Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 584/2025/HS-PT

Ngày 30 - 6 - 2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Quốc Trí

Các Thẩm phán: Ông Mai Văn Quang

Ông Nguyễn Đăng Phong.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Khiêm - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trần Thúy Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 444/2025/TLPT-HS ngày 15 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo Lê Văn Q do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 76/2025/HSST ngày 09/4/2025 của Tòa án nhân dân quận Long Biên.

Bị cáo bị kháng nghị: Lê Văn Q, sinh năm 1984 tại Phú Thọ; tên gọi khác: Không; Đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Khu C, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Văn K (C) và bà: Trần Thị C (C); Gia đình bị cáo có 07 anh em, bị cáo là con thứ bẩy; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân:

  • - Bản án số 33/HSST ngày 25/4/2008 TAND thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ xử phạt 26 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Hạn tù tính từ ngày 29/01/2008, ra trại ngày 29/12/2009. Nộp án phí HSST tháng 06/2008 (đã xóa án tích).
  • - Bản án số 251/HSST ngày 18/10/2018 của TAND thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 17 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Hạn tù tính từ ngày 18/6/2018, ra trại ngày 18/11/2019. Nộp án phí HSST ngày 18/01/2019 (đã xoá án tích).
  • - Bản án số 159/HSST ngày 29/5/2020, TAND quận Đống Đa, Hà Nội xử phạt 20 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Hạn tù tính từ ngày 13/02/2020, ra trại ngày 13/10/2021. Nộp án phí HSST ngày 02/8/2022 (đã xoá án tích).

Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ ngày 25/02/2015, hủy bỏ quyết định tạm giam ngày 06/03/2015. Quá trình điều tra, bị cáo bỏ trốn; ngày 20/05/2017 bị cáo bỏ trốn; ngày 20/05/2017 ra Quyết định truy nã; ngày 06/02/2025 bị cáo đầu thú; vắng mặt tại phiên tòa.

Trong vụ án còn có người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và không bị kháng nghị, tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 04 giờ 30 phút, ngày 25/02/2015, tổ công tác Công an phường V, quận L, thành phố Hà Nội phối hợp cùng Đại đội 3 Trung đoàn cảnh sát cơ động – Công an thành phố H làm nhiệm vụ tại trước cửa số nhà A phố N, phường Đ, quận L, thành phố Hà Nội phát hiện Lý Ngọc D đang dắt chiếc xe máy, đi bên cạnh là Lê Văn Q có biểu hiện nghi vấn về ma túy đã tiến hành kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra phát hiện tại túi nhỏ bên phải quần bò Q đang mặc có 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng. Q khai nhận là ma túy Heroin của Q vừa mua để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tang vật, đưa các đối tượng về trụ sở làm rõ.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng. Ngoài ra còn tạm giữ của Lý Ngọc D 01 xe máy nhãn hiệu SYM Attila BKS 29S5-7979.

Kết luận giám định số: 1127 ngày 06/03/2015 của Phòng K1 - Công an thành phố H kết luận: 01 gói chất bột màu trắng có thành phần Heroin, trọng lượng bột là 0,138 gam; hàm lượng Heroin là 20,51%.

Quá trình điều tra xác định: Khoảng 08 giờ 00 phút, ngày 24/02/2015, Q đi tàu từ Phú Thọ xuống ga Y, G, Hà Nội để tìm việc làm nhưng do nghiện ma túy nên Q tiếp tục đi xe buýt sang khu vực Chùa D2, Bắc Ninh tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây, Q mua của một người phụ nữ không quen biết 01 gói ma túy Heroin hết 100.000 đồng. Sau đó, Q đi xe buýt về khu vực gần C, lấy một phần ma túy ra sử dụng, số còn lại Q cất vào túi nhỏ bên phải quần bò đang mặc rồi đi về quận L. Khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, Q đến khu vực chợ Ô, phường Đ ngồi uống nước. Rạng sáng ngày 25/02/2015, Lý Ngọc D đến chơi với Q, khoảng 04 giờ 30 phút ngày 25/02/2015, khi Q và D vừa ra đến trước cửa số nhà A N, phường Đ, L, Hà Nội thì bị cơ quan công an kiểm tra bắt quả tang thu giữ tang vật như nội dung trên. Tại cơ quan điều tra, Lê Văn Q khai nhận hành vi phạm tội như nội dung trên phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đối với đối tượng bán ma túy cho Q tại khu vực chùa D2, T, Bắc Ninh do Q khai không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ.

Đối với Lý Ngọc D, quá trình điều tra xác định D không biết việc Q tàng trữ ma túy, chỉ đến khi cơ quan công an kiểm tra D mới biết nên Cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý đối với D.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Attila BKS 29S5-7979, số khung: 724649, số máy: 724649, kết quả tra cứu xe không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng, đăng ký xe mang tên Vũ Thị T (sinh năm 1976, HKTT: SỐ A tổ B phường P, H, Hà Nội). Chị T khai năm 2002 chị mua chiếc xe trên để sử dụng, đến cuối năm 2012 chị bán chiếc xe trên cho người không quen biết tại khu vực chùa H1, Cầu G, Hà Nội. Chị T không có yêu cầu gì đối với chiếc xe trên. Anh D1 khai năm 2015 anh mua chiếc xe trên tại khu vực chợ P, H, Hà Nội, quá trình sử dụng anh D1 đã làm mất giấy tờ xe. Cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe trên cho anh D1. Anh Dũng đã nhận lại xe và không có đề nghị gì.

Đối với 0,138 gam ma túy Heroin là vật chứng của vụ án, chuyển Tòa án nhân dân quận Long Biên giải quyết.

Tại bản cáo trạng số: 44/CT-VKSLB ngày 27/02/2025, Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã truy tố Lê Văn Q về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 (nay là điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015).

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 76/2025/HSST ngày 09/4/2025 của Tòa án nhân dân quận Long Biên đã xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 25 Bộ luật Hình sự năm 1999 (nay là điểm a khoản 2 Điều 29 Bộ luật Hình sự năm 2015); điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; Thông tư số 17/2007/TTLT-BCA-VKSTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ C1 - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Toà án nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp, xử: Miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Lê Văn Q.

Bản án còn quyết định xử lý vật chứng; án phí. Sau khi xét xử sơ thẩm, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên kháng nghị yêu cầu tòa án cấp phúc thẩm xử phạt Lê Văn Q từ 15 tháng đến 18 tháng tù.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Lê Văn Q vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa, sau khi xem xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân quân Long Biên, đề nghị: Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng nghị, xử phạt bị cáo Lê Văn Q từ 15 tháng đến 18 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hình thức: Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đúng về chủ thể kháng nghị, kháng nghị trong thời hạn luật định nên được giải quyết theo thủ tục xét xử phúc thẩm.

[2]. Về nội dung: Theo lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, cũng như tại phiên tòa phúc thẩm và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 04 giờ 30 phút, ngày 25/02/2015, tại trước cửa nhà số A phố N, phường Đ, quận L, thành phố Hà Nội, Lê Văn Q có hành vi tàng trữ trái phép 0,138 gam chất bột màu trắng có chứa thành phần Heroin, hàm lượng H là 20,51% mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác Công an phường V, quận L, thành phố Hà Nội phát hiện bắt quả tang cùng tang vật. Hành vi của bị cáo Lê Văn Q đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Do đó, tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Văn Q về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 199 Bộ luật Hình sự năm 1999 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Về điều luật áp dụng, Hội đồng xét xử xét thấy điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt nhẹ hơn khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Do đó, áp dụng khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo, Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 để quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Lê Văn Q thực hiện hành vi phạm tội ngày 25/02/2015 và tại thời điểm đó Thông tư số: 17/2007/TTLT-BCA-VKSTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ C1 - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Toà án nhân dân tối cao - Bộ tư pháp và Công văn hướng dẫn số: 234/TATC-HS ngày 17/9/2014 của Toà án nhân dân tối cao đang có hiệu lực pháp luật. Theo đó thì khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ là 0,138 gam chất bột màu trắng có chứa thành phần Heroin, hàm lượng Heroin là 20,51% tương đương với 0,0283 gam tinh chất là mức rất ít (dưới 0,1 gam Heroin) và do chuyển biến tình hình nên hành vi phạm tội của bị cáo không còn nguy hiểm cho xã hội nên tòa án cấp sơ thẩm quyết định miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo khoản 1 Điều 25 Bộ luật Hình sự năm 1999 (nay là điểm a khoản 2 Điều 29 Bộ luật Hình sự năm 2015) là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật nên không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Không chấp nhận Quyết định kháng nghị số: 01/QĐ-KNPT ngày 21/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đối với bị cáo Lê Văn Q, giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm đối với bị cáo Q.

Tuyên bố bị cáo Lê Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

[2]. Căn cứ khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 25 Bộ luật Hình sự năm 1999 (nay là điểm a khoản 2 Điều 29 Bộ luật Hình sự năm 2015); điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; Thông tư số: 17/2007/TTLT-BCA-VKSTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ C1 - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Toà án nhân dân tối cao - Bộ tư pháp, xử: Miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Lê Văn Q.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKS TP. Hà Nội;
  • - Công an, VKS, Tòa án, Chi cục THADS
  • quận Long Biên;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

ĐỊNH QUỐC TRÍ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 584/2025/HS-PT ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 584/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger