|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 583/2024/DS-ST
Ngày 19-08-2024
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Kim Hoài
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Văn Vân
- Ông Võ Văn Dương
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Thanh Thi – Thư ký Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: không có.
Ngày 19 tháng 08 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 307/TLST-DS ngày 22 tháng 04 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 385/2024/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 07 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 419/2024/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 07 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1946; địa chỉ: E đường số D, Áp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1963; địa chỉ: số G Tỉnh lộ 8, Tổ B, Áp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
2. Bị đơn: Bà Võ Thị N, sinh năm 1955; địa chỉ: số G, đường N, Tổ G, ấp C, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các biên bản làm việc tại Tòa án, nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Từ năm 2005 đến năm 2022 nguyên đơn cho bị đơn mượn tiền nhiều lần, ngày 01 tháng 11 năm 2023 hai bên lập Giấy mượn tiền xác nhận tổng số tiền bị đơn mượn của nguyên đơn là 383.900.000 đồng, nội dung Giấy mượn tiền ngày 01 tháng 11 năm 2023 không thể hiện lãi suất và thời hạn trả nợ. Do bị đơn mượn tiền của nguyên đơn đã lâu mà không thanh toán cho nguyên đơn nên ngày 17 tháng 01 năm 2024 nguyên đơn đã gửi Thông báo đòi nợ cho bị đơn yêu cầu bị đơn thanh toán toàn bộ số tiền nợ trên cho nguyên đơn trong thời hạn kể từ ngày nhận được thông báo đòi nợ đến hết ngày 25 tháng 01 năm 2024. Tuy nhiên, bị đơn cố tình không chịu trả nợ cho nguyên đơn. Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn thanh toán cho nguyên đơn số tiền nợ gốc là 383.900.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 01 tháng 11 năm 2023 đến ngày 30 tháng 04 năm 2024 là 86.377.500 đồng (lãi suất 1,5%/tháng).
Tại phiên hòa giải ngày 08 tháng 07 năm 2024, nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nợ gốc là 383.900.000 đồng, tiền lãi tính từ ngày 25 tháng 01 năm 2024 đến ngày 25 tháng 06 năm 2024 là 15.995.833 đồng (lãi suất 10%/năm) và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 26 tháng 06 năm 2024 cho đến khi bị đơn trả hết nợ.
Bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và yêu cầu bị đơn thanh toán toàn bộ nợ gốc và lãi tính đến ngày 19 tháng 08 năm 2024 là 405.724.452 đồng, trong đó: tiền nợ gốc là 383.900.000 đồng, tiền lãi là 21.824.452 đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 20 tháng 08 năm 2024 cho đến khi bị đơn thanh toán hết khoản nợ theo mức lãi suất 10%/năm. Nguyên đơn xin rút lại một phần tiền lãi là 64.553.048 đồng, và chỉ yêu cầu cá nhân bị đơn chịu trách nhiệm trả khoản nợ trên cho nguyên đơn, không yêu cầu chồng của bị đơn cùng chịu trách nhiệm trả nợ với bị đơn.
Bị đơn vắng mặt không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015, đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do, căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[3] Về yêu cầu của các đương sự:
[3.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả toàn bộ số tiền nợ gốc và tiền lãi tính đến ngày 19 tháng 08 năm 2024 là 405.724.452 đồng, trong đó: tiền nợ gốc là 383.900.000 đồng, tiền lãi là 21.824.452 đồng, trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật:
Căn cứ Giấy mượn tiền ngày 01 tháng 11 năm 2023, bản tự khai của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định nguyên đơn bà Nguyễn Thị B có cho bị đơn bà Võ Thị N mượn số tiền 383.900.000 đồng, không có lãi suất và thời hạn trả nợ. Ngày 17 tháng 01 năm 2024 nguyên đơn đã gửi Thông báo đòi nợ yêu cầu bị đơn thanh toán toàn bộ khoản nợ trong thời hạn đến hết ngày 25 tháng 01 năm 2024. Quá trình giải quyết vụ án bị đơn đã nhiều lần trực tiếp nhận được giấy triệu tập nhưng không đến Tòa án để giải quyết tranh chấp, như vậy, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ và không có thiện chí trả nợ cho nguyên đơn.
Căn cứ Điều 463, Điều 466 và Điều 469 Bộ luật Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của nguyên đơn là hợp pháp nên chấp nhận, buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền còn nợ tính đến ngày 19 tháng 08 năm 2024 là 405.724.452 đồng, trong đó: tiền nợ gốc là 383.900.000 đồng, tiền lãi là 21.824.452 đồng, trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
[3.2] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn tiếp tục trả lãi kể từ ngày 20 tháng 08 năm 2024 cho đến khi trả hết khoản nợ theo mức lãi suất 10%/năm:
Căn cứ Điều 13 Nghị quyết 01/2019/ NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, Hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu của nguyên đơn là hợp pháp nên chấp nhận, buộc bị đơn phải tiếp tục thanh toán lãi quá hạn đối với khoản nợ gốc kể từ sau khi tuyên án sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
[3.3] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối số tiền lãi là 64.553.048 đồng:
Xét thấy, nguyên đơn tự nguyện xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền lãi là 64.553.048 đồng, căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số tiền lãi là 64.553.048 đồng.
[3.3] Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn xác nhận chỉ cho cá nhân bị đơn mượn khoản tiền trên nên chỉ yêu cầu cá nhân bị đơn chịu trách nhiệm trả nợ cho nguyên đơn, không yêu cầu chồng bị đơn cùng trả nợ, xét thấy, đây là ý chí và sự tự nguyện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Hoàn lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 463, 466, 468 và 469 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 6, 7, 9 và 30 Luật thi hành án dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Buộc bà Võ Thị N phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị B số tiền nợ gốc và tiền lãi tính đến ngày 19 tháng 08 năm 2024 là 405.724.452 đồng (Bốn trăm lẻ năm triệu bảy trăm hai mươi bốn nghìn bốn trăm năm mươi hai đồng), trong đó: tiền nợ gốc là 383.900.000 đồng, tiền lãi là 21.824.452 đồng phát sinh từ Giấy mượn tiền ngày 01 tháng 11 năm 2023, trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà Võ Thị N còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Đình chỉ xét xử đối với một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số tiền lãi là 64.553.048 đồng.
2. Về án phí: Bà Võ Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 20.228.978 đồng (Hai mươi triệu hai trăm hai mươi tám nghìn chín trăm bảy mươi tám đồng).
Bà Nguyễn Thị B được miễn nộp tiền án phí theo quy dịnh tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Hoài |
Bản án số 583/2024/DS-ST ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 583/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
