|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 583/2024/HS-PT Ngày: 22 - 7 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Toàn
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thanh
Ông Nguyễn Văn Hùng
Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Vi Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 376/2024/TLPT- HS ngày 08/5/2024 đối với các bị cáo Đỗ Thành N, Lưu Tiến Đ, Võ Hoàng N1, Võ Trung N2 do có kháng cáo của các bị cáo Võ Hoàng N1, Võ Trung N2 và kháng nghị của Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 125/2024/HSST ngày 26/3/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo có kháng cáo, bị kháng nghị:
-
Họ và tên: Đỗ Thành N, Giới tính: Nam; Sinh năm 2003 tại Đồng Nai; Thường trú: Ấp P, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Nơi ở: C tổ G, ấp G, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: học nghề rửa xe; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Phạm Quyền A và bà Đỗ Thị Ánh T; Hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/3/2022;
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Lưu Tiến Đ, Giới tính: Nam; Sinh ngày 27/11/2004 (khi phạm tội bị cáo 17 tuổi 3 tháng 19 ngày) tại Vĩnh Phúc; Thường trú: xã K, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi ở: C P, tổ I, ấp G, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: học sinh; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Lưu Tuấn H và bà Bùi Thị H1; Hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/3/2022;
Bị cáo có mặt tại phiên tòa;
-
Họ và tên: Võ Hoàng N1, Giới tính: N2; Sinh năm 1997 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: 63/5C, tổ H, khu phố G, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: tài xế; Trình độ văn hóa: 03/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Võ Hoàng D và bà Trương Thanh X; Hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/3/2022;
Bị cáo có mặt tại phiên tòa;
-
Họ và tên: Võ Trung N2 (tên gọi khác: N2 nhỏ), Giới tính: Nam; Sinh ngày 29/10/2005 (khi phạm tội bị cáo 16 tuổi 4 tháng 19 ngày) tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: 58/12 khu phố G, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 07/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Võ Thành T1 và bà Giáp Thị Kiều O; Hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/3/2022 đến ngày 02/4/2022 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa;
- Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Thành N: Luật sư Nguyễn Quốc P thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (Có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Lưu Tiến Đ: Luật sư Trịnh Thị H2 và luật sư Lê Thị Ánh T2 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (Có mặt).
Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo; đại diện bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Thành N, Nguyễn Huỳnh Nhật H3, Nguyễn Trọng K, Trần Thanh T3, Trịnh Hoàng Minh T4, Lưu Tiến Đ, Chu Tấn P1, Lê Vũ Bảo T5, Nguyễn Xuân K1 và chị Nguyễn Thanh D1 là bạn bè quen biết nhau, Phi L (chưa rõ lai lịch) là bạn của Đ, V (chưa rõ lai lịch) là bạn mới quen với N, C (chưa rõ lai lịch) là bạn mới quen với Xuân K1.
Phạm Khánh D2, Nguyễn K1, Nguyễn Lê Hoàng T6, Võ Hoàng N1, Võ Trung N2, Trần Thạch Minh Al và Trần Thạch Minh A1 là bạn bè quen biết nhau, T7 (chưa rõ lai lịch) là bạn của D2.
Khoảng 23 giờ ngày 16/3/2022, Nguyễn K1, cùng nhóm bạn gồm: Nguyễn Lê Hoàng T6, Phạm Khánh D2, Võ Trung N2 và Võ Hoàng N1 ngồi uống rượu, bia tại nhà của N1, địa chỉ số F khu phố G, phường T, Quận A. T6 biết K1 trước đó có quen biết chị Nguyễn Thanh D1, nên T6 nói K1 gọi điện thoại thông qua ứng dụng M cho chị D1 để T6 xem mặt chị D1 nhưng chị D1 không nghe máy mà nhắn tin cho K1, K1 nhắn tin lại yêu cầu chị D1 cho xem hình nhưng chị D1 không đồng ý. Lúc này, chị D1 đang đi uống nước cùng với Đỗ Thành N (là bạn trai của chị D1), N đang ngồi kế bên đọc được tin nhắn nên lấy điện thoại của chị D1 nhắn tin lại cho K1 “tôi là bạn trai của D1 muốn xem mặt là xem sao bạn”, sau đó hai bên không liên lạc nữa.
Đến khoảng 22 giờ ngày 17/3/2022, N cùng nhóm bạn gồm: Nguyễn Huỳnh Nhật H3, Nguyễn Trọng K, Trần Thanh T3, Trịnh Hoàng Minh T4 và chị D1 đang ngồi ăn phở trên đường T (gần Nhà hàng H6), xã X, huyện H. Cùng thời điểm trên, Phạm Khánh D2, Nguyễn K1, Nguyễn Lê Hoàng T6, Võ Hoàng N1 và Võ Trung N2 đang ngồi uống rượu, bia tại nhà của N1, địa chỉ số F khu phố G, phường T, Quận A, K1 kể lại sự việc nhắn tin cho chị D1 vào ngày 16/3/2022 và N nhắn tin lại có nội dung trên cho cả nhóm nghe. Nghe xong, D2, T6 và K1 tiếp tục nhắn tin cho chị D1 yêu cầu gửi hình ảnh và vị trí để gặp mặt giải quyết mâu thuẫn với N, nhưng chị D1 không trả lời tin nhắn. Do D2 có số điện thoại của N nên D2 gọi điện thoại cho N, thì giữa D2 và N xảy ra mâu thuẫn hai bên chửi tục rồi thách thức, hẹn gặp để đánh nhau. Sau đó, N gọi điện thoại Lưu Tiến Đ (bạn của N) nhờ giải quyết mâu thuẫn với D2, thì Đ hẹn gặp N tại nhà của chị Đỗ Nguyễn Bảo H4 (bạn gái của Đ), địa chỉ số C ấp C, xã V, huyện B, rồi N cùng H3, K, T4, Trần Thanh T3 và chị D1 đi đến điểm hẹn gặp Lưu Tiến Đ, Chu Tấn P1 và Lê Vũ Bảo T5 (bạn của Đ) do Đ rủ đến. Tại đây, N kể lại sự việc chị D1 (bạn gái của N) bị nhóm của Phạm Khánh D2 trêu chọc và còn thách thức đánh nhau với N. Khi nghe xong, Đ rủ cả nhóm đi gặp đánh nhóm Phạm Khánh D2, thì cả nhóm đồng ý (riêng anh T4, anh Minh T8, chị D1 và chị H4 không tham gia). N gọi điện thoại cho Khánh D2 hẹn gặp lúc 00 giờ ngày 18/3/2022, tại đường P, xã X, huyện H để đánh nhau. Đ nói với K, H3, T8 và P1 đi xe máy đến bãi để xe ô tô, địa chỉ số D Nữ D, ấp D, xã V, huyện B, cạnh nhà anh Nguyễn Minh L1 (do anh L1 cho thuê) lấy 02 bó hung khí gồm 10 cây dao phóng lợn và 10 cây dao tự chế, tổng cộng 20 cây dao (số hung khí này do Đ và T8 cất giấu ở bãi xe của anh L1 trước đó khoảng 02 tháng), T8 đưa cho H3 01 bó, Thiên ôm 01 bó rồi K, T8, H3 và P1 đi đến bãi đất trống trên đường X, xã X, huyện H để gặp N và Đ. Khi gặp Đ, Lê Vũ Bảo T5 và H3 để 02 bó hung khí xuống bãi đất trống, rồi T5 điều khiển xe chở P1 đi về nhà không tham gia đánh nhau.
Đ gọi điện thoại cho Nguyễn Xuân K1, Phi L (chưa rõ lai lịch), N gọi điện thoại cho V (chưa rõ lai lịch) rủ đi đánh nhau với nhóm Khánh D2 thì Xuân K1, Phi L và V đồng ý. Một lúc sau, Xuân K1 chở đối tượng tên C (chưa rõ lai lịch), Phi L chở bạn của Phi L (chưa rõ lai lịch) và V đi xe máy đến điểm hẹn gặp nhóm Đỗ Thành N (Cu mang theo 02 cây dao tự chế dài khoảng 1,8m, cán dài 0lm, C đưa cho Xuân K1 01 cây dao tự chế). Sau đó, nhóm của N gồm: V, Đ, K, H3, Phi L và bạn của Phi L mỗi người cầm 01 cây dao phóng lợn, Xuân K1 và C cầm dao tự chế làm hung khí để đi đánh nhau. N điều khiển xe máy chở V và Đ; K điều khiển xe máy chở H3; Xuân K1 điều khiển xe máy chở C; Phi L đi cùng 01 thanh niên (chưa rõ lai lịch) cùng đi đến điểm hẹn với Khánh D2.
Khoảng 23 giờ 30 ngày 17/3/2022, Phạm Khánh D2, Nguyễn K1, Nguyễn Lê Hoàng T6, Võ Hoàng N1, Võ Trung N2 và Trần Thạch Minh A1 đang có mặt tại nhà của N1, địa chỉ số F khu phố G, phường T, Quận A, thì N gọi điện thoại cho D2 hẹn gặp đánh nhau tại đường P, xã X, huyện H nên Khánh D2 rủ cả nhóm đi đánh nhau với nhóm của N, thì cả nhóm đồng ý. Khánh Duy rủ đối tượng T7 (chưa rõ lai lịch), Minh A1 rủ Nguyễn Thành N3 cùng đi đánh nhau, rồi Khánh D2 lấy 01 bó hung khí gồm: 03 cây chĩa bằng kim loại (đầu 03 nhánh nhọn) 01 cây mã tấu, 02 cây dao tự chế, T, Minh Al mỗi người cầm cây dao tự chế, T7 cầm cây dao mã tấu, T, N1 và Khánh D2 mỗi người cầm 01 cây chĩa đi đánh nhau.
Khoảng 00 giờ ngày 18/3/2022, nhóm của N đi xe máy đến trước quán C1, địa chỉ số A T, xã X, huyện H, thì gặp Phạm Khánh D2 điều khiển xe Exciter chở Nguyễn Thành N3, Nguyễn K1 điều khiển xe Wave chở Nguyễn Lê Hoàng T6 và Võ Hoàng N1; Trần Thạch Minh A1 điều khiển xe V1 chở Võ Trung N2 và T7 (chưa rõ lai lịch) lưu thông theo chiều ngược lại, thì nhóm của N gồm: V, Đ, K, H3, Phi L và bạn của Phi L mỗi người cầm 01 cây dao phóng lợn, Xuân K1 và C cầm dao tự chế xông đến chém nhóm Khánh D2, Khánh D2 dùng cây chĩa đâm 01 nhát trúng chân trái của N, Đ dùng cây dao tự chế đâm 01 nhát vào vùng bụng và chém 02 nhát vào vai của D2, H3 dùng cây dao phóng lợn đâm 01 nhát trúng chân phải của Khánh D2. Khánh D2 bỏ chạy đến trước nhà số H T, xã X bị té ngã xuống đường, thì bị V, C, Phi L và bạn Phi L dùng cây dao tự chế đâm, chém nhiều nhát. Thấy D2 bị nhóm của N bao vây, T, Minh A1, T, Hoàng T6, Nguyễn K1, Hoàng N1 và T7 quay xe lại đuổi đánh nhóm của N để giải vây cho D2, nên nhóm của N bỏ chạy khỏi hiện trường vứt bỏ hung khí trên đường T (Cơ quan điều tra đã thu giữ được 02 cây dao tự chế, 01 cây dao phóng lợn, 01 cây chĩa, 02 ống sắt hình trụ).
Phạm Khánh D2 được T, Minh A1, T, Hoàng T6, Nguyễn K1, Hoàng N1 và T7 đưa đến Bệnh viện huyện H cấp cứu nhưng Khánh D2 đã chết trước khi nhập viện.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 1731-22/KLGĐ-PY ngày 18/4/2022 của phòng K2 Công an Thành phố H, kết luận đối với Phạm Khánh D2:
Nguyên nhân chết: Phạm Khánh D2 chết do sốc mất máu không hồi phục vết thương đâm thủng phổi phải (bút lục 22-40).
Ngày 19/3/2022, Nguyễn Trọng K, Nguyễn Huỳnh Nhật H3, Lê Vũ Bảo T5, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H ra Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, cùng ngày 19/3/2022, Lưu Tiến Đ, Nguyễn Xuân K1 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đầu thú.
Đến ngày 24/3/2022, Nguyễn Lê Hoàng T6, Nguyễn K1, Võ Hoàng N1, Võ Trung N2, Nguyễn Thành N3 và Trần Thạch Minh A1 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đầu thú.
Đối với đối tượng tên Phi L, C, V và bạn của Phi L, T7 (chưa rõ lai lịch) có hành vi cùng N dùng hung khí tham gia đánh nhau với nhóm Phạm Khánh D2. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã ra Quyết định tách vụ án tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào xác định được xử lý sau.
Đối với các anh, chị Trịnh Hoàng Minh T4, Trần Thanh T3, Nguyễn Thanh D1 và chị Đỗ Nguyễn Bảo H4 không tham gia đánh nhau với nhóm Phạm Khánh D2, và anh Nguyễn Minh L1 không biết số hung khí mà Lưu Tiến Đ và đồng phạm sử dụng để đánh nhau với nhóm của Phạm Khánh D2 là do Đ cất giấu ở bãi xe của anh L1, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H không xử lý hình sự là có căn cứ.
Trong lúc tham gia đánh nhau Đỗ Thành N bị Phạm Khánh D2 gây thương tích ở chân trái đã được điều trị ổn định, N không yêu cầu xử lý hình sự, từ chối giám định thương tích và không yêu cầu bồi thường.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 125/2024/HSST ngày 26/3/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
-
Căn cứ điểm n Khoản 1 Điều 123; điểm o Khoản 1 Điều 52; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo: Đỗ Thành N 16 (mười sáu) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày 28/3/2022.
-
Căn cứ điểm n Khoản 1 Điều 123; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 101 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo: Lưu Tiến Đ 10 (mười) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày 19/3/2022.
-
Căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 318; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo: Võ Hoàng N1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày 24/3/2022.
-
Căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 318; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 101 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo: Võ Trung N2 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án (có khẩu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/3/2022 đến ngày 02/4/2022).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về tội danh, hình phạt cho các bị cáo khác; trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo, đại diện bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Ngày 28/3/2024, bị cáo Võ Trung N2 có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.
Ngày 05/4/2024, bị cáo Võ Hoàng N1 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 25/4/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 10/QĐ-VC3-V1, kháng nghị một phần bản án sơ thẩm về phần trách nhiệm hình sự của các bị cáo Đỗ Thành N, Lưu Tiến Đ; đề nghị xét xử phúc thẩm theo hướng tăng nặng hình phạt đối với các bị cáo Đỗ Thành N, Lưu Tiến Đ về tội "Giết người".
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Phần xét hỏi:
- Bị cáo Võ Trung N2 giữ nguyên kháng cáo và trình bày: Gia đình bị cáo cha mẹ đã ly dị từ khi còn bé nên bị cáo giờ sống với ông bà, ông bà giờ đã già yếu không ai chăm sóc. Kính mong HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo chăm sóc ông bà.
- Bị cáo Võ Hoàng N1 tự nguyện rút toàn bộ kháng cáo của mình.
- Bị cáo Đỗ Thành N trình bày: Không đồng ý với nội dung kháng nghị, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm
- Bị cáo Lưu Tiến Đ trình bày: Không đồng ý với nội dung kháng nghị, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm
- Phần tranh luận
- + Đối với kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân cấp cao giữ nguyên Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 10/QĐ-VC3-V1 ngày 25/4/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đề nghị Hội đồng xét xử tăng nặng hình phạt đối với các bị cáo Đỗ Thành N, Lưu Tiến Đ về tội “Giết người”. Đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ Thành N mức án từ 18 đến 20 năm tù, bị cáo Lưu Tiến Đ mức án từ 12 đến 14 năm tù.
- + Đối với kháng cáo của bị cáo Võ Hoàng N1: Bị cáo đã tự nguyện rút toàn bộ kháng cáo nên đề nghị HĐXX đình chỉ xét xử đối với bị cáo N1.
- + Đối với kháng cáo của bị cáo Võ Trung N2: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo N2 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại b Khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đúng, đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cho bị cáo, nên hình phạt 01 năm 06 tháng tù đối với bị cáo N2 theo bản án sơ thẩm là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo N2 xin hưởng án treo nhưng không cung cấp được tình tiết mới. Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bị cáo Võ Trung N2 giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Võ Trung N2.
- Phần đối đáp của người bào chữa cho bị cáo Đỗ Thành N: Đồng ý về tội danh của bị cáo. Còn về hình phạt, mức án mà bị cáo phải chịu là quá cao. Bị cáo không có chủ ý Giết người, không mang theo hung khí và cái chết của bị hại không phải là do bị cáo tấn công. Ngoài ra, bị cáo có nhân thân tốt, đã có sự ăn năn hối cải, đã tác động gia đình bồi thường cho gia đình bị hại. Do đó, đề nghị HĐXX bác kháng nghị của Viện kiểm sát.
- Phần đối đáp của người bào chữa cho bị cáo Lưu Tiến Đ: Bị cáo khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên sự hiểu biết pháp luật còn hạn chế, bị cáo chỉ vì lời khích của bạn bè mới thực hiện hành vi của mình. Gia đình bị cáo đã bồi thường thiệt hại và gia đình bị hại đã có đơn bãi nại. Gia đình bị cáo có ông là người có công cách mạng. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ và bị cáo chưa thành niên nên mức án 10 năm tù mà tòa sơ thẩm đã tuyên là có căn cứ và đủ mức răn đe với bị cáo. Nên đề nghị HĐXX bác kháng nghị của Viện kiểm sát.
- Phần đối đáp của bị cáo Võ Trung N2: Bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm của mình.
- Phần các bị cáo nói lời sau cùng:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
- Đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa cho các bị cáo, các bị cáo giữ nguyên quan điểm về phần tranh tụng của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.
Bị cáo N đã biết lỗi của mình, bị cáo tuổi đời còn trẻ, kính mong HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
Bị cáo Đ đã biết lỗi của mình, kính mong HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
Bị cáo N2 đã biết lỗi, ông nội của bị cáo là người có công cách mạng, tuổi đời bị cáo còn nhỏ, gia đình hoàn cảnh khó khăn nên kính mong HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về tố tụng:
- [1.1] Bị cáo Võ Trung N2, bị cáo Võ Hoàng N1 thực hiện việc kháng cáo đúng quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự nên đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.
- [1.2] Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 10/QĐ-VC3-V1 ngày 25/4/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh là đúng thẩm quyền và còn trong thời hạn luật định nên hợp lệ.
- [1.3] Tại cấp phúc thẩm, bị cáo Võ Hoàng N1 đã tự nguyện rút toàn bộ kháng cáo của mình. Do đó, Hội đồng xét xử đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát về việc đình chỉ đối với kháng cáo của bị cáo Võ Hoàng N1.
- [2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của các bị cáo và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định:
-
[2.1] Xuất phát từ mâu thuẫn trong việc nhóm Nguyễn K1 nhắn tin trêu chọc chị Nguyễn Thị Thanh D3 (bạn gái bị cáo Đỗ Thành N), anh Phạm Khánh D2 đã gọi điện thoại cho N và hai bên thách thức đánh nhau. Bị cáo N rủ bị cáo Lưu Tiến Đ, Lê Vũ Bảo T5, Nguyễn Huỳnh Nhật H3, Nguyễn Trọng K, Nguyễn Xuân K1, Chu Tấn P1 cùng một số đối tượng tên Phi L, C, V, bạn của Phi L (chưa rõ lai lịch) chuẩn bị hung khí là dao tự chế để đi đánh nhau với nhóm của K1, D2. D2 rủ nhóm K1, Nguyễn Lê Hoàng T6, Nguyễn Thành N3, Võ Trung N2, Trần Thạch Minh A1 và Võ Hoàng N1, T7 (chưa rõ lai lịch) mang theo dao tự chế, chĩa kim loại, mã tấu đi đánh nhóm của N.
Theo yêu cầu của Đ, nên T5, P1, H3, K đi lấy 02 bó hung khí gồm 10 cây dao phóng lợn và 10 cây dao tự chế đưa đến bãi đất trống cho N, Đ, sau đó T5 điều khiển xe chở P1 đi về nhà không tham gia đánh nhau.
Khoảng 00 giờ ngày 18/3/2022, nhóm của N mang theo hung khí đi xe máy đến trước quán C1, địa chỉ số A T, xã X, huyện H, thì gặp D2 điều khiển xe Exciter chở Thành N3, K1 điều khiển xe Wave chở T6 và N1; Minh A1 điều khiển xe Vario chở N3 và T7 (chưa rõ lai lịch) lưu thông theo chiều ngược lại. Nhóm của N gồm: V, Đ, K, H3, Phi L và bạn của Phi L mỗi người cầm 01 cây dao phóng lợn, Xuân K1 và C cầm dao tự chế xông đến chém nhóm D2, D2 dùng cây chĩa đâm 01 nhát trúng chân trái của N, Đ liền dùng cây dao tự chế đâm vào vùng bụng, chém vào vai Khánh D2, H3 dùng cây dao phóng lợn đâm 01 nhát trúng chân phải của D2. D2 bỏ chạy bị té ngã xuống đường, thì bị V, C, Phi L và bạn Phi L dùng cây dao tự chế đâm, chém nhiều nhát. Thấy D2 bị nhóm của N bao vây, T, Minh A1, T, T6, K1, N1 và T7 quay xe lại đuổi đánh nhóm của N để giải vây cho D2, nên nhóm của N bỏ chạy khỏi hiện trường vứt bỏ hung khí trên đường. Hậu quả làm cho người bị hại Phạm Khánh D2 chết do sốc mất máu không hồi phục vết thương đâm thủng phổi phải, theo Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 1731-22/KLGĐ-PY ngày 18/4/2022 của phòng K2 công an thành phố H.
-
[2.2] Các bị cáo Đỗ Thành N, Lưu Tiến Đ, Nguyễn Huỳnh Nhật H3, Nguyễn Trọng K, Nguyễn Xuân K1 nhận thức được việc dùng hung khí tấn công bị hại có khả năng làm người bị hại tử vong nhưng vẫn cùng nhau thực hiện hành vi dẫn đến hậu quả người bị hại tử vong. Bị cáo Lê Vũ Bảo T5 và Chu Tấn P1 không trực tiếp tham gia đánh nhau nhưng khi được rủ đi đánh nhau thì T5, P1 đồng ý, sau đó đã đi lấy hung khí mang đến cho các bị cáo khác; T5, P1 biết các đồng phạm dùng hung khí vào việc đánh nhau với nhóm của D2, K1 nhưng vẫn thực hiện, thể hiện sự tiếp nhận ý chí với các bị cáo khác trong việc tấn công nhóm bị hại.
Hành vi của các bị cáo Đỗ Thành N, Lưu Tiến Đ, Nguyễn Huỳnh Nhật H3, Nguyễn Trọng K, Nguyễn Xuân K1, Lê Vũ Bảo T5, Chu Tấn P1 là đặc biệt nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến tính mạng của người bị hại bị hại được pháp luật quy định và bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an ninh xã hội. Chỉ xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ nhưng các bị cáo đã cùng nhau chuẩn bị hung khí, dùng hung khí tấn công người bị hại tử vong, thể hiện tính chất côn đồ của các bị cáo.
Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Đỗ Thành N, Lưu Tiến Đ, Nguyễn Huỳnh Nhật H3, Nguyễn Trọng K, Nguyễn Xuân K1, Lê Vũ Bảo T5, Chu Tấn P1 phạm tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
-
[2.3] Các bị cáo Nguyễn K1, Nguyễn Lê Hoàng T6, Nguyễn Thành N3, Võ Trung N2, Trần Thạch Minh A1, Võ Hoàng N1 nhận thức được việc mang theo hung khí, tụ tập đông người để đánh nhau là hành vi trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.
Hành vi của các bị cáo Nguyễn K1, Nguyễn Lê Hoàng T6, Nguyễn Thành N3, Võ Trung N2, Trần Thạch Minh A1, Võ Hoàng N1 xâm phạm trật tự công cộng, trực tiếp gây mất an ninh, trật tự xã hội.
Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn K1, Nguyễn Lê Hoàng T6, Nguyễn Thành N3, Võ Trung N2, Trần Thạch Minh A1, Võ Hoàng N1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại Điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
-
[2.4] Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị tăng nặng hình phạt đối với bị cáo Đỗ Thành N
Đây là vụ án có đồng phạm, trong đó bị cáo Đỗ Thành N giữ vai trò chủ mưu, xúi giục trong nhóm các bị cáo phạm tội "Giết người", bị cáo N là người phát sinh mâu thuẫn với bị hại Phạm Khánh D2, sau đó đã rủ rê, lôi kéo bị cáo Lưu Tiến Đ và các đồng phạm khác (trong đó có đồng phạm chưa đủ 18 tuổi) đi đánh bị hại, bị cáo N cũng là người trực tiếp cùng với các đồng phạm khác xông đến tấn công nhóm của D2.
Bị cáo N có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự; sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo đã thương lượng bồi thường thiệt hại để khắc phục hậu quả và được gia đình bị hại làm đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuy nhiên, bị cáo N có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là "Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội" quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phần Quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo N không ghi căn cứ điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả”. Tuy nhiên, tại Mục [4] phần Nhận định của bản án sơ thẩm về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tòa án cấp sơ thẩm đã ghi nhận gia đình bị cáo N, Đ, H3, K1, Bảo T5, P1 đã tự nguyện thương lượng bồi thường toàn bộ thiệt hại về dân sự nhằm khắc phục hậu quả và được gia đình bị hại làm đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Như vậy, bản án sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo N, việc bản án sơ thẩm không ghi căn cứ này tại phần Quyết định là có thiếu sót nhưng không ảnh hưởng đến việc quyết định hình phạt.
Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét vai trò của bị cáo, xét các tình tiết nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự nêu trên nhưng xử phạt bị cáo Đỗ Thành N 16 (mười sáu) năm tù là chưa tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội mà bị cáo thực hiện, chưa tương xứng với hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.
Do đó, Hội đồng xét xử phúc xét thấy có căn cứ chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, tăng nặng hình phạt đối với bị cáo Đỗ Thành N.
-
[2.5] Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị tăng nặng hình phạt đối với bị cáo Lưu Tiến Đ
Trong nhóm các bị cáo phạm tội “Giết người”, bị cáo Lưu Tiến Đ có vai trò thứ hai, chỉ sau bị cáo Đỗ Thành N. Đ là người rủ các đồng phạm khác đi đánh nhóm của bị hại, chỉ đạo K, H3, T5, P1 đi lấy hung khí để các đồng phạm sử dụng tấn công bị hại, bị cáo Đ cũng là người trực tiếp tham gia đánh người bị hại, gây ra vết thương chính dẫn đến hậu quả người bị hại tử vong, thể hiện tính côn đồ, hung hãn trong khi thực hiện hành vi.
Bị cáo Đ có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự; sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo đã thương lượng bồi thường thiệt hại để khắc phục hậu quả và được gia đình bị hại làm đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, gia đình bị cáo là thân nhân gia đình liệt sỹ; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại thời điểm phạm tội bị cáo Đ chưa đủ 18 tuổi.
Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét vai trò của bị cáo, xem xét các tình tiết nhân thân, độ tuổi, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên, nhưng tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự và xử phạt bị cáo Lưu Tiến Đ 10 (mười) năm tù là chưa tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội mà bị cáo thực hiện, chưa tương xứng với hậu quả hành vi phạm tội do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.
Do đó, Hội đồng xét xử phúc xét thấy có căn cứ chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, tăng nặng hình phạt đối với bị cáo Lưu Tiến Đ.
-
[2.6] Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Võ Trung N2
Tương tự bị cáo Võ Hoàng N1, bị cáo Võ Trung N2 là đồng phạm trong nhóm các bị cáo phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Xuất phát từ mâu thuẫn của nhỏ người khác (mâu thuẫn của Nguyễn K1, bị hại Phạm Khánh D2 với Đỗ Thành N), bị cáo đã nghe lời rủ rê, xúi giục nên đã cầm cây chĩa cùng đi đánh nhóm Đỗ Thành N, góp phần dẫn đến cuộc ẩu đả không đáng có, gây mất an ninh trật tự xã hội.
Bị cáo N2 có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự; sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại thời điểm phạm tội bị cáo Trung N2 chưa đủ 18 tuổi.
Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét vai trò của bị cáo, xét các tình tiết nhân thân, độ tuổi, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên, xử phạt bị cáo Võ Trung N2 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội mà bị cáo thực hiện. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để trừng phạt, răn đe, giáo dục như mức hình phạt đã tuyên là phù hợp.
Quá trình tố tụng tại giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa, bị cáo Võ Trung N2 kháng cáo xin hưởng án treo nhưng không cung cấp được tình tiết, chứng cứ mới có cơ sở làm căn cứ để tòa án xem xét.
Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Võ Trung N2.
- [3] Từ các nhận định nêu trên, có cơ sở chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh; có cơ sở chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa; không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Trung N2. Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 125/2024/HSST ngày 26 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về hình phạt đối với bị cáo Đỗ Thành N, bị cáo Lưu Tiến Đ.
- [4] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- [5] Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Võ Trung N2 phải chịu theo quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Võ Hoàng N1 rút toàn bộ kháng cáo nên không phải chíu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ vào Điều 348 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Võ Hoàng N1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Giữ nguyên phần hình phạt đối với bị cáo Võ Hoàng N1 tại Bản án hình sự sơ thẩm số 125/2024/HSST ngày 26 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
-
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh; Chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh; Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Trung N2. Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 125/2024/HSST ngày 26 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về phần hình phạt đối với các bị cáo Đỗ Thành N, Lưu Tiến Đ:
-
Căn cứ điểm n Khoản 1 Điều 123; điểm o Khoản 1 Điều 52; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo: Đ (mười tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tính từ ngày 28/3/2022.
-
Căn cứ điểm n Khoản 1 Điều 123; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 101 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo: Lưu Tiến Đ 12 (mười hai) năm tù về tội “Giết người”
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/3/2022.
-
Căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 318; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 101 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo: Võ Trung N2 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”
Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam trước đó từ ngày 24/3/2022 đến ngày 02/4/2022.
-
Căn cứ điểm n Khoản 1 Điều 123; điểm o Khoản 1 Điều 52; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày thời hạn hết kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
- Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Võ Trung N2 phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Đức Toàn |
|
Các Thẩm phán Nguyễn Thị T9 – Nguyễn Văn H5 |
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Vũ Đức T10 |
Bản án số 583/2024/HS-PT ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 583/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Võ Hoàng N1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Giữ nguyên phần hình phạt đối với bị cáo Võ Hoàng N1 tại Bản án hình sự sơ thẩm số 125/2024/HSST ngày 26 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh; Chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh; Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Trung N2. Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 125/2024/HSST ngày 26 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về phần hình phạt đối với các bị cáo Đỗ Thành N, Lưu Tiến Đ
