TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 582/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 23/8/2024
V/v: Tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Ngọc Liên
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Bá Xuân
2. Bà Ngô Thùy Linh
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Phương – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ba Đình ghi biên bản phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa:
Bà Bùi Mai Phương – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 517 /2024/TLST - HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 307/2024/QÐST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1982; ĐKHKTT: Số G Tổ A Cụm C phường N, quận B, thành phố Hà Nội; Nơi ở: Nhà số E Ngõ C Đường P, phường M, quận N, thành phố Hà Nội. (Có mặt)
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1978; ĐKHKTT và nơi ở: Số G Tổ A Cụm C phường N, quận B, thành phố Hà Nội; Hiện đang Thi hành án tại K1 Trại giam S, huyện T, tỉnh Nghệ An. (Xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và các bản tự khai gửi Tòa án, anh Trần Văn T trình bày:
Về tình cảm: Anh Trần Văn T và chị Nguyễn Thị T1 kết hôn ngày 03/9/2008, tại Ủy ban Nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Trong quá trình chung sống đã xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, sống không hợp nhau, cuộc sống chung không hạnh phúc. Chị T1 phải đi chấp hành án tại Trại tạm giam giam số 6, Cục C, Bộ C1 đóng trên địa bàn huyện T, tỉnh Nghệ An. Anh T đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Nguyễn Thị Tuyết .
Về con chung: Anh Trần Văn T và chị Nguyễn Thị T1 có 05 người con là: Trần Anh T2, sinh ngày 27/10/2009; Trần Nguyễn Thanh T3, sinh ngày 13/11/2011; Trần Nguyễn Thanh T4, sinh ngày 20/01/2014; Trần Hạ Minh T5, sinh ngày 09/7/2016; Trần Đức P, sinh ngày 23/10/2022. Anh chị đã thống nhất thỏa thuận để anh Trần Văn T là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cả 05 người con chung. Chị T1 không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nhà ở: Anh Trần Văn T và chị Nguyễn Thị Tuyết t thỏa thuận, Không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết.
Về vay nợ: Anh Trần Văn T và chị Nguyễn Thị T1 không vay nợ ai, Không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn là chị Nguyễn Thị T1 theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng để đương sự được thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Chị Nguyễn Thị Tuyết h đang Thi hành án tại K1 Trại giam S, huyện T, tỉnh Nghệ An nên chị T1 đã làm bản tự khai đồng thời xin vắng mặt tại các buổi làm việc cũng như tại phiên tòa.
Tại bản tự khai Chị Nguyễn Thị T1 trình bày:
Về tình cảm: Chị Nguyễn Thị T1 đồng ý với những ý kiến anh Trần Văn T đã trình bày về điều kiện kết hôn, quá trình chung sống, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng. Chị T1 đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh T được ly hôn.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị T1 và anh Trần Văn T có 05 người con là: Trần Anh T2, sinh ngày 27/10/2009; Trần Nguyễn Thanh T3, sinh ngày 13/11/2011; Trần Nguyễn Thanh T4, sinh ngày 20/01/2014; Trần Hạ Minh T5, sinh ngày 09/7/2016; Trần Đức P, sinh ngày 23/10/2022. Anh chị đã thống nhất thỏa thuận để anh Trần Văn T là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cả 05 người con chung. Chị T1 không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nhà ở: Chị Nguyễn Thị T1 và anh Trần Văn T không có, Không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết.
Về vay nợ: Chị Nguyễn Thị T1 và anh Trần Văn T không vay nợ ai, Không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết.
Tại phiên tòa, anh Trần Văn T đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Nguyễn Thị Tuyết . Anh T giữ nguyên các yêu cầu về con chung, về tài sản chung, về nợ chung như đã trình bày.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tòa án đã xác định đúng thẩm quyền thụ lý và giải quyết vụ án, quan hệ pháp luật và tư cách tố tụng của người tham gia tố tụng theo Điều 28, 39, 40 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Đối với đương sự, Nguyên đơn và bị đơn đã được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình qui định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72 Điều 234 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;
Về nội dung vụ án: Sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 2 Điều 4; khoản 1 Điều 28; khoản 2 Điều 42; Điều 267 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58; 63; khoản 4 Điều 70; khoản 1 Điều 71; khoản 1, khoản 3 Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Điều 39 Bộ luật dân sự năm 2015 để xem xét: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Trần Văn T. Anh Trần Văn T được ly hôn với chị Nguyễn Thị Tuyết . Chấp nhận yêu cầu của anh Trần Văn T về việc nuôi con: Giao cháu Trần Anh T2, sinh ngày 27/10/2009; Trần Nguyễn Thanh T3, sinh ngày 13/11/2011; Trần Nguyễn Thanh T4, sinh ngày 20/01/2014; Trần Hạ Minh T5, sinh ngày 09/7/2016; Trần Đức P, sinh ngày 23/10/2022 cho anh Trần Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng của chị T1 cho đến khi có sự thay đổi khác. Chị Nguyễn Thị T1 có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.Về tài sản, nhà ở và nợ chung: Anh Trần Văn T và chị Nguyễn Thị T1 xác định không có, không yêu cầu nên đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết.
Áp dụng Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội để tuyên nguyên đơn chịu án phí ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Anh Trần Văn T và chị Nguyễn Thị T1 có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Chị Nguyễn Thị Tuyết h đang thi hành án tại K1 Trại giam S, huyện T, tỉnh Nghệ An. Trước khi đi thi hành án chị T1 sinh sống tại số G Tổ A Cụm C phường N, quận B, thành phố Hà Nội; Vì vậy, Tòa án tiến hành thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015.
Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị T1 xin vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị Tuyết .
[2] Về nội dung: Xét quan hệ hôn nhân giữa anh Trần Văn T và chị Nguyễn Thị T1 là quan hệ hôn nhân hợp pháp có đăng ký kết hôn ngày 03/9/2008 tại Ủy ban Nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Trong thời gian chung sống vợ chồng luôn xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống, sống không hợp nhau, cuộc sống chung không hạnh phúc. Hội đồng xét xử thấy mục đích hôn nhân là nhằm xây dựng một gia đình hạnh phúc, vợ chồng chung thủy thương yêu nhau, tôn trọng danh dự và uy tín cho nhau, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Rõ ràng cuộc hôn nhân của anh Trần Văn T và chị Nguyễn Thị T1 không đạt được mục đích đó.
Nay tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ là không thể, anh Trần Văn T làm đơn xin ly hôn chị Nguyễn Thị T1 là phù hợp với quy định của pháp luật theo các Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình. Chị T1 cũng đồng ý thuận tình ly hôn với anh Trần Văn T nhưng do đang bị tạm giam nên chị Nguyễn Thị T1 không thể làm các thủ tục thuận tình ly hôn theo quy định của pháp luật. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn T cũng như nguyện vọng thuận tình ly hôn của chị Nguyễn Thị Tuyết .
Về con chung: Anh Trần Văn T và chị Nguyễn Thị T1 có 05 người con là: Trần Anh T2, sinh ngày 27/10/2009; Trần Nguyễn Thanh T3, sinh ngày 13/11/2011; Trần Nguyễn Thanh T4, sinh ngày 20/01/2014; Trần Hạ Minh T5, sinh ngày 09/7/2016; Trần Đức P, sinh ngày 23/10/2022. Anh chị đã thống nhất thỏa thuận để anh Trần Văn T là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cả 05 người con chung. Chị T1 không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy nguyện vọng của anh Trần Văn T và chị Nguyễn Thị T1 là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận.
Về tài sản chung, nhà ở và nợ chung: Anh Trần Văn T và chị Nguyễn Thị T1 xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.
Về án phí sơ thẩm: Anh Trần Văn T phải chịu án phí sơ thẩm. Anh Trần Văn T và chị Nguyễn Thị T1 có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các căn cứ và nhận định trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng các Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39; Điều 70; khoản 4 Điều 147; các Điều 203; 228, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- Áp dụng các Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Áp dụng Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của anh Trần Văn T; Anh Trần Văn T được ly hôn với chị Nguyễn Thị Tuyết .
- Về con chung: Giao cháu Trần Anh T2, sinh ngày 27/10/2009; Trần Nguyễn Thanh T3, sinh ngày 13/11/2011; Trần Nguyễn Thanh T4, sinh ngày 20/01/2014; Trần Hạ Minh T5, sinh ngày 09/7/2016; Trần Đức P, sinh ngày 23/10/2022 cho anh Trần Văn T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Chị T1 không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con.
- Chị Nguyễn Thị T1 có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nhà ở và nợ chung: Anh Trần Văn T và chị Nguyễn Thị T1 xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.
- Về án phí sơ thẩm: Anh Trần Văn T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0030360 ngày 24 tháng 7 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Án xử công khai sơ thẩm, anh Trần Văn T có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Nguyễn Thị T1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Đinh Ngọc Liên |
Bản án số 582/2024/HNGĐ-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 582/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án hôn nhân gia đình
