TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 584/2025/DS-PT
Ngày: 21/11/2025
VV/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản,
đòi lại giấy chứng nhận QSD đất”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thu Hương;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đình Trung
Bà Đào Thị Kiều Vân
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Phúc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Lê Hồng Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 380/2025/TLPT-DS ngày 20/10/2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, đòi lại giấy chứng nhận QSD đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 37/2025/DS-ST, ngày 16 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành (nay là TAND khu vực 2, tỉnh Đồng Nai) bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 455/2025/QĐ-PT ngày 28/10/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1040/2025/QĐPT-DS ngày 11/11/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Thái Thị T, sinh năm 1964.
Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai. (Nay là xã N, tỉnh Đồng Nai).
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1963 (văn bản ủy quyền ngày 08/3/2023)
Địa chỉ: C tổ A, ấp X, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai. (Nay là xã N, tỉnh Đồng Nai).
- Bị đơn: Bà Hứa Thị D, sinh năm 1966.
Ông Lê Văn L1, sinh năm 1963
Cùng địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai. (Nay là xã N, tỉnh Đồng Nai).
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Anh Lê Huy H, sinh năm 1982 (văn bản ủy quyền ngày 08/3/2023).
Địa chỉ: Tổ G, ấp A, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai. (Nay là xã P, tỉnh Đồng Nai).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Công ty Cổ phần L2 (nay đổi tên thành: Công ty Cổ phần L3).
- Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1962
Người đại diện theo pháp luật: ông Cao Ngọc P – Chức vụ: Tổng giám đốc
Địa chỉ: số B P, phường F, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.(Nay là phường G, Thành phố Hồ Chí Minh).
Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
(Nay là xã N, tỉnh Đồng Nai).
(Các đương sự có yêu cầu vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn trình bày :
Ngày 20/10/2022 bà Thái Thị T cho vợ chồng ông Lê Văn L1, bà Hứa Thị D vay số tiền 5.000.000.000 đồng (năm tỷ đồng), thỏa thuận thời hạn vay 03 tháng – có lập giấy vay tiền (vợ chồng ông L1 ký tên, tờ giấy do con gái ông L1 là chị Đ ghi nội dung), bà T giao tiền 01 lần tại nhà ông L1. Khi vay tiền, ông L1 và bà D thế chấp cho bà T 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm:
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 012248 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp ngày 19/7/2012 cho Công ty Cổ phần L2 đứng tên (thửa 101 tờ bản đồ 70 xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai).
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BT 279775 do Ủy ban nhân dân huyện N cấp ngày 06/10/2015 cho ông Lê Văn L1, bà Hứa Thị D đứng tên (thửa 13 tờ bản đồ 52 xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai).
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BT 279769 do Ủy ban nhân dân huyện N cấp ngày 06/10/2015 cho ông Lê Văn L1, bà Hứa Thị D đứng tên (thửa 12 tờ bản đồ 52 xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai).
Hai bên thỏa miệng lãi suất 2%/tháng. Tuy nhiên, từ khi vay tiền cho đến nay ông L1, bà D chưa đóng lãi cho bà T lần nào.
Đến hạn trả nợ, bà T nhiều lần yêu cầu vợ chồng ông L1 phải thanh toán nợ gốc và lãi nhưng ông L1, bà D không trả nên phát sinh tranh chấp.
Nay bà T yêu cầu vợ chồng ông L1 phải trả cho bà nợ gốc 5 tỷ đồng, lãi suất 10%/năm theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, thời hạn tính lãi từ ngày 20/10/2022 cho đến nay (16/6/2025).
Số tiền bà T cho ông L1, bà D vay là tài sản chung của vợ chồng (chồng bà T là ông Nguyễn Văn H1).
Trong số tiền cho ông L1, bà D vay có một phần trước đây bà The mượn của bà L nhưng nay đã trả cho bà L xong, không liên quan đến vụ án này nên bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các thửa 101 tờ bản đồ 70, thửa 12 và 13 tờ bản đồ 50 xã L mà ông L1, bà D thế chấp cho bà T, khi nào vợ chồng ông L1 bà D trả nợ xong thì bà T sẽ trả lại cho họ.
Việc anh H (đại diện bị đơn) khai ông L1 đưa bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để nhờ bà T liên hệ với Ngân hàng để Ngân hàng dễ dàng cho ông L1, bà D vay tiền là không đúng.
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn anh Lê Huy H trình bày:
Bà Hứa Thị D là vợ của ông Lê Văn L1. Gia đình ông L1 và bà D với bà T cùng xóm. Ông L1, bà D được biết bà T quen biết nhiều ông bà làm lớn ở huyện và tỉnh. Vợ chồng ông L1 và bà D cần vay vốn Ngân hàng nên có đưa bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà T để bà T liên hệ với Ngân hàng để Ngân hàng dễ dàng cho ông L1, bà D vay tiền.
Ông L1 khẳng định vợ chồng ông bà không có vay tiền của bà Thái Thị The .
Chữ viết từ “Cộng hòa.....đến ký tên” của giấy biên nhận mượn tiền lập ngày 20/10/2022 không phải chữ viết của vợ chồng ông L1 và bà D. Hơn nữa giấy không được đánh số trang, hai trang không có nội dung liên kết với nhau. T1 một đánh dấu V tức là hết nội dung. Chữ ký L1 và chữ viết Lê Văn L1 không phải chữ ký, chữ viết của ông Lê Văn L1. Chữ ký và chữ viết Hứa Thị D không phải chữ ký và chữ viết của bà Hứa Thị D.
Thông qua yêu cầu khởi kiện của bà Thái Thị T, anh H đại diện theo ủy quyền cho bị đơn không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện.
Ông Lê Văn L1 khởi kiện phản tố yêu cầu: Hủy giấy biên nhận mượn tiền lập ngày 20/10/2022. Buộc bà Thái Thị T giao trả cho ông Lê Văn L1 bản chính các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm: số BK 012248 thửa đất số 101 tờ bản đồ 70 xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 279769 thửa đất số 12 tờ bản đồ 52 xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 279775 thửa đất số 13 tờ bản đồ 52 xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
Ngày 06/6/2025, anh Lê Huy H có đề nghị xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần L3 trình bày:
Năm 2008 Công ty thực hiện một số dự án tại xã L và xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
Ngày 10/12/2008, Công ty có bồi thường và giải phóng mặt bằng phần đất diện tích 6.373m² của ông Lê Văn L1 (đính kèm hợp đồng số 16/HĐCN). Theo nội dung hợp đồng này, ngoài số tiền Công ty thanh toán cho ông Lê Văn L1, Công ty còn hỗ trợ 01 nền đất tái định cư đã có cơ sở hạ tầng tại dự án L mở rộng 27ha thuộc xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai, có ký hiệu mã nền 6C-153 diện tích 120m², số tờ 70 thửa 101.
Vào năm 2012, nền 6C-153 diện tích 120m² số tờ 70 thửa 101 được UBND tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 012248, số vào sổ cấp GCN: CT 14273 (“Giấy CN.QSDĐ”), Công ty đang là người sử dụng đất trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Theo quy định của Cơ quan quản lý Nhà nước, ông Lê Văn L1 phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ xây dựng nhà theo quy hoạch được duyệt và hoàn công theo quy định sau đó chủ đầu tư sẽ phối hợp thực hiện thủ tục sang tên Giấy CN.QSDĐ cho ông Lê Văn L1.
Việc ông Lê Văn Lợi thế C giấy CN.QSDĐ số BK 012248 cho bà Thái Thị T để vay tiền, Công ty không được ông Lê Văn L1 hoặc bất kỳ ai thông báo về giao dịch giữa ông Lê Văn L1 và bà Thái Thị The .
Thỏa thuận vay tiền giữa ông Lê Văn L1 và bà Thái Thị T là thỏa thuận riêng giữa hai bên và Công ty không liên quan đến giao dịch này. Công ty đề nghị được vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc và trong tất cả các phiên xét xử của Tòa án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H1 trình bày:
Số tiền bà T cho bà D, ông L1 vay là tài sản chung của vợ chồng ông. Từ trước đến nay việc quản lý tiền bạc trong gia đình do bà T đảm nhận. Ông H1 có nghe nói về việc cho bà D, ông L1 vay tiền nhưng cụ thể cho vay khi nào, thời gian bao lâu thì ông không rõ.
Nay bà T khởi kiện yêu cầu bà D, ông L1 phải trả nợ, ông đồng ý. Tuy nhiên ông để cho bà T đứng ra khởi kiện một mình, cũng đề nghị Tòa án buộc bà D, ông L1 trả tiền cho một mình bà T. Do không tranh chấp và bận việc nên ông H1 xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
Quyết định của Bản án sơ thẩm:
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 37/2025/DS-ST, ngày 16 tháng 6 năm 2026, Tòa án nhân dân khu vực 2, tỉnh Đồng Nai đã căn cứ các Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Thái Thị T về việc: Yêu cầu xác định quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa 101 tờ bản đồ 70 xã L, thửa 13 tờ bản đồ 52 xã L, thửa 12 tờ bản đồ 52 xã L, thửa 53 tờ bản đồ 24 xã P mà vợ chồng bà Hứa Thị D đã thế chấp là tài sản đảm bảo cho việc thi hành án.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thái Thị T về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối bị đơn với ông Lê Văn L1, bà Hứa Thị D.
Xử: Buộc ông Lê Văn L1, bà Hứa Thị D phải liên đới trả cho bà Thái Thị T tổng số tiền 6.326.889.000 đồng (sáu tỷ, ba trăm hai mươi sáu triệu, tám trăm tám mươi chín ngàn đồng).
3. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Thái Thị T về việc trả lại 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 012248 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp ngày 19/7/2012 cho Công ty Cổ phần L2 đứng tên (thửa 101 tờ bản đồ 70 xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai); Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BT 279775 do Ủy ban nhân dân huyện N cấp ngày 06/10/2015 cho ông Lê Văn L1, bà Hứa Thị D đứng tên ( thửa 13 tờ bản đồ 52 xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai); Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BT 279769 do Ủy ban nhân dân huyện N cấp ngày 06/10/2015 cho ông Lê Văn L1, bà Hứa Thị D đứng tên (thửa 12 tờ bản đồ 52 xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai) cho ông Lê Văn L1 và bà Hứa Thị D sau khi ông L1, bà D trả đủ số nợ cho bà Thái Thị The .
4. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Lê Văn L1 về việc hủy giấy biên nhận mượn tiền lập ngày 20/10/2022 và buộc bà Thái Thị T giao trả cho ông Lê Văn L1 bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm: số BK 012248 thửa đất số 101 tờ bản đồ 70 xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai; số BT 279769 thửa đất số 12 tờ bản đồ 52 xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai; số BT 279775 thửa đất số 13 tờ bản đồ 52 xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 27/6/2025, bà Hứa Thị D và ông Lê Văn L1 ủy quyền cho ông Lê Huy H kháng cáo đề nghị hủy bản án dân sự sơ thẩm số Bản án dân sự sơ thẩm số: 37/2025/DS-ST, ngày 16 tháng 6 năm 2025.
5. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật ở giai đoạn phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung kháng cáo: Áp dụng khoản 1, điều 308 BLTTDS, không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Huy H - người đại diện theo ủy quyền của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 37/2025/DS-ST ngày 16/6/2025 của TAND huyện Nhơn Trạch (nay là TAND khu vực 2), tỉnh Đồng Nai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp và tư cách đương sự: Tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng và đầy đủ.
[2] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Lê Huy H đại diện theo ủy quyền của bà Hứa Thị D và anh Lê Văn L1 trong thời hạn luật định, đương sự được miễn nộp tiền tạm ứng án phí đúng quy định nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn nhận thấy:
Hồ sơ thể hiện: Theo yêu cầu của bị đơn, Tòa án đã trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết trên “Giấy biên nhận mượn tiền” (BL 35), kết luận giám định số 6403/KL-KTHS ngày 13/01/2025 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận: Chữ ký đứng tên Lê Văn L1, chữ viết Lê Văn L1 trên dòng chữ “chồng”, Lê Văn L1 trên tài liệu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký, chữ viết đứng tên Lê Văn L1 trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M7 là do cùng một người ký, viết ra.
Căn cứ Kết luận giám định số 68/KL-KTHS ngày 28/3/2025 Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh đã giám định chữ ký, chữ viết ngay dưới dòng chữ “Ký tên”...ở mặt sau của “Giấy biên nhận mượn tiền ngày 20/10/2022”. Kết luận:...Chữ ký dạng chữ viết “Lợi” dưới mục “Ký tên” trên tài liệu cần giám định so với chữ ký dạng chữ viết “Lợi”, chữ viết họ tên “Lê Văn L1” tại trang 3 trên tài liệu mẫu so sánh là do cùng một người viết (ký) ra...Chữ ký dạng chữ viết “Dung” dưới mục ký tên trên tài liệu cần giám định so với chữ viết đứng tên Hứa Thị D tại trang 3 trên tài liệu mẫu so sánh là do cùng một người viết (ký) ra. Chữ ký dạng chữ viết “Dung”, chữ viết Hứa Thị D dưới mục “Ký tên” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A so với chữ viết đứng tên Hứa Thị D trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M7 là do cùng một người viết (ký) ra.
Dù cơ sở xác định: Ngày 20/10/2022, bà Thái Thị T cho vợ chồng ông Lê Văn L1, bà Hứa Thị D vay số tiền 5.000.000.000 đồng (năm tỷ đồng) với thời hạn vay 03 tháng. Để đảm bảo cho số tiền vay, ông L1 và bà D đã giao cho bà T giữ bản chính 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất gồm: số BK 012248 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp ngày 19/7/2012 cho Công ty Cổ phần L2 đứng tên (thửa 101 tờ bản đồ 70 xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai); Số BT 279775 do Ủy ban nhân dân huyện N cấp ngày 06/10/2015 cho ông Lê Văn L1, bà Hứa Thị D đứng tên (thửa 13 tờ bản đồ 52 xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai); Số BT 279769 do Ủy ban nhân dân huyện N cấp ngày 06/10/2015 cho ông Lê Văn L1, bà Hứa Thị D đứng tên (thửa 12 tờ bản đồ 52 xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai).
Anh Lê Huy H (đại diện bị đơn) không thừa nhận số tiền nợ, không thừa nhận chữ ký và chữ viết của ông L1, bà D trong giấy biên nhận mượn tiền ngày 20/10/2022 và cho rằng bị đơn đưa 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để nhờ bà T thôi thủ tục vay tiền Ngân hàng. Lời khai này không được bà T thừa nhận, trái với kết luận giám định, phía bị đơn cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình. Vì vậy, đủ cơ sở xác định ngày 20/10/2022 ông L1 và bà D có vay của bà Thái Thị T số tiền 5 tỷ đồng, cho đến nay ông bà không chứng minh được đã trả. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả số nợ gốc 5 tỷ đồng là phù hợp quy định pháp luật.
Về lãi suất: Bà T khai cho vợ chồng ông L1 (bị đơn) vay tiền với lãi suất 2%/ tháng, đại diện bị đơn không thừa nhận nợ gốc, kể cả việc thỏa thuận lãi suất. Tuy nhiên giấy nợ có ghi thời hạn vay 03 tháng, đến nay vợ chồng ông L1 không chứng minh được đã trả lãi cho bà T nên bà T yêu cầu tính lãi theo quy định pháp luật kể từ ngày vay cho đến ngày xét xử với mức lãi suất 10%/năm là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 466 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Cụ thể tiền lãi là: 5.000.000.000 đồng x 10%/năm x 02 năm 07 tháng 25 ngày (từ ngày 20/10/2022 đến ngày 16/6/2025) = 1.326.888.887 đ.
Như vậy ông L1, bà D phải trả cho bà T tổng cộng gốc và lãi là 6.326.889.000 đ.
[4] Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn về việc hủy giấy biên nhận mượn tiền ngày 20/10/2022 và buộc bà T trả lại 3 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Như phần nhận định trên, ông Lê Văn L1 và bà Hứa Thị D có vay tiền của bà Thái Thị The . Hiện nay, ông bà chưa trả số nợ gốc và nợ lãi cho bà T nên việc bị đơn yêu cầu hủy giấy biên nhận mượn tiền là không có căn cứ chấp nhận. Tại phiên tòa sơ thẩm, bà Thái Thị T tự nguyện trả lại 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L1, bà D sau khi ông bà trả xong nợ cho bà T là tự nguyện nên Tòa án cấp sơ thẩm ghi nhận là phù hợp quy định tại Điều 166 BLDS năm 2015.
Vì lẽ trên, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là có căn cứ pháp luật. Vì vậy, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của phía bị đơn về việc hủy án, hoặc sửa án về đường lối; cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[6]. Công ty Cổ phần L3 không có yêu cầu gì đối với hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa Công ty với ông Lê Văn L1 liên quan đến thửa đất số 101 tờ bản đồ 70 xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai nên không xem xét.
[5] Về án phí phúc thẩm: Bà D, phải nộp 300.000đ, ông L1 được miễn.
[6] Ý kiến và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai về đường lối giải quyết vụ án phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, nhận định của Hội đồng xét xử và quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo của bà Hứa Thị D và ông Lê Văn L1. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 37/2025/DS-ST ngày 16 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành (nay là TAND khu vực 2, tỉnh Đồng Nai).
Áp dụng các điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Thái Thị T về việc: Yêu cầu xác định quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa 101 tờ bản đồ 70 xã L, thửa 13 tờ bản đồ 52 xã L, thửa 12 tờ bản đồ 52 xã L, thửa 53 tờ bản đồ 24 xã P mà vợ chồng bà Hứa Thị D đã thế chấp là tài sản đảm bảo cho việc thi hành án.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thái Thị T về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối bị đơn với ông Lê Văn L1, bà Hứa Thị D.
Xử: Buộc ông Lê Văn L1, bà Hứa Thị D phải liên đới trả cho bà Thái Thị T tổng số tiền 6.326.889.000 đồng (sáu tỷ, ba trăm hai mươi sáu triệu, tám trăm tám mươi chín ngàn đồng).
Kể từ ngày có đơn thi hành án của người được thi hành án đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành tương ứng với thời gian chưa thi hành án với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
- Ghi nhận sự tự nguyện của bà Thái Thị T về việc trả lại 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 012248 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp ngày 19/7/2012 cho Công ty Cổ phần L2 đứng tên (thửa 101 tờ bản đồ 70 xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai); Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BT 279775 do Ủy ban nhân dân huyện N cấp ngày 06/10/2015 cho ông Lê Văn L1, bà Hứa Thị D đứng tên ( thửa 13 tờ bản đồ 52 xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai); Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BT 279769 do Ủy ban nhân dân huyện N cấp ngày 06/10/2015 cho ông Lê Văn L1, bà Hứa Thị D đứng tên (thửa 12 tờ bản đồ 52 xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai) cho ông Lê Văn L1 và bà Hứa Thị D sau khi ông L1, bà D trả đủ số nợ cho bà Thái Thị The .
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Lê Văn L1 về việc hủy giấy biên nhận mượn tiền lập ngày 20/10/2022 và buộc bà Thái Thị T giao trả cho ông Lê Văn L1 bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm: số BK 012248 thửa đất số 101 tờ bản đồ 70 xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai; số BT 279769 thửa đất số 12 tờ bản đồ 52 xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai; số BT 279775 thửa đất số 13 tờ bản đồ 52 xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
- Về chi phí tố tụng: Ông Lê Văn L1, bà Hứa Thị D phải chịu 7.322.000 đồng (đã nộp 5.000.000 đồng; ông L1 và bà D còn phải trả cho bà Thái Thị T số tiền 2.322.000 đồng).
- Về án phí: Trả lại cho bà Thái Thị T số tiền 57.800.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009883 ngày 21/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
Ông Lê Văn L1 được miễn tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về án phí phúc thẩm: Bà Hứa Thị D phải nộp 300.000đ được trừ vào biên lai thu tạm ứng án phí số 23526 ngày 18/7/2025 của thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.
Ông Lê Văn L1 được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Thu Hương |
Bản án số 584/2025/DS-PT ngày 21/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng vay tài sản, đòi lại giấy chứng nhận qsd đất
- Số bản án: 584/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, đòi lại giấy chứng nhận QSD đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, đòi lại giấy chứng nhận QSD đất
