TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số 583/2024/DS-PT Ngày 22/11/2024 V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phan Nam
Các Thẩm phán: Ông Điều Văn Hằng
Ông Bùi Anh Thắng
- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Hương Thùy, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội: Bà Đoàn Thị Bình, Kiểm sát viên cao cấp;
Ngày 22 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 399/2024/TLPT-DS ngày 20/8/2024 về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” do có kháng cáo của bị đơn đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2024/DS-ST ngày 19/3/2024 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 12532/2024/QĐPT ngày 07 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Công H và bà Nguyễn Thị Bích T; địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng; đều có mặt.
- Bị đơn: Ông Phạm Văn T1 và bà Nguyễn Thị L; địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng; đều có mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Lê Văn T2 và ông Bùi Văn T3- Luật sư, Công ty L2, Đoàn Luật sư thành phố H; đều có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân huyện V, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt.
- Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng do ông Nguyễn Văn M, Phó Chủ tịch UBND xã T là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 83 ngày 20/11/2024) có mặt.
- Anh Phạm Trung T4 và chị Nguyễn Thị O; địa chỉ: Thôn A Á, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng; anh T4 vắng mặt, chị O có mặt.
- Anh Phạm Công H1; địa chỉ: Thôn A Á, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng; có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện đề ngày 26/5/2023 và quá trình tố tụng nguyên đơn là ông Phạm Công H và bà Nguyên Thị Bích T trình bày:
Ngày 15/52001, vợ chồng ông bà có nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Phạm Văn T1 và bà Nguyễn Thị L 420m² đất thổ cư (có kích thước 12m x 35m) và tài sản khác gắn liền với đất là một số cây ngắn ngày, cây lưu niên tại thôn A Á, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng với giá 20 triệu đồng; việc chuyển nhượng có chứng thực của UBND xã T. Ngay sau khi nhận chuyển nhượng, vợ chồng ông bà đã xây dựng nhà ở, tường bao phân định ranh giới đất giữa hai bên gia đình và sinh sống ổn định trên đất. Nhưng ngày 25/6/2018, Ủy ban nhân dân huyện V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là GCNQSDĐ) số CM 081076 cho thửa đất số 76, tờ bản đồ số 18, diện tích 1759m² tại Thôn A, Á, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng mang tên ông Phạm Văn T1 và bà Nguyễn Thị L bao trùm lên cả phần diện tích đất ông bà đã nhận chuyển nhượng của ông T1 và bà L. Ông bà đã làm đơn khiếu nại lên UBND xã T, nhiều lần được UBND xã T hòa giải nhưng đều không có kết quả, nên ông bà đã khởi kiện ra Tòa án yêu cầu giải quyết:
- Công nhận giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông Phạm Văn T1 và bà Nguyễn Thị L với vợ chồng ông Phạm Công H và bà Nguyễn Thị Bích T theo quy định pháp luật. Buộc vợ chồng ông T1, bà L thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết theo giao dịch chuyển nhượng đất đã ký.
- Hủy GCNQSDĐ do UBND huyện V cấp ngày 25/6/2018 mang tên ông Phạm Văn T1 và bà Nguyễn Thị L đối với diện tích đất 1.759m² tại thửa số 76, tờ bản đồ số 18 thuộc thôn A, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng.
Bị đơn là ông Phạm Văn T1 và bà Nguyễn Thị L thống nhất trình bày:
Thừa nhận ông bà có chuyển nhượng cho ông H và bà T 420m² đất thổ cư (có kích thước 12m x 35m) trong tổng số diện tích gần 2.000m² đất thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông bà tại thôn A Á, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng với giá 20.000.000 đồng, ông bà đã nhận đủ số tiền chuyển nhượng, lập giấy chuyển nhượng, ký kết và được UBND xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng xác nhận. Khi chuyển nhượng, trên đất không có công trình xây dựng gì mà chỉ có một số cây trồng. Khoảng năm 2011-2012, ông H, bà T xây dựng công trình lấn sang đất của gia đình ông bà, nhưng thời điểm đó, quan hệ giữa hai gia đình hòa thuận nên không phát sinh tranh chấp gì. Năm 2018, UBND huyện V cấp GCNQSDĐ cho vợ chồng ông bà đối với 1.759m² đất (thuộc thửa đất diện tích khoảng 2.400m² có nguồn gốc ông bà khai hoang, phục hóa, dâng vật lên) bao gồm cả diện tích 420m² đất thổ cư mà vợ chồng ông bà đã chuyển nhượng cho ông H, bà T. Thời điểm cấp GCNQSDĐ, UBND huyện và UBND xã đã hướng dẫn ông bà đề nghị cấp cho toàn bộ diện tích đất, sau đó sẽ làm thủ tục tách thửa khi ông H, bà T có yêu cầu là thực hiện đúng quy định pháp luật. Năm 2022, ông H xây dựng nhà gỗ có lấn sang đất của nhà ông bà nhưng gia đình ông không có ý kiến gì. Nay vợ chồng ông H bà T khởi kiện thì ông bà có ý kiến như sau:
- Thừa nhận có việc chuyển nhượng 420m² cho ông H bà T vào năm 2001, và đồng ý tách đất trả ông H bà T trong trường hợp cơ quan nhà nước đo vẽ lại; yêu cầu ông H, bà T trả lại toàn bộ phần đất ngoài 420m² đất thổ cư mà bị đơn đã chuyển nhượng cho nguyên đơn và phải tháo dỡ các công trình xây dựng trái phép trên phần đất của ông bà.
- Không đồng ý với nội dung hủy GCNQSDĐ đã cấp cho vợ chồng bị đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Phạm Công H1 đồng nhất quan điểm với nguyên đơn.
- - Anh Phạm Trung T4: Tại biên bản lấy lời khai ngày 14/11/2023 trình bày: Anh là con trai của ông Phạm Văn T1 và bà Nguyễn Thị L. Hiện anh cùng vợ là Nguyễn Thị O và 02 con nhỏ đang sinh sống cùng bố mẹ anh; nhà đất là của bố mẹ anh, do bố mẹ anh xây dựng, vợ chồng anh không có đóng góp gì. Anh không biết gì về việc mua bán, chuyển nhượng đất giữa bố mẹ anh và vợ chồng ông H. Anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
- - Chị Nguyễn Thị O: Đồng ý với ý kiến của ông T1, bà L .
- - UBND xã T, huyện V trình bày: Theo sổ mục kê, bản đồ giải thửa năm 1995 của xã T thể hiện: Ông Phạm Văn T1 là chủ sử dụng 02 thửa đất: Thửa đất số 76, tờ bản đồ số 18, diện tích 1.290 m², mục đích sử dụng thổ cư; Thửa đất số 77, tờ bản đồ số 1, diện tích sử dụng 469m², mục đích sử dụng ao. Rà soát hồ sơ lưu trữ tại xã, hồ sơ về việc chuyển nhượng của ông T1, bà L và ông H, bà T tại thời điểm năm 2001 không còn lưu trữ tại xã. Đối với việc UBND xã T có trực tiếp chứng kiến thỏa thuận và ký kết nội dung thỏa thuận liên quan đến việc chuyển nhượng đất ở và bán tài sản trên đất hay không hay chỉ xác nhận vào biên bản thỏa thuận sau khi các bên đã thỏa thuận và ký kết, đề nghị Tòa án xác minh chữ ký và mời các đương sự có liên quan.
- - UBND huyện V trình bày: Căn cứ vào GCNQSDĐ do UBND huyện V cấp cho ông Phạm Văn T1 vợ là bà Nguyễn Thị L và sơ đồ hiện trạng do Chi nhánh H2 – Công ty cổ phần K và trắc địa bản đồ Đài Bắc đo đạc. Phòng T6 đã lồng ghép sơ đồ hiện trạng và CNQSDĐ, cho thấy: Khu đất có các công trình do ông Phạm Công H xây dựng thuộc đất thủy lợi do Công ty TNHH MTV K1 quản lý, có các mốc 2, 3, 11, 10, 8, 9. Về việc này UBND huyện có trách nhiệm xử lý theo quy định của pháp luật, đề nghị Tòa án không đưa phần diện tích và tài sản của khu đất trên vào vụ án để xét xử.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2024/DS-ST ngày 19/3/2024 và Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án số 55/2024/QĐ-SCBSBA ngày 23/4/2024 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng đã quyết định:
- - Căn cứ khoản 3 và khoản 9 Điều 26; khoản 4 Điều 34; điểm a khoản 1 Điều 37; khoản 2 Điều 227; khoản 2 Điều 228; Điều 147; Điều 157; Điều 165; Điều 166; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Căn cứ khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính;
- - Căn cứ các Điều 121, 122, 123, 124, 705, 706, 707, 708, 708, 709, 710, 711, 712, 713 của Bộ luật Dân sự năm 1995;
- - Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 2 Luật Người cao tuổi,
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Phạm Công H và bà Nguyễn Thị Bích T:
- Công nhận giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở ngày 15/5/2001 giữa vợ chồng ông Phạm Văn T1 và bà Nguyễn Thị L với vợ chồng ông Phạm Công H và bà Nguyễn Thị Bích T có hiệu lực pháp luật.
- Buộc ông Phạm Văn T1 và bà Nguyễn Thị L thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết theo giao dịch chuyển nhượng đất ở đã ký; thực hiện các thủ tục hành chính liên quan dến việc tách thửa, sang tên GCNQSDĐ để vợ chồng ông Phạm Công H và bà Nguyễn Thị Bích T được cấp GCNQSDĐ đối với diện tích 420m² đất ở thuộc thôn A Á, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng có chiều dài 35m tính từ phần tiếp giáp đường 17a (nay là đường A) và chiều ngang 12m tính từ tường bao phân định ranh giới đất giữa hai gia đình, các phần còn lại tiếp giáp với phần đất của vợ chồng ông Phạm Văn T1 và bà Nguyễn Thị L.
- Ông Phạm Công H và bà Nguyễn Thị Bích T được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích đất ở 420m² tại thửa số 76, tờ bản đồ số 18 thuộc thôn A, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng.
- Diện tích đất 420m² của ông Phạm Công H và bà Nguyễn Thị Bích T tại thửa số 76, tờ bản đồ số 18 thuộc thôn A, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng được giới hạn bởi các mốc 1,2,4,5,1 (Có sơ đồ kèm theo).
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 081076, số vào sổ cấp GCNQSDĐ CH00593 do UBND huyện V cấp ngày 25/6/2018 mang tên ông Phạm Văn T1 và bà Nguyễn Thị L đối với diện tích đất 1.759m² tại thửa số 76, tờ bản đồ số 18 thuộc thôn A, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng.
Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án.
Ngày 13/5/2024, ông Phạm Văn T1 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự vẫn không thống nhất được với nhau về việc giải quyết vụ án. Nguyên đơn là ông Phạm Công H và bà Nguyễn Thị Bích T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị công nhận giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T1 và ông H là hợp pháp, rút yêu cầu khởi kiện về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện V đã cấp cho ông T1 ngày 25/6/2018; về cơ bản vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày tại Tòa án cấp sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
Bị đơn là Ông Phạm Văn T1 và bà Nguyễn Thị L không rút đơn kháng cáo, về cơ bản giữ nguyên quan điểm đã trình bày tại Tòa án cấp sơ thẩm, đồng ý với việc rút yêu cầu khởi kiện đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn; thừa nhận có việc chuyển nhượng 420m² đất cho ông H và nay đồng ý tách đất trả ông H như biên bản chuyển nhượng đã ký; đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đơn kháng cáo của ông Phạm Văn T1 trong thời gian luật định nên hợp lệ. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung, tại phiên tòa ông H rút yêu cầu khởi kiện đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn là tự nguyện, nên chấp nhận; từ đó, kháng cáo của ông Phạm Văn T1 là có căn cứ chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 299, Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự xử chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Văn T1, hủy một phần bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định.
[1]. Về tố tụng:
[1.1] Ngày 13/5/2024, ông Phạm Văn T1 có đơn kháng cáo là trong hạn luật định nên đủ điều kiện xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[1.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Phạm Trung T4, chị Nguyễn Thị O, anh Phạm Công H1, UBND huyện V, thành phố Hải Phòng mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Xét thấy sự vắng mặt của những người trên không vì lý do bất khả kháng, không do trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Ông Phạm Công H và bà Nguyễn Thị Bích T khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông với vợ chồng ông Phạm Văn T1 và bà Nguyễn Thị L, và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông T1 và bà L. Theo quy định tại khoản 3 và 9 Điều 26; khoản 4 Điều 34; điểm a khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng thụ lý, giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền.
[2] Xét kháng cáo của ông Phạm Văn T1 thì thấy:
[2.1] Theo Biên bản nhượng đất ở và bán tài sản trên đất ngày 15/5/2001 giữa ông Phạm Văn T1 với ông Phạm Công H thì ông T1 chuyển nhượng cho ông H 420m² đất ở có chiều rộng 12m, chiều dài 35m tính từ Bắc chạy xuống N; trên đất chuyển nhượng có một số cây lưu niên và cây ngắn ngày; giá chuyển nhượng là 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng). Ông T1, bà L thừa nhận đã nhận đủ số tiền 20.000.000 đồng, và đã giao 420m² đất ở cùng toàn bộ tài sản trên đất cho vợ chồng ông H, bà Thanh quản L1, sử dụng kể từ ngày 15/5/2001 cho ông H và bà T; Biên bản nhượng đất ở và bán tài sản trên đất được lập thành văn bản và được UBND xã T xác nhận “Việc chuyển nhượng đất ở và bán tài sản trên đất giữa gia đình ông T1 và ông H là sự thật” ngày 20/5/2001; tuy Biên bản nêu trên chỉ có ông T1 và ông H ký, bà T và bà L không ký nhưng đến nay các đương sự đều thừa nhận giao dịch này; thực tế, ông H và bà T đã nhận đất, trực tiếp quản lý, sử dụng, xây dựng công trình trên đất từ thời điểm nhận chuyển nhượng năm 2001. Xét các bên tham gia giao dịch chuyển nhượng đất ở và tài sản trên đất là hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối, không bị ép buộc; có đủ điều kiện về chủ thể, nội dung và mục đích của giao dịch không trái pháp luật, hình thức của giao dịch phù hợp với quy định tại các Điều 705, 706, 707, 708, 708, 709, 710, 711, 712, 713 của Bộ luật Dân sự năm 1995; nay các bên đều thừa nhận, xác định không tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng, nên có căn cứ xác định Biên bản nhượng đất ở và bán tài sản ngày 15/5/2001 là hợp pháp, có hiệu lực thi hành với các bên liên quan. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc công nhận giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông Phạm Văn T1 bà Nguyễn Thị L với vợ chồng ông Phạm Công H bà Nguyễn Thị Bích T đối với diện tích 420m² đất ở và tài sản trên đất tại thôn Á, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2.2] Về yêu cầu hủy Giấy CNQSDĐ số seri CM 081076, số vào sổ CH00593 UBND huyện V cấp ngày 25/6/2018 mang tên ông Phạm Văn T1 và bà Nguyễn Thị L thì thấy: Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Phạm Công H và bà Nguyễn Thị Bích T xin rút yêu cầu khởi kiện hủy Giấy CNQSDĐ nêu trên, ông Nguyễn Văn T5 và bà Nguyễn Thị L đồng ý với việc ông H, bà T rút yêu cầu này. Xét thấy, việc rút yêu cầu khởi kiện hủy Giấy CNQSDĐ của ông H, bà T là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật; trên cơ sở đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội, căn cứ Điều 299 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử thấy cần hủy một phần bản án sơ thẩm và đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện hủy Giấy CNQSDĐ nêu trên của ông Phạm Công H và bà Nguyễn Thị Bích T.
Với các căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm quyết định chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc công nhận giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn với bị đơn là có căn cứ; tại Tòa án cấp phúc thẩm, ông H – bà T rút yêu cầu hủy GCNQSDĐ do UBND huyện V cấp ngày 25/6/2018 cho ông Phạm Văn T1 và bà Nguyễn Thị L nên có căn cứ hủy một phần bản án sơ thẩm và đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này của ông H-bà T. Do đó, có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị đơn và sửa bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
[3] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên ông Phạm Văn T1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên, căn cứ Điều 308; khoản 1 Điều 148, Điều 299 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
- Chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Văn T1; Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2024/DS-ST ngày 19 tháng 3 năm 2024 và Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án số 55/2024/QĐ-SCBSBA ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, cụ thể:
- - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Phạm Công H và bà Nguyễn Thị Bích T về việc:
- Công nhận giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở ngày 15/5/2001 giữa vợ chồng ông Phạm Văn T1 và bà Nguyễn Thị L với vợ chồng ông Phạm Công H và bà Nguyễn Thị Bích T có hiệu lực pháp luật.
- Buộc ông Phạm Văn T1 và bà Nguyễn Thị L thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết theo giao dịch chuyển nhượng đất ở đã ký; thực hiện các thủ tục hành chính liên quan dến việc tách thửa, sang tên GCNQSDĐ để vợ chồng ông Phạm Công H và bà Nguyễn Thị Bích T được cấp GCNQSDĐ đối với diện tích 420m² đất ở thuộc thôn A Á, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng có chiều dài 35m tính từ phần tiếp giáp đường 17a (nay là đường A) và chiều ngang 12m tính từ tường bao phân định ranh giới đât giữa hai gia đình, các phần còn lại tiếp giáp với phần đất của vợ chồng ông Phạm Văn T1 và bà Nguyễn Thị L.
- Ông Phạm Công H, bà Nguyễn Thị Bích T và ông Phạm Văn T1, bà Nguyễn Thị L được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục tách thửa, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích đất ở 420m² tại thửa số 76, tờ bản đồ số 18 thuộc thôn A, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng.
Diện tích đất 420m² của ông Phạm Công H và bà Nguyễn Thị Bích T tại thửa số 76, tờ bản đồ số 18 thuộc thôn A, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng được giới hạn bởi các mốc 1,2,4,5,1 (Có sơ đồ kèm theo).
- - Hủy một phần bản án dân sự sơ thẩm và đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Phạm Công H và bà Nguyễn Thị Bích T về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 081076, số vào sổ cấp GCNQSDĐ CH00593 do UBND huyện V cấp ngày 25/6/2018 mang tên ông Phạm Văn T1 và bà Nguyễn Thị L đối với diện tích đất 1.759m² tại thửa số 76, tờ bản đồ số 18 thuộc thôn A, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng.
- Về án phí: Ông Phạm Văn T1 không phải nộp án phí dân sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Phan Nam |
Bản án số 583/2024/DS-PT ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 583/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: kc
