 249.500.000 đồng, mỗi tháng chị T1 sẽ trả cho chị 2.000.000 đồng cho đến khi hết nợ, thời gian trả tiền bắt đầu từ ngày 15/10/2023. Đối với số tiền vay 850.000.000 đồng chị T1 cũng viết giấy xác nhận nợ cho chị vào ngày 15/9/2023 và hứa khi nào chị T1 trả xong tiền hụi cho chị thì chị T1 sẽ tiếp tục trả tiền vay cho chị, mỗi tháng trả 2.000.000 đồng cho đến hết nhưng chị không đồng ý vì số tiền chị T1 nợ chị rất lớn. Khi chị T1 lập giấy thiếu tiền vay và tiền hụi vào ngày 15/9/2023 thì hai bên không thỏa thuận trả tiền lãi.

Theo chị T1 thỏa thuận thì đến ngày 15/10/2023 chị T1 phải trả cho chị 2.000.000 đồng nhưng chị T1 không trả nên ngày 23/10/2023 chị nộp đơn khởi kiện thì ngày 25/10/2023 chị T1 chuyển khoản trả cho chị 4.000.000 đồng, ngày 25/11/2023 chị T1 chuyển khoản trả cho chị 4.000.000 đồng, tổng cộng chị T1 đã trả cho chị được 8.000.000 đồng.

Theo Đơn khởi kiện, chị yêu cầu chị T1 trả cho chị số tiền vay gốc là 850.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi và yêu cầu chị T1 trả tiền hụi là 249.500.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Chị T1 đã trả cho chị được 8.000.000 đồng nên số tiền hụi còn nợ lại chị là 241.500.000 đồng. Tại buổi hòa giải ngày 06/9/2024, chị O đồng ý bớt cho chị T1 số tiền hụi 241.500.000 đồng và chỉ yêu cầu chị T1 trả cho chị số tiền vay gốc 850.000.000 đồng. Tại phiên tòa sơ thẩm, chị O vẫn giữ ý kiến rút lại yêu cầu khởi kiện buộc chị T1 số tiền hụi 241.500.000 đồng, chị O cam kết sau này sẽ không khởi kiện chị T1 để yêu cầu trả lại số tiền hụi 241.5000.000 đồng trên nữa và chỉ yêu cầu chị T1 trả số tiền vay gốc còn nợ là 850.000.000 đồng, chị không yêu cầu tính lãi đối với số tiền vay 850.000.000 đồng. Như vậy, tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm, chị T1 không còn nợ chị O số tiền nào khác. Đồng thời chị O yêu cầu hủy hợp đồng mua bán xe ô tô giữa chị T1 và anh Lê Minh H1 đối với chiếc xe ô tô biển số 70A-433.04 nhãn hiệu Mazda được công chứng tại Văn phòng C vào ngày 06/9/2023 và hủy hợp đồng mua bán xe ô tô giữa chị T1 và bà Võ Thị M đối với chiếc xe ô tô biển số 70A-165.69 nhãn hiệu Mazda được công chứng tại Văn phòng C vào ngày 29/8/2023. Căn cứ chị yêu cầu hủy hợp đồng mua bán 02 chiếc xe trên vì chị T1 đang thiếu nợ chị và có tài sản là 02 chiếc xe ô tô nhưng chị T1 không trả nợ cho chị mà lại sang tên 02 chiếc xe cho người khác là hành vi tẩu tán tài sản nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ cho chị.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn – chị Trần Thị Thu T1 và người đại diện hợp pháp của bị đơn – ông Phạm Thanh Đ trình bày:

Chị T1 thừa nhận chị T1 có vay của chị O số tiền 850.000.000 đồng. Tuy nhiên, về thời gian vay tiền và số tiền vay cũng như tiền gốc và lãi chị T1 đã trả cho chị O không giống lời trình bày của chị O. Khi vay tiền chị T1 không thế chấp tài sản gì cho chị O cũng không thỏa thuận thời hạn vay. Sau khi cấn trừ các khoản vay gốc đã trả thì chị T1 nhớ còn nợ chị O số tiền nợ gốc là 700.000.000 đồng, gồm: 100.000.000 đồng vay ngày 10/3/2021; 400.000.000 đồng vay ngày 03/7/2021; 100.000.000 đồng vay ngày 05/5/2023; 100.000.000 đồng vay ngày 01/8/2023. Trong đó, tiền lãi của tất cả các khoản vay chị T1 đã trả cho chị O là 671.120.000 đồng.

Ngoài ra, chị T1 làm chủ hụi nên chị O có thỏa thuận tham gia 03 dây hụi gồm 10 phần hụi do chị T1 làm chủ thảo như chị O trình bày và 02 phần hụi của dây hụi mệnh giá 3.000.000 đồng, chị O đã hốt hết 02 phần hụi của dây hụi 3.000.000 đồng và còn nợ lại 12.000.000 đồng tiền hụi chết nên ngày 15/9/2023 khi hai bên tính tiền hụi thì chị T1 đã cấn trừ 12.000.000 đồng tiền hụi chết mà chị O còn nợ lại chị T1. Vì vậy, số tiền hụi chị T1 còn nợ chị O là 249.500.000 đồng.

Khi tham gia góp hụi, chị O không đóng tiền hụi cho chị T1 mà hai bên thỏa thuận sẽ lấy tiền lãi của số tiền chị T1 vay của chị O để chuyển qua đóng hụi hàng tháng cho chị O, tiền lãi còn lại bao nhiêu thì chị T1 chuyển khoản hoặc trả tiền mặt trực tiếp cho chị O. Anh D và chị T3 không đề nghị tham gia góp hụi với chị T1 và cũng không đóng hụi cho chị T1 tháng nào nên chị T1 không nợ tiền hụi của chị T3 và anh D.

Chị T1 thừa nhận ngày 15/9/2023, chị T1 có lập giấy thiếu tiền vay và giấy thiếu tiền hụi cho chị O với số tiền vay là 850.000.000 đồng và tiền hụi là 249.500.000 đồng. Khi hai bên lập giấy thiếu tiền hụi và tiền vay vào ngày 15/9/2023 thì không thỏa thuận lãi suất nữa nhưng chị T1 và chị O thỏa thuận đối với số tiền hụi mỗi tháng chị T1 trả cho chị O 2.000.000 đồng cho đến khi trả đủ 249.500.000 đồng, thời gian trả sau 01 tháng kể từ ngày lập giấy chốt tiền hụi. Đồng thời, chị T1 cũng thỏa thuận sau khi chị T1 trả xong tiền hụi thì sẽ tiếp tục trả tiền vay cho chị O mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi nào trả đủ thì thôi. Chị O cũng đồng ý với sự thỏa thuận trên và viết vào góc bên phải giấy tính tiền hụi là “đồng ý lấy mỗi tháng 2 triệu” nhưng sau đó chị O lại tự ý bôi xóa nội dung này mà không thông báo cho chị T1 biết. Vào tháng 10 và tháng 11 năm 2023, chị T1 đã chuyển khoản trả cho chị O tổng số tiền 8.000.000 đồng nên tiền hụi chỉ còn nợ chị O 241.500.000 đồng.

Do chị T1 chậm trễ trong việc cung cấp chứng cứ chứng minh việc vay tiền và trả tiền lãi cho chị O, nay chị O cũng đồng ý bớt cho chị T1 số tiền 241.500.000 đồng và chỉ yêu cầu chị T1 trả số tiền 850.000.000 đồng nên chị T1 đồng ý trả cho chị O số tiền 850.000.000 đồng, sau này chị O cũng không được khởi kiện yêu cầu chị T1 trả số tiền 241.500.000 đồng theo giấy thiếu tiền hụi mà chị T1 đã xác nhận với chị O vào ngày 15/9/2023 nữa.

Đối với yêu cầu hủy hợp đồng mua bán 02 chiếc xe ô tô giữa chị T1 và bà M, chị T1 và anh H1 là không có căn cứ bởi các lý do sau: thứ nhất, hợp đồng vay tài sản giữa chị O và chị T1 không có thế chấp bằng tài sản. Thứ hai, 02 chiếc xe trên hình thành không phải bằng tài sản của chị T1 hoặc từ tiền mà chị T1 vay của chị O. Chiếc xe ô tô biển số 70A-165.69 có nguồn tiền do cha mẹ chị T1 trúng số nhưng nhờ chị T1 đứng tên dùm, chiếc xe ô tô biển số 70A-433.04 là tiền của vợ chồng anh H1 mua nhưng nhờ chị T1 đứng tên. Thứ ba, tại thời điểm chị T1 bán xe, không có bản án, quyết định nào của Tòa án tuyên cấm chuyển dịch tài sản là 02 chiếc xe trên. Vì vậy, việc chuyển dịch tài sản là 02 chiếc xe trên là hợp pháp. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu tuyên hủy hợp đồng mua bán 02 chiếc xe ô tô trên của nguyên đơn.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm chị Phạm Hồng T3 và anh Phạm Công D trình bày:

Chị T3 có nhờ chị O tham gia 03 phần hụi của dây hụi 2.000.000 đồng do chị T1 làm chủ thảo, anh D có nhờ chị O tham gia 01 phần hụi của dây hụi 2.000.000 đồng do chị T1 làm chủ thảo. Tuy nhiên, việc chị T3, anh D nhờ chị O tham gia chơi hụi dùm là thỏa thuận giữa chị T3, anh D và O, anh, chị không thông báo cho chị T1 biết và không có bất kỳ giao dịch gì với chị T1. Hàng tháng, anh, chị trực tiếp đóng tiền hụi cho chị O. Do anh, chị không trực tiếp tham gia góp hụi với chị T1 nên không khởi kiện chị T1. Chị O là người trực tiếp tham gia giao dịch góp hụi với chị T1 nên chị O đã khởi kiện chị T1 trong đó có cả phần hụi mà anh, chị nhờ chị O chơi dùm cho anh, chị và anh, chị không có ý kiến gì về việc chị O khởi kiện chị T1. Đối với số tiền anh, chị đã đóng hụi cho chị O, giữa anh, chị và chị O sẽ tự thỏa thuận với nhau nên anh D, chị T3 không yêu cầu chị O trả lại số tiền anh, chị đã đóng hụi cho chị O trong vụ án này. Trường hợp sau này giữa anh, chị và chị O có tranh chấp về số tiền trên thì anh, chị sẽ yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ án khác.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm anh Lê Minh H1 và chị Nguyễn Thị H thống nhất trình bày:

Vào tháng 02/2023, vợ chồng anh, chị có nhu cầu mua xe ô tô nhãn hiệu Mazda nhưng không đủ tiền nên dự định mua trả góp bằng hình thức thế chấp bản chính giấy xe cho Ngân hàng để vay tiền mua xe. Tuy nhiên, do anh, chị đang bị nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Q (viết tắt là Ngân hàng V) nên anh, chị đã nhờ em họ của chị H là chị Trần Thị Thu T1 đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe và đứng tên vay tiền ngân hàng hộ cho anh, chị. Số tiền mua xe ô tô biển số 70A-433.04 nhãn hiệu Mazda là hơn 700.000.000 đồng. Chị H đặt cọc và thanh toán trước số tiền hơn 380.000.000 đồng và vay ngân hàng V số tiền 400.000.000 đồng. Khi đặt cọc và chuyển tiền thanh toán trước một phần tiền mua xe thì chị H là người trực tiếp chuyển khoản vào tài khoản của Công ty Ô. Hàng tháng anh, chị phải trả cho Ngân hàng V số tiền khoảng 13.000.000 đồng đến 14.000.000 đồng, chị H trực tiếp chuyển tiền từ tài khoản của chị H sang tài khoản của chị T1 (tài khoản của chị T1 được Ngân hàng cung cấp để hàng tháng ngân hàng thu hồi nợ). Đến tháng 9/2023, anh, chị có tiền nên đã trả hết nợ cho Ngân hàng V và yêu cầu chị T1 sang tên giấy tờ xe cho anh Lê Minh H1 đứng tên. Khoảng nửa tháng sau anh H1 được cấp giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô. Sau đó, anh H1 làm mất bản gốc giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô nên làm lại giấy xe và được cấp lại vào ngày 11/3/2024 với biển số mới là 70A-453.86. Nay anh H1 và chị H không đồng ý yêu cầu khởi kiện của chị O vì chiếc xe trên là tài sản chung của anh, chị, tiền mua xe là tiền của anh, chị. Từ ngày mua xe cho đến nay, chiếc xe trên vẫn do anh, chị quản lý, sử dụng, chị T1 không sử dụng xe thời gian nào.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm bà Võ Thị M và ông Trần Văn T2 thống nhất trình bày:

Ngày 05/8/2018, ông T2 mua 01 tờ vé số đài Đ và trúng giải đặc biệt nên đưa tiền cho bà M và chị T1 đi mua xe ô tô làm phương tiện đi lại. Đến ngày 10/8/2018, bà M và chị T1 cùng ra salon xe ô tô tại thị trấn G để mua chiếc xe ô tô nhãn hiệu MAZDA biển số 70A-165.69 với giá 1.200.000.000 đồng, tiền mua xe là tiền trúng số của ông T2 nên là tài sản chung của ông T2 và bà M nhưng giấy tờ xe ông, bà để cho chị T1 đứng tên. Lý do ông bà để chị T1 đứng tên dùm vì ông, bà không biết chạy xe và không có bằng lái. Sau khi mua xe thì ông, bà để chị T1 sử dụng xe vì chị T1 có bằng lái xe. Đến ngày 29/8/2023, bà M yêu cầu chị T1 sang tên chiếc xe trên để trả xe lại cho ông, bà. Giá mua bán để trên hợp đồng là 200.000.000 đồng nhưng thực tế chị T1 chỉ ký tên trả lại xe cho ông, bà, không có việc giao nhận tiền giữa hai bên. Hiện chiếc xe trên bà M đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký xe vào ngày 04/10/2023 với biển số xe mới là 70A-489.03 và xe đang do ông, bà quản lý. Nay bà M và ông T2 không đồng ý yêu cầu khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng mua bán xe ô tô giữa chị T1 và bà M vì chiếc xe trên vợ chồng ông, bà mua bằng tài sản của ông, bà và ông, bà chỉ để cho chị T1 đứng tên dùm nên nay ông, bà yêu cầu chị T1 sang tên trả lại tài sản cho ông, bà.

* Tại phiên tòa sơ thẩm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Trong quá trình giải quyết vụ án, chị O tự nguyện rút yêu cầu buộc chị T1 trả lại số tiền 241.500.000 đồng và cam kết không khởi kiện chị T1 về số tiền hụi này nữa. Nay chị O chỉ yêu cầu chị T1 trả cho chị O số tiền vay gốc là 850.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi, phía bị đơn cũng đồng ý trả cho chị O số tiền 850.000.000 đồng nên đề nghị Tòa án ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của hai bên đối với tranh chấp hợp đồng vay tài sản và góp hụi.

Chị T1 đã vay tiền của chị O rất nhiều lần và chưa trả được số tiền nào nhưng ngày 29/8/2023 chị T1 lại ký hợp đồng bán xe ô tô biển số 70A-165.69 nhãn hiệu Mazda cho bà Võ Thị M. Đến ngày 06/9/2023 chị T1 lại tiếp tục ký hợp đồng bán xe ô tô biển số 70A-433.04 nhãn hiệu Mazda cho anh Lê Minh H1 nhưng không trả nợ cho chị O là hành vi tẩu tán tài sản. Thực tế, hện nay chị T1 vẫn đang quản lý, sử dụng chiếc xe ô tô biển số 70A-165.69 (biển số mới 70A.489.03). Do đó, căn cứ các điều 357, 463, 466, 241, 364, 423 Bộ luật Dân sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc chị T1 trả cho chị O số tiền 850.000.000 đồng và tuyên hủy hợp đồng mua bán xe ô tô giữa chị T1 và anh Lê Minh H1 đối với chiếc xe ô tô biển số 70A-433.04 (biển số mới 70A.453.86) nhãn hiệu Mazda được công chứng tại Văn phòng C vào ngày 06/9/2023 và hủy hợp đồng mua bán xe ô tô giữa chị T1 và bà Võ Thị M đối với chiếc xe ô tô biển số 70A-165.69 (biển số mới 70A.489.03) nhãn hiệu Mazda được công chứng tại Văn phòng C vào ngày 29/8/2023.

Tại Bản án số 186/2024/DS-ST ngày 24/9/2024 của TAND thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:

  1. Công nhận sự thỏa thuận giữa chị Phạm Thị O và chị Trần Thị Thu T1 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

    Chị Trần Thị Thu T1 có nghĩa vụ trả cho chị Phạm Thị O số tiền 850.000.000 (T4 trăm năm mươi triệu) đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

    Ghi nhận chị O không yêu cầu tính lãi suất.

  2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị O về việc tranh chấp hợp đồng góp hụi đối với số tiền 241.500.000 đồng.
  3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị O đối với chị Trần Thị Thu T1 về việc yêu cầu hủy hợp đồng mua bán tài sản giữa chị Trần Thị Thu T1 với bà Võ Thị M.

    Tuyên bố hợp đồng mua bán xe ô tô ngày 29/8/2023 giữa chị Trần Thị Thu T1 với bà Võ Thị M, số công chứng 005615, quyển số 12/2023/TP/CC-SCC-HĐGD tại Văn phòng C vô hiệu.

    Bà Võ Thị M có nghĩa vụ trả lại cho chị Trần Thị Thu T1 01 xe ô tô nhãn hiệu Mazda biển số 70A-489.03, số máy PY21133023, số khung: RN2KF5326JC090977.

    Kiến nghị Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi và điều chỉnh lại Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô do Công an thị xã T, tỉnh Tây Ninh cấp cho bà Võ Thị M ngày 04/10/2023 sang cho chị Trần Thị Thu T1 đứng tên theo quyết định của bản án.

  4. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị O đối với chị Trần Thị Thu T1 về việc yêu cầu hủy hợp đồng mua bán ngày 06/9/2023 giữa chị Trần Thị Thu T1 với anh Lê Minh H1 đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mazda biển số 70A-433.04.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 07/10/2024 bà Võ Thị M, ông Trần Văn T2 kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu hủy Hợp đồng mua bán tài sản đối với chiếc xe ô tô biển số 70A-165.69.

Tại phiên toà phúc thẩm:

Các đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo.

Người đại diện hợp pháp của bà Võ Thị M trình bày: Nguồn tiền mua xe ô tô nhãn hiệu Mazda biển số 70A-489.03 là do ông T2 trúng số, có tổ chức tiệc ăn mừng, có chị O tham gia và có làm từ thiện nhiều người biết. Chị T1 sử dụng xe từ năm 2018 là mặc nhiên vì chị T1 là con của bà M, ông T2 ở chung nhà, việc chị T1 sử dụng xe không đương nhiên là chủ sở hữu. Tranh chấp giữa chị O và chị T1 từ ngày 28/12/2023 trong khi chị T1 đã đứng tên giấy xe từ tháng 8 năm 2018, cách nay 5 năm. Chị T1 chuyển nhượng cho bà M trước khi xảy ra tranh chấp với chị O, tài sản không bị kê biên, cưỡng chế thi hành án nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà M, ông T2.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Không đồng ý yêu cầu kháng cáo của bà M, ông T2; giữ nguyên quan điểm như đã trình bày.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:

Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt nội quy phiên tòa;

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có người đại diện hợp pháp tham gia phiên tòa; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm ông T2, chị H, anh H1, chị T3, anh D vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên là phù hợp theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung giải quyết vụ án:

Nguyên đơn chị O yêu cầu chị T1 trả số tiền vay là 850.000.000 đồng và tiền hụi là 241.500.000 đồng. Tại buổi hòa giải ngày 06/9/2024, chị O đồng ý bớt cho chị T1 số tiền hụi 241.500.000 đồng và chỉ yêu cầu chị T1 trả cho chị O số tiền vay 850.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Đồng thời chị O yêu cầu hủy hợp đồng mua bán xe ô tô giữa chị T1 và anh Lê Minh H1 đối với chiếc xe ô tô biển số 70A-433.04 nhãn hiệu Mazda được công chứng tại Văn phòng C vào ngày 06/9/2023 và hủy hợp đồng mua bán xe ô tô giữa chị T1 và bà Võ Thị M đối với chiếc xe ô tô biển số 70A-165.69 nhãn hiệu Mazda được công chứng tại Văn phòng C vào ngày 29/8/2023.

Chị T1 đồng ý trả cho chị O số tiền vay và hụi tổng cộng là 850.000.000 đồng, không đồng ý yêu cầu hủy hợp đồng mua bán 02 chiếc xe ô tô giữa chị T1 với bà M; chị T1 với anh H1.

[3] Xét yêu cầu kháng cáo của bà Võ Thị M và ông Trần Văn T2 thấy rằng:

Bà M, ông T2, chị T1 đều thống nhất trình bày chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mazda biển số 70A-165.69 là tài sản chung của ông T2, bà M được hình thành từ nguồn tiền ông T2 trúng số và ông, bà chỉ nhờ chị T1 đứng tên dùm nên đến tháng 8/2023 bà M yêu cầu chị T1 ký hợp đồng mua bán để trả lại xe cho bà M, ông T2. Xét thấy, chị T1 được cấp giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô vào ngày 10/8/2018 và từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký xe thì chị T1 là người trực tiếp quản lý, sử dụng chiếc xe trên. Bà M, ông T2, chị T1 không cung cấp được chứng cứ chứng minh bà M, ông T2 nhờ chị T1 đứng tên hộ giấy tờ xe. Ngoài ra, thời điểm cuối tháng 8/2023, chị T1 đã bắt đầu ngưng các dây hụi mà chị tổ chức và đến tháng 9/2023 chị tiến hành chốt tiền nợ hụi và nợ vay với chị O; việc chuyển nhượng lại xảy ra tại thời điểm ngưng các dây hụi và hai bên chuyển nhượng chỉ là hình thức, không có việc giao nhận tiền. Qua xác minh, ngoài tài sản là chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mazda biển số 70A-165.69 trên chị T1 không còn tài sản nào khác. Do đó, có căn cứ xác định hợp đồng mua bán xe ngày 29/8/2023 giữa chị T1 và bà M là giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba nên bị vô hiệu theo Điều 124 Bộ luật Dân sự. Cấp sơ thẩm tuyên bố hợp đồng mua bán xe ô tô ngày 29/8/2023 giữa chị Trần Thị Thu T1 với bà Võ Thị M, số công chứng 005615, quyển số 12/2023/TP/CC-SCC-HĐGD tại Văn phòng C vô hiệu là có căn cứ.

[4] Tại phiên tòa phúc thẩm, ông T2, bà M kháng cáo nhưng không có chứng cứ mới chứng minh nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông bà.

Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên ông T2, bà M phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[5] Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh là có căn cứ chấp nhận, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Võ Thị M, ông Trần Văn T2.

- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 186/2024/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2024, của Toà án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 228, Điều 244, Điều 246 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các điều 463, 466, 471, 430, 124, 131 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

  1. Công nhận sự thỏa thuận giữa chị Phạm Thị O và chị Trần Thị Thu T1 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

    Chị Trần Thị Thu T1 có nghĩa vụ trả cho chị Phạm Thị O số tiền 850.000.000 (T4 trăm năm mươi triệu) đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

    Ghi nhận chị O không yêu cầu tính lãi suất.

  2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị O về việc tranh chấp hợp đồng góp hụi đối với số tiền 241.500.000 đồng.
  3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị O đối với chị Trần Thị Thu T1 về việc yêu cầu hủy hợp đồng mua bán tài sản giữa chị Trần Thị Thu T1 với bà Võ Thị M.

    Tuyên bố hợp đồng mua bán xe ô tô ngày 29/8/2023 giữa chị Trần Thị Thu T1 với bà Võ Thị M, số công chứng 005615, quyển số 12/2023/TP/CC-SCC-HĐGD tại Văn phòng C vô hiệu.

    Bà Võ Thị M có nghĩa vụ trả lại cho chị Trần Thị Thu T1 01 xe ô tô nhãn hiệu Mazda biển số 70A-489.03, số máy PY21133023, số khung: RN2KF5326JC090977.

    Kiến nghị Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi và điều chỉnh lại Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô do Công an thị xã T, tỉnh Tây Ninh cấp cho bà Võ Thị M ngày 04/10/2023 sang cho chị Trần Thị Thu T1 đứng tên theo quyết định của bản án.

  4. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị O đối với chị Trần Thị Thu T1 về việc yêu cầu hủy hợp đồng mua bán ngày 06/9/2023 giữa chị Trần Thị Thu T1 với anh Lê Minh H1 đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mazda biển số 70A-433.04.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    1. Chị Trần Thị Thu T1 phải chịu 19.050.000 (Mười chín triệu không trăm năm mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
    2. Chị Phạm Thị O phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị O đã nộp là 25.213.000 (Hai mươi lăm triệu hai trăm mười ba nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015180 ngày 22 tháng 12 năm 2023 và Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015188 ngày 27 tháng 12 năm 2023 và Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015231 ngày 18 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, hoàn trả lại cho chị O số tiền 24.913.000 (Hai mươi bốn triệu chín trăm mười ba nghìn) đồng.
  6. Về án phí dân sự phúc thẩm:

    Bà Võ Thị M, ông Trần Văn T2 phải chịu 300.000 đồng, khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà M, ông T2 đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số: 0000407 ngày 15/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, ghi nhận bà M, ông T2 đã nộp xong.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - Phòng KTNV.TAT;
  • - TAND thị xã Trảng Bàng;
  • - CCTHADS thị xã Trảng Bàng;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu tập án; Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

đã ký

Dương Thúy Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 586/2024/DS-PT ngày 03/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản và góp hụi; yêu cầu hủy hợp đồng mua bán tài sản

  • Số bản án: 586/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và góp hụi; yêu cầu hủy hợp đồng mua bán tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 03/12/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: O yêu cầu T trả 850.000.000 đồng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger