|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 584/2024/HSST Ngày 30 - 10 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Bảo
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Vương Thị Khánh Loan;
Ông Nguyễn Văn Năm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Đặng Xuân Toàn – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 600/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 581/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Duy Q (tên gọi khác: Nguyễn Duy C); Sinh năm: 1970 tại tỉnh Hưng Yên.
Nơi cư trú: Không có nơi cư trú rõ ràng, không đăng ký thường trú; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ văn hóa (học vấn): 07/12; nghề nghiệp: xây dựng; con ông Nguyễn Duy P, sinh năm 1935 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1939 (đã chết); bị cáo có vợ là Nguyễn Thị H, sinh năm 1985 và có 02 con, lớn sinh năm 2012 và nhỏ sinh năm 2014.
Tiền án: Ngày 07/4/2003, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xử phạt 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 04/2003/HSST.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt truy nã ngày 14/6/2024, bị tạm giữ từ ngày 15/6/204 và chuyển tạm giam theo Lệnh tạm giam số 1185/LTG-ĐCSHS ngày 23/6/2024 của Cơ quanh cảnh sát điều tra Công an thành phố B cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1959
Địa chỉ: ấp B, xã B, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Duy Q là đối tượng có 01 (một) tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” (Toà án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước, xử phạt 06 tháng tù giam theo bản án số 04/2003/HSST ngày 07/4/2003). Chưa được xoá án tích, lại tiếp tục thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản”.
Vụ thứ 1: Vào ngày 23/8/2003, Q và Nguyễn Đăng G, sinh năm 1956, ngụ tại phường E, quận T, thành phố Hồ Chí Minh rủ nhau đi đến thành phố B trộm cắp tài sản. Sau đó cả hai chuẩn bị 01 xà beng, 01 tua vít dùng để cạy phá cửa rồi sử dụng xe đạp chở nhau đi từ huyện D, tỉnh Bình Dương đến khu vực phường T thành phố B để trộm cắp. Khoảng 02 giờ ngày 24/8/2003, khi đi đến trước nhà ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1966, ở địa chỉ A, tổ B, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thấy đã khóa cửa, tắt điện thì G đứng ngoài cảnh giới, Q đi vào dùng xà beng cạy phá khóa cửa chính đột nhập vào nhà lấy trộm xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, biển số 60L4-9145 của ông L và đẩy xe ra bên ngoài đường. Sau khi lấy trộm được xe, Q điều khiển xe mô tô biển số 60L4-9145 chạy đi, còn G đạp xe đạp chạy theo sau và cả hai đi đến huyện D, tỉnh Bình Dương. Sau đó, Q đem xe đi bán cho một đối tượng không rõ nhân thân lai lịch được 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) và chia cho Giảng 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng), số tiền còn lại Quỷ tiêu xài cá nhân hết.
Lời khai bị can Q (Bút lục 62-71, 74A). Lời khai của G (Bút lục 122-125). Lời khai của bị hại ( Bút lục 75-78).
Vật chứng vụ án:
- + 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, biển số 60L4-9145, số khung: 319394, số máy 0319441. Q bán cho đối tượng không rõ lai lịch nên không thu hồi được.
- + 01 xe đạp, 01 xà beng và 01 tua vít sử dụng vào việc phạm tội, đã được xử lý trong vụ án Nguyễn Đăng G và đồng bọn phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 418/HSST, ngày 15/11/2004.
- - Kết luận định giá tài sản số 190/KI-HĐĐGTS ngày 17/6/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B trị giá tài sản bị chiếm đoạt vào thời điểm tháng 08/2003 như sau: Xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, biển số 60L4-9145 có trị giá là 19.992.000 đồng (Mười chín triệu chín trăm chín mươi hai nghìn đồng) (Bút lục 33). Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Văn L đã bán nhà đi khỏi địa phương, hiện không xác
định được đang ở đâu nên Cơ quan điều tra chưa làm việc được để xác định yêu cầu về dân sự.
Vụ thứ 2: Ngoài vụ trộm nêu trên, vào ngày 19/01/2004, Q và G tiếp tục rủ nhau đi trộm cắp tài sản, cả hai chuẩn bị 01 xà beng, 01 tua vít và sử dụng xe mô tô không rõ biển số chở nhau đi đến khu vực huyện V, tỉnh Đồng Nai tìm tài sản để trộm cắp. Khoảng 01 giờ ngày 20/01/2004 khi đến trước nhà ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1959, tại ấp Đ, xã B, huyện V, tỉnh Đồng Nai nhìn thấy trong nhà đã khoá cửa đi ngủ, Q đứng ngoài cảnh giới, G đi vào bên trong dùng xà beng, tua vít phá khóa cửa trộm cắp của ông Đ 03 xe mô tô gồm: Xe nhãn hiệu Prety, biển số 60L7-8159; Xe nhãn hiệu Jiulong, biển số: 60K8-3111; Xe nhãn hiệu Honda Future, biển số: 60H4-9984. Khi các đối tượng vừa lấy xe từ trong nhà đưa ra ngoài sân thì nhìn thấy người dân đi qua. Sợ bị phát hiện nên Q và G bỏ xe lại tẩu thoát.
Ngày 03/4/2004 Nguyễn Đăng G bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B bắt tạm giam và sau đó Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa đưa ra xét xử theo bản án số: 418/HSST ngày 15/11/2004. Xử phạt G 07 năm tù giam về tội: “Trộm cắp tài sản”.
Ngày 28/5/2004, Q bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B khởi tố bị can và ra quyết định truy nã về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
Đến ngày 14 tháng 6 năm 2024, Q bị Công an xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng bắt theo quyết định truy nã khi đang bỏ trốn tại huyện H, thành phố Đà Nẵng.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Duy Q khai nhận hành vi phạm tội như nội dung trên. Lời khai bị can (Bút lục 62-71, 74A); Lời khai của bị hại (Bút lục 96-99, 105); Lời khai người làm chứng (Bút lục 100-104);
- Vật chứng vụ án:
- + Xe mô tô, 01 xà beng, 01 tua vít các đối tượng sử dụng vào việc phạm tội, đã được xử lý trong vụ án Nguyễn Đăng G và đồng bọn phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 418/HSST, ngày 15/11/2004.
- + Xe mô tô nhãn hiệu Prety, biển số: 60L7-8159, số máy: 00003184, số khung: 003184; xe mô tô nhãn hiệu Jiulong, biển số: 60K8-3111, số máy: 10489101, số khung: 017687; xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, biển số 60H4- 9984, số máy: 050404, số khung: 0050418. Sau khỉ gây án Q và G bỏ lại hiện trường, Cơ quan điều tra không thu giữ.
- - Kết luận định giá tài sản số 217/KL-HĐĐGTS ngày 03/7/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B trị giá của các xe mô tô bị chiếm đoạt vào thời điểm tháng 01/2004 như sau: Xe mô tô nhãn hiệu Prety, biển số 60L7-8159 là: 7.200.000 đồng (Bảy triệu hai trăm nghìn đồng); Xe mô tô nhãn hiệu Jiulong, biển số 60K8-3111 là: 6.650.000 đồng (Sáu triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng); Xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, biển số 60H4-9984 là: 14.400.000 đồng (Mười bốn triệu bốn
trăm nghìn đồng). Tổng trị giá của cả 03 xe mô tô là: 28.250.000 đồng (Hai mươi tám triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) (Bút lục 37).
- Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Văn Đ không yêu cầu bồi thường.
Tại bản Cáo trạng số 590/CT-VKSBH ngày 10 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Nguyễn Duy Q về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; các điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): xử phạt bị cáo Nguyễn Duy Q từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Về án phí buộc bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Duy Q thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện Kiểm sát. Nói lời sau cùng, bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, bị cáo đã ăn năn hối cải, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình và hòa nhập lại cuộc sống.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị hại Nguyễn Văn Đ vắng mặt tại phiên tòa. Việc vắng mặt của bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử do đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án, không có yêu cầu về mặt dân sự và các yêu cầu khác; do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ cơ sở kết luận:
Từ tháng 08/2003 đến tháng 01/2004, Nguyễn Duy Q và Nguyễn Đăng G đã cùng nhau thực hiện 02 vụ “Trộm cắp tài sản” sau:
Vụ thứ 1: Khoảng 02 giờ vào ngày 24/8/2003 tại nhà của ông Nguyễn Văn L, ở địa chỉ khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Q và G đã có hành vi trộm cắp của ông L 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, biển số 60L4-9145 có trị giá là: 19.992.000 đồng (Mười chín triệu chín trăm chín mươi hai nghìn đồng).
Vụ thứ 2: Khoảng 01 giờ ngày 20/01/2004 tại nhà của ông Nguyễn Văn Đ, ở địa chỉ ấp Đ, xã B, huyện V, tỉnh Đồng Nai. Q và G đã có hành vi trộm cắp tài sản của ông Đ 03 xe mô tô gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Prety biển số 60L7-8159, 01 xe mô tô nhãn hiệu Jiulong biển số 60K8-3111, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future biển số 60H4-9984. Nhưng bị phát hiện nên chưa chiếm đoạt được. Trị giá của 03 xe mô tô là: 28.250.000 đồng (Hai mươi tám triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).
Tổng trị giá tài sản Q và G chiếm đoạt của cả hai vụ là: 48.242.000 đồng (Bốn mươi tám triệu hai trăm bốn mươi hai nghìn đồng).
Hành vi của bị cáo Nguyễn Duy Q đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì định lượng khởi điểm của khung hình phạt để truy cứu trách nhiệm hình sự là 2.000.000 đồng (Quy định này có lợi hơn cho người phạm tội so với Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999). Do đó, theo hướng dẫn tại Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội hướng dẫn việc áp dụng Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để truy tố xử lý đối với bị cáo là đúng quy định của pháp luật.
Do đó, Cáo trạng số 590/CT-VKSBH ngày 10 tháng 10 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Nguyễn Duy Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Bị cáo là người đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản bị pháp luật hình sự nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Nhằm mục đích để có tiền tiêu xài, phục vụ cho lợi ích cá nhân, bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản và trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Sau khi phạm tội bị cáo trốn truy nã gây khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra vụ án. Bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội của mình gây ra.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội 02 lần vào các ngày 24/8/2003 và 20/01/2004; Bị cáo có tiền án là ngày 07/4/2003, bị Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xử phạt 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 04/2003/HSST, bị cáo chưa được xoá án tích lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý thuộc trường hợp tái phạm. Do đó, bị cáo phải chịu các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng, chống tội phạm, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội đối với bị cáo Nguyễn Duy Q để đảm bảo sự nghiêm minh, khoan hồng của pháp luật và giáo dục, răn đe phòng ngừa chung.
[5] Về vật chứng vụ án: đã được giải quyết tại bản án số 418/HSST ngày 15/11/2004 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai nên không xem xét.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại ông Nguyễn Văn Đ không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với ông Nguyễn Văn L đã bán nhà đi khỏi địa phương, hiện không xác định được đang ở đâu nên Cơ quan điều tra chưa làm việc được để xác định yêu cầu về dân sự nên dành quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khi có yêu cầu.
[7] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[8] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa là phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, phù hợp quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; các điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy Q 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/6/2024.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Buộc bị cáo Nguyễn Duy Q phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Quốc Bảo |
Bản án số 584/2024/HSST ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 584/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Duy Q phạm tội trộm cắp tài sản
