Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 582/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 26 - 12 - 2023

“V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Diệu

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Nguyễn Thị Kim Chi
  • 2. Ông Huỳnh Văn Sức

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Thy là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Lưu Tiến Dũng, kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 487/2023/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 342/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1981; địa chỉ: số C tổ G ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang (có đơn xin vắng);
  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1977; địa chỉ: số C tổ G ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang (có đơn xin vắng);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết, nguyên đơn bà Trần Thị H trình bày:

Trần Thị H với ông Nguyễn Văn H1 tự tìm hiểu và đi đến sống chung như vợ chồng vào năm 1999, không đăng ký kết. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm, bất đồng về kinh tế, không tôn trọng lẫn nhau, thường xuyên cãi vã, nên giữa bà H và ông H1 không sống chung từ đầu năm 2020 cho đến nay. Hai bên không còn liên lạc với nhau, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt. Vì vậy, bà H yêu cầu được ly hôn với ông H1.

- Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc H2, sinh ngày 10/07/2000; Nguyễn Phước Phi H3, sinh ngày 03/12/2005 (trưởng thành), không yêu cầu giải quyết.

  • Về tài sản chung: tự thoả thuận, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • Về nợ chung: không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là ông Nguyễn Văn H1 trình bày: Ông H1 với bà H đi đến hôn nhân vào năm 1999, hôn nhân do tự tìm hiểu có tổ chức lễ cưới, không đăng ký kết hôn. Quá trình sống chung vợ chồng có bất đồng về quan điểm sống, bất đồng về kinh tế, mục đích hôn nhân không đạt, nay ông H1 thống nhất ly hôn với bà H.

- Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc H2, sinh ngày 10/07/2000; Nguyễn Phước Phi H3, sinh ngày 03/12/2005 (trưởng thành).

  • Về tài sản chung: tự thoả thuận, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • Về nợ chung: không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn, bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định pháp luật.

Đối với đương sự:Trần Thị H với ông Nguyễn Văn H1 từ khi thụ lý vụ án, đã thực hiện đúng theo quy định và có đơn xin xét xử vắng mặt phù hợp với các Điều 70; 71 và Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ý kiến giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử: Không công nhận bà Trần Thị H với ông Nguyễn Văn H1 là vợ chồng; về con chung: Nguyễn Thị Ngọc H2, sinh ngày 10/07/2000; Nguyễn Phước Phi H3, sinh ngày 03/12/2005 (trưởng thành).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Trần Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn H1, nên quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Nguyễn Văn H1 với tư cách là bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại huyện P, tỉnh An Giang nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

Nguyên đơn và bị đơn có đơn xin xét xử vắng mắt, với lý do: hiện nay do đi làm thuê ở xa nên đi lại khó khăn, vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2] Về nội dung: Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa bà Trần Thị H với ông Nguyễn Văn H1 là tự nguyện tự và sống chung như vợ chồng vào năm 1999, có tổ chức lễ cưới, không đăng ký kết. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm, không tôn trọng lẫn nhau, thường xuyên cãi vã, nên giữa bà H và ông H1 không sống chung từ năm 2021 cho đến nay, do hôn nhân của ông bà không có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, nên được xem là hôn nhân không hợp pháp. Do đó căn cứ vào Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 không công nhận bà H và ông H1 là vợ chồng là phù hợp.

Về quan hệ con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc H2, sinh ngày 10/07/2000; Nguyễn Phước Phi H3, sinh ngày 03/12/2005 (trưởng thành), nên không xem xét giải quyết.

Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Do yêu cầu của bà Trần Thị H được chấp nhận nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 147, 273; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không công nhận bà Trần Thị H với ông Nguyễn Văn H1 là vợ chồng.
  2. Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc H2, sinh ngày 10/07/2000 và Nguyễn Phước Phi H3, sinh ngày 03/12/2005 (trưởng thành), nên không xem xét giải quyết.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Bà Trần Thị H phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ từ số tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0006363, ngày 21/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Phú Tân;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Tân;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu: HSVA.

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Ngọc Diệu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 582/2023/HNGĐ-ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 582/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger