|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 584/2024/DS-PT.
Ngày: 02 - 12 -2024.
V/v: Tranh chấp thừa kế tài sản.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Văn Tâm.
- Các Thẩm phán: ông Nguyễn Quốc Tuấn; bà Dương Thuý Hằng.
Thư ký phiên tòa: ông Ngô Tấn Tài– Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Gọn - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 387/2024/TLPT-DS ngày 07 tháng 10 năm 2024, về tranh chấp “thừa kế tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 101/2024/DS-ST ngày 12 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 555/2024/QĐ-PT ngày 28 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Hồng T, sinh năm 1961; địa chỉ: Số B, ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
- Bị đơn: bà Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1966 và anh Nguyễn Huy H1, sinh năm 1987 (chết ngày 04/02/2024); cùng địa chỉ: Số B, ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Minh T3, sinh năm 1990; địa chỉ: Số B, ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh.
- Chị Nguyễn Thúy V, sinh năm 1993; địa chỉ: Số B, ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh
- Bà Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1955, địa chỉ: Nhà số E, ấp N, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Hồng K, sinh năm 1956, địa chỉ: Số B, hẻm A, đường C, khu phố H, phường H, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
- Ông Nguyễn Thành T4, sinh năm 1957, địa chỉ: Nhà số C, Khu phố A, Phường D, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
- Ông Nguyễn Thành N1, sinh năm 1959; địa chỉ: Nhà số A, tổ A, ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
- Ông Nguyễn Thành C, sinh năm 1964, địa chỉ: Số B, L, khu phố E, phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
- Bà Nguyễn Thị Hồng O, sinh năm 1966, địa chỉ: Số A, đường T, ấp G, xã M, huyện T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
- Bà Nguyễn Hồng T5, sinh năm 1968, địa chỉ: B, ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
- Bà Nguyễn Hồng P, sinh năm 1975, địa chỉ: B, ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
- Bà Nguyễn Thị K1, sinh năm 1949; địa chỉ: Nhà số D, xóm T, khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bà Nguyễn Hồng M, sinh năm 1973; địa chỉ: Nhà số D, khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; có đơn nghị xét xử vắng mặt.
- Ông Nguyễn Thành D, sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị Hồng N2, sinh năm 1979; Cùng địa chỉ: Nhà số D, xóm T, khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; có đơn nghị xét xử vắng mặt.
- Người kháng cáo: bà Nguyễn Thị Hồng T – Nguyên đơn.
Người đại diện hợp pháp cho bà T: ông Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1960, địa chỉ: Số B, ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh (theo văn bản uỷ quyền ngày 04/9/2024); có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà T: Luật sư Nguyễn Văn T2, Công tác tại Văn phòng L thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T; có mặt.
Người đại diện hợp pháp cho bà H, chị T3: chị Nguyễn Thúy V, sinh năm 1993; cùng địa chỉ với bà H (theo văn bản ủy quyền ngày 01/6/2023); có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 05/5/2022, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa - nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng T trình bày:
Bà T là con ruột của cụ Nguyễn Văn C1, sinh năm 1933, chết năm 2019 và cụ Lê Thị C2, sinh năm 1933, chết năm 2013. Cha mẹ bà có 10 người con chung: Nguyễn Thị Hồng N, Nguyễn Thị Hồng K, Nguyễn Thành T4, Nguyễn Thành N1, Nguyễn Thị Hồng T, Nguyễn Thành T6, Nguyễn Thành C, Nguyễn Thị Hồng O, Nguyễn Hồng T5 và Nguyễn Hồng P.
Ông Nguyễn Thành T6, chết năm 2022, có vợ là Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1966, có 03 con là Nguyễn Huy H1 (sinh năm 1987, chết ngày 07/02/2024, không có vợ con), Nguyễn Minh T3 và Nguyễn Thúy V.
Ngoài ra, cụ C1 sống chung với cụ K1 trước 30/4/1975, không có hôn thú (vì cụ C1 đang có hôn nhân hợp pháp với cụ C2). Cụ C1 và cụ K1 có 03 người con chung tên Nguyễn Hồng M, Nguyễn Thành D và Nguyễn Thị Hồng N2.
Lúc còn sống cha mẹ bà có tạo được phân đất diện tích 1.420 m² thửa số 08, tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh do UBND huyện H (nay là thị xã H), tỉnh Tây Ninh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cụ Nguyễn Văn C1 đứng tên ngày 27/9/1995 và căn nhà ngói cũ trên đất.
Ngày 14/12/2009, cụ C1, cụ C2 (cha mẹ của bà) lập di chúc nội dung cho bà T được hưởng phần đất có chiều ngang 12 mét, chiều dài hết đất và căn nhà gắn liền với đất trong tổng diện tích 1.420 m², di chúc được công chứng tại Phòng C3.
Ngày 19/9/2013 mẹ bà chết, ngày 22/9/2013 cụ C1 lập di chúc khác tặng cho toàn bộ nhà đất này cho ông T6. Ngày 30/11/2018, cụ C1 lập giấy uỷ quyền cho ông T6 diện tích 07 m² đất để xây nhà ở. Nhận thấy, việc cha mẹ bà lập di chúc tặng cho bà 12 m đất chiều ngang có công chứng nên hợp pháp hợp pháp, còn “Di chúc” lập ngày 22/9/2013 và “Giấy ủy quyền” đề ngày 30/11/2018 là không hợp pháp, không có nhân chứng, không có chứng thực.
Nay bà yêu cầu Toà án công nhận di chúc ngày 14/12/2009, buộc (vợ con ông T6) là người đang quản lý nhà đất này phải giao cho bà phần đất ngang 12 m dài hết đất trong thửa số 08, tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại ấp T, xã T, thị xã H.
Người đại diện hợp pháp bị đơn, chị Nguyễn Thúy V trình bày:
Chị là con của bà H, ông T6, chị thống nhất với nguyên đơn về hàng thừa kế của cụ C1 và cụ C2; thống nhất về di sản thừa kế do cụ C1 và cụ C2 để lại. Gia đình chị không biết gì về tờ di chúc mà cụ C1 và cụ C2 (ông bà nội chị) để lại cho bà T. Năm 2017, ông T6 được cụ Chính ủy Q cho xây nhà và cho ông T6 07 m ngang x dài hết đất, có 09 người con của cụ C1 ký tên trừ bà T, thực tế gia đình ông T6 đã xây nhà ở trên phần đất được uỷ quyền (do căn nhà ngói xưa của ông bà nội bị xuống cấp, mục nát, không thể tiếp tục sử dụng). Căn nhà này hiện gia đình chị không ở vì có nhà ở gần nhà này chỉ để thờ ông bà nội. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì bị đơn không đồng ý.
Bị đơn yêu cầu phần đất có căn nhà thờ do cha chị xây chia đều cho 09 anh chị em của cha chị là các cô, chú, bác của chị dùng làm nơi thờ cúng; phần đất còn lại chia đều cho 10 anh chị em của cha chị; bị đơn muốn nhận giá trị đất nếu được chia thừa kế và nhận giá trị căn nhà trên đất và thống nhất để mẹ chị là bà Nguyễn Thị Thúy H được nhận các giá trị này.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Nguyễn Thị Hồng N, Nguyễn Thị Hồng K, Nguyễn Thành T4, Nguyễn Thành N1, Nguyễn Thành C, Nguyễn Thị Hồng O, Nguyễn Hồng T5, Nguyễn Hồng P trình bày:
Thống nhất về hàng thừa kế của cụ C1 và cụ C2; về di sản thừa kế do cụ C1 và cụ C2 để lại, không biết gì về tờ di chúc mà cụ C1 và cụ C2 để lại cho bà T. Năm 2017, ông T6 được cụ Chính ủy Q cho xây nhà và cho ông T6 07 m ngang x dài hết đất, có 09 anh chị em đồng ý ký tên.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì các đương sự không đồng ý. Tất cả thống nhất yêu cầu dùng phần đất có căn nhà thờ để làm nơi thờ cúng, giao ông N1 đại diện đứng tên và thanh toán giá trị căn nhà lại cho bị đơn. Phần đất còn lại được chia đều cho các anh chị em.
* Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số 101/2024/DS-ST ngày 12 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh đã quyết định;
Căn cứ các Điều 624, 627, 630 và 640 Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 167 và khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện chia di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị Hồng T.
- Bà Nguyễn Thị Hồng T được hưởng phần đất diện tích theo hiện trạng là 393,8 m² (trong đó có 100 m² ONT), thửa đất số 08, tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh do UBND huyện H (nay là thị xã H), tỉnh Tây Ninh do cụ Nguyễn Văn C1 đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: D0629350 do Ủy ban nhân dân huyện H (nay là thị xã H) cấp ngày 27/9/1995 (có sơ đồ, tứ cận kèm theo).
- Ông Nguyễn Thành N1 được hưởng căn nhà diện tích 122,5 m² và phần đất còn lại có diện tích theo hiện trạng là 1.234,6 m² (trong đó có 300 m² ONT), thửa đất số 08, tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh do UBND huyện H (nay là thị xã H), tỉnh Tây Ninh do cụ Nguyễn Văn C1 đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: D0629350 do Ủy ban nhân dân huyện H (nay là thị xã H) cấp ngày 27/9/1995, (có sơ đồ tứ cận).
- Ông Nguyễn Thành N1 có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Thúy H số tiền 585.671.000 đồng và trả cho bà Nguyễn Thị Hồng N, bà Nguyễn Thị Hồng K, ông Nguyễn Thành T4, ông Nguyễn Thành C, bà Nguyễn Thị Hồng O, bà Nguyễn Hồng T5 và bà Nguyễn Hồng P mỗi người là 397.815.000 đồng.
- Đình chỉ yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị Hồng K và ông Nguyễn Thành N1.
- Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo luật định.
- Ngày 26/8/2024, bà Nguyễn Thị Hồng T kháng cáo; yêu cầu chấp nhận khởi kiện của nguyên đơn.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Ông T1 (đại diện bà T) trình bày: giữ nguyên yêu cầu kháng cáo của bà T.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà trình bày: không chấp nhận kháng cáo của bà T.
* Phần tranh luận:
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà T luật sư Nguyễn Văn T2 trình bày:
- Di chúc lập ngày 14/12/2009 có công chứng là hợp pháp vì đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 652 và 653 của Bộ luật Dân sự năm 2005 nội dung cho bà T 12 m đất chiều ngang dài hết đất.
- Di chúc 2013 do cụ Nguyễn Văn C1 viết thay đổi ý kiến cho đất này cho ông T6 nên không có hiệu lực. Bỏi lẽ, sau khi viết di chúc năm 2013 cụ C1 giao di chúc năm 2009 cho bà T tức là cụ thừa nhận di chúc năm 2009. Cấp sơ thẩm tuyên vô hiệu phần di sản của cụ C1 nhưng chia 09 kỷ phần là không đúng.
- Ông T1 trình bày bổ sung: Di chúc năm 2013 bà T có ký tên nhưng không xem mặt trước và không được ai đọc lại nghe nên không biết di chúc nói gì.
- Ông N1 trình bày: Di chúc năm 2013 bà T có ký tên được xem mặt trước và được ông T7 là chồng bà K đọc lại nghe nên lời trình bày của ông T1 không đúng. Đề nghị Toà án giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Ông C trình bày: lúc lập di chúc năm 2013 cha tôi còn khoẻ mạnh, minh mẫm sáng suốt.
- Bà K, bà O, bà T5, bà P thống nhất với lời trình bày của ông N1.
Đề nghị Hôi đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
* Ý kiến của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:
- Về tố tụng: việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định pháp luật.
- Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; không chấp nhận kháng cáo của bà T; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến Đại diện Viện Kiểm sát, xét kháng cáo của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng T kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định, phù hợp tại các điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về thời hiệu thừa kế: cụ Nguyễn Văn C1, chết năm 2019 và cụ Lê Thị C2, chết năm 2013 nên thời hiệu còn theo quy định tại Điều 623 của Bộ luật Dân sự.
- Đại diện bị đơn chị Nguyễn Thúy V có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
- Về nội dung: bà T khởi kiện yêu cầu chia di sản theo di chúc do cụ C1, cụ C2 (cha mẹ của bà) lập ngày 14/12/2009, công chứng tại Phòng C3 nội dung: cho bà được hưởng phần đất có chiều ngang 12 mét, chiều dài hết đất và căn nhà gắn liền với đất trong tổng diện tích 1.420 m² thửa số 08, tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh do UBND huyện H (nay là thị xã H), tỉnh Tây Ninh. Bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không đồng ý.
- Xét chứng cứ:
- Phần đất diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 1.420 m² (chiều ngang 23,31 m), đo đạc thực tế diện tích 1.628,4 m², thửa số 08, tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh do UBND huyện H (nay là thị xã H), tỉnh Tây Ninh cấp cho cụ Nguyễn Văn C1 ngày 27/9/1995. Các đương sự thống nhất là di sản của cụ C1 và cụ C2 để lại.
- Hàng thừa kế thứ nhất của cụ C1, cụ C2 gồm: bà Nguyễn Thị Hồng N, bà Nguyễn Thị Hồng K, ông Nguyễn Thành T4, ông Nguyễn Thành N1, bà Nguyễn Thị Hồng T, ông Nguyễn Thành T6, ông Nguyễn Thành C, bà Nguyễn Thị Hồng O, bà Nguyễn Hồng T5, bà Nguyễn Hồng P.
- Ngày 14/12/2009, cụ C1, cụ C2 lập di chúc cho bà T được hưởng phần đất có chiều ngang 12 mét, chiều dài hết đất và căn nhà gắn liền với đất. Di chúc công chứng tại Phòng C3.
- Ngày 22/9/2013, sau khi cụ C2 chết thì cụ C1 lập di chúc khác tặng cho đất cho ông Nguyễn Thành T6 phần đất diện tích 1.420 m², trên đất có một ngôi nhà dùng làm nhà thờ nêu trên, có đủ chữ ký của 10 người con.
- Ngày 30/11/2018, cụ Nguyễn Văn C1 lập “Giấy ủy quyền” nội dung tặng cho ông Nguyễn Thành T6 07 m², văn bản này không có công chứng, chứng thực. Ông T6 đã xây dựng nhà cấp 4 trên đất này.
- Xét kháng cáo của bà T thấy rằng:
- Ngày 14/12/2009, cụ C1, cụ C2 lập di chúc cho bà T được hưởng phần đất có chiều ngang 12 mét, chiều dài hết đất trên tổng số diện tích đất 1.420 m² và căn nhà gắn liền với đất. Sau khi cụ C2 chết, thì văn bản di chúc ngày 14/12/2009 có hiệu lực một phần đối với di nguyện của cụ C2 là cho bà T 06/12 m đất.
- Ngày 22/9/2013, cụ C1 lập di chúc khác tặng cho toàn bộ tài sản là diện tích đất 1.420 m² cho ông Nguyễn Thành T6 và tất cả các con ký tên (trong đó có bà T). Xét tính pháp lý của Di chúc ngày 22/9/2013 là không đúng quy định của pháp luật về hình thức, không có người làm chứng theo quy định tại Điều 632 của Bộ luật Dân sự, cụ C1 không có quyền định đoạt toàn bộ tài sản này cho ông T6, đồng thời “Giấy ủy quyền” ngày 30/11/2018 lại mâu thuẫn với nội dung Di chúc ngày 22/9/2013 nên văn bản di chúc ngày 22/9/2013 và “Giấy ủy quyền” ngày 30/11/2018 tặng cho 07 m² không phù hợp thực tế nên bị vô hiệu. Di sản còn lại của cụ C1, cụ C2 được giải quyết chia theo pháp luật thành 10 kỷ phần cho hàng thừa kế thứ nhất của cụ C1, cụ C2.
- Cấp sơ thẩm công nhận hiệu lực một phần di chúc ngày 14/12/2009 chia cho bà T ngang 06 m đất dài hết đất là đúng. Tuy nhiên, chia phần còn lại theo pháp luật thành 09 kỷ phần bỏ phần hưởng của bà T là không đúng. Do đó, cấp phúc thẩm cần sửa một phần bản án sơ thẩm chia lại di sản thừa kế trên như sau:
- Bà T được hưởng phần đất có chiều ngang 06 mét, chiều dài hết đất (trong đó có 100 m² ONT), diện tích 393,8 m².
- Phần đất còn lại diện tích 1.234,6 m² (trong đó có 300 m² ONT), có giá do Hội đồng đã định là 2.900.000 đồng/m², thành tiền là 3.580.340.000 đồng, chia đều cho 10 kỷ phần, gồm: bà Nguyễn Thị Hồng T, bà Nguyễn Thị Hồng N, bà Nguyễn Thị Hồng K, ông Nguyễn Thành T4, ông Nguyễn Thành N1, ông Nguyễn Thành T6, ông Nguyễn Thành C, bà Nguyễn Thị Hồng O, bà Nguyễn Hồng T5 và bà Nguyễn Hồng P mỗi kỷ phần trị giá thành tiền là 358.034.000 đồng. Ông N1 nhận diện tích đất 1.234,6 m² (trong đó có 300 m² ONT) và căn nhà trên đất, phải có nghĩa vụ thanh toán giá trị phần hưởng cho 09 kỷ phần còn lại và thanh toán giá trị căn nhà cấp 4 số tiền 187.856.000 đồng cho vợ và các con ông T6 là phù hợp.
- Về chi phí tố tụng: chi phí thẩm định, đo đạc, định giá và trích lục hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 12.970.000 đồng; bà T đã tạm ứng trước nên bà N, bà K, ông T4, ông N1, bà H, ông C, bà O, bà T5 và bà P mỗi người phải trả cho bà T số tiền là 1.297.000 đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà T, bà N, bà K, ông T4, ông N1 là người cao tuổi, được miễn án phí theo điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.
- Ông C, bà H, bà O, bà T5 và bà P phải chịu án phí đối với giá trị tài sản được chia theo quy định tại theo khoản 7 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH; cụ thể như sau:
- Cấp sơ thẩm tính án phí bà H phải chịu trên phần căn nhà được ông N1 bồi thường là không đúng (đương sự không phải chịu). Ngoài ra, xác định tứ cận đất không đúng nên cấp phúc thẩm điều chỉnh lại cho phù hợp.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo được chấp nhận, án bị sửa nên các đương sự không phải chịu
- Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh về giữ nguyên bản án sơ thẩm là không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận.
- Giá trị đất 2.900.000 đồng/m². Giá trị căn nhà cấp 4 của ông T6 trên đất là 187.856.000 đồng.
Di sản được chia trị giá 358.034.000 đồng các đương sự phải chịu án phí là (358.034.000 đồng x 5%) =17.901.700 đồng; viết tròn số là 17.901.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị Hồng T;
- Sửa một phần Bản án Dân sự sơ thẩm số 101/2024/DS-ST ngày 12 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh.
Căn cứ các điều 623, 624, 627, 630, 632 và 649, 650, 651, 660 của Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 167 và khoản 3 Điều 188 của Luật Đất đai năm 2013 và các điều 12, 27, 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện chia di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị Hồng T.
- Bà Nguyễn Thị Hồng T được sử dụng phần đất diện tích 393,8 m² (trong đó có 100 m² ONT), trong thửa đất số 08, tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: D0629350 do Ủy ban nhân dân huyện H (nay là thị xã H) cấp ngày 27/9/1995 cho cụ Nguyễn Văn C1 đứng tên. Tứ cận:
- Bắc giáp thửa 21, dài 06 m;
- Nam giáp đường (nhựa 10 m); dài 06 m;
- Đông giáp thửa 46; dài 29,01 m + 36,64 m;
- Tây giáp phần còn lại thửa 08; dài 29,92 m + 36,21 m.
- Ông Nguyễn Thành N1 được sử dụng phần đất còn lại có diện tích 1.234,6 m² (trong đó có 300 m² ONT), trong thửa đất số 08, tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: D0629350 do Ủy ban nhân dân huyện H (nay là thị xã H) cấp ngày 27/9/1995 cho cụ Nguyễn Văn C1 đứng tên và được quyền sở hữu căn nhà cấp 4 diện tích 122,5 m² của ông T6 xây dựng trên đất. Tứ cận:
- Bắc giáp thửa 21, dài 21,93 m;
- Nam giáp đường (nhựa 10m); dài 17,31 m;
- Đông giáp phần còn lại thửa 08; dài 29,92 m + 36,21 m;
- Tây giáp các thửa 33, 32, 21; dài 30,98 m + 23,61 m + 12,55 m.
(Có sơ đồ hiện trạng sử dụng đất số: 278/SĐ-ĐC và sơ đồ hiện trạng bổ sung kèm theo)
- Các đương sự căn cứ quyết định của bản án này, có trách nhiệm liên hệ cơ quan nhà nước đăng ký biến động, xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật đất đai.
- Ông Nguyễn Thành N1 có nghĩa vụ thanh toán trị giá căn nhà cấp 4 diện tích 122,5 m² cho bà Nguyễn Thị Thúy H, chị Nguyễn Minh T3 và chị Nguyễn Thúy V (vợ và các con ông T6) số tiền 187.856.000 (một trăm tám mươi bảy triệu tám trăm năm mươi sáu nghìn) đồng.
- Ông Nguyễn Thành N1 có nghĩa vụ thanh toán giá trị mỗi kỷ phần cho các đương sự gồm: bà Nguyễn Thị Hồng T, bà Nguyễn Thị Hồng N, bà Nguyễn Thị Hồng K, ông Nguyễn Thành T4, ông Nguyễn Thành C, bà Nguyễn Thị Hồng O, bà Nguyễn Hồng T5 và bà Nguyễn Hồng P mỗi người số tiền là 358.034.000 đồng (Ba trăm năm mươi tám triệu không trăm ba mươi bốn nghìn) đồng. Thanh toán cho bà Nguyễn Thị Thúy H, chị Nguyễn Minh T3 và chị Nguyễn Thúy V (vợ và các con ông T6) hưởng chung một kỷ phần số tiền là 358.034.000 đồng (Ba trăm năm mươi tám triệu không trăm ba mươi bốn nghìn) đồng.
- Đình chỉ yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị Hồng K và ông Nguyễn Thành N1.
- Về chi phí tố tụng: bà Nguyễn Thị Hồng N, bà Nguyễn Thị Hồng K, ông Nguyễn Thành T4, ông Nguyễn Thành N1, bà Nguyễn Thị Thúy H, ông Nguyễn Thành C, bà Nguyễn Thị Hồng O, bà Nguyễn Hồng T5 và bà Nguyễn Hồng P mỗi người phải trả cho bà Nguyễn Thị Hồng T số tiền 1.297.000 đồng (Một triệu hai trăm chín mươi bảy nghìn) đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Nguyễn Thị Hồng T, bà Nguyễn Thị Hồng N, bà Nguyễn Thị Hồng K, ông Nguyễn Thành T4, ông Nguyễn Thành N1 được miễn án phí.
- Ông Nguyễn Thành C, bà Nguyễn Thị Hồng O, bà Nguyễn Hồng T5, bà Nguyễn Hồng P và bà Nguyễn Thị Thúy H mỗi người chịu 17.901.000 (Mười bảy triệu chín trăm lẽ một nghìn) đồng.
- Về án phí phúc thẩm dân sự: các đương sự không phải chịu.
- Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Tâm |
Bản án số 584/2024/DS-PT ngày 02/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp thừa kế tài sản
- Số bản án: 584/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 02/12/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp thừa kế tài sản giữa bà th với bà H
