Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số 582/2024/HS-PT

Ngày 22 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Chung Văn Kết

Các Thẩm phán: Ông Phạm Công Mười

Bà Nguyễn Thị Thanh

Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Linh Huệ – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 323/2024/TLPT-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Minh H do có kháng cáo của bị cáo H đối với bản án hình sự sơ thẩm số 33/2024/HS-ST ngày 12 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Minh H, tên gọi khác: không, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1964 tại Đồng Nai.

Nơi cư trú: ấp P, xã Đ, huyện N, Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: Lớp 3/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Phạm Văn C sinh năm 1938 (chết) và con bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1940. Gia đình bị cáo có 04 anh chị em, bị cáo là thứ ba. C1 sống như vợ chồng với Phan Thị S, sinh năm 1964 và có 02 con, lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất sinh năm 1989, (đã ly hôn). Vợ thứ 2 Lê Thị H1, sinh năm 1972 và có 02 con, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2002, (đã ly hôn) và vợ thứ 3 Võ Thị C2, sinh năm 1983 và có 01 con, sinh năm 2015 (đã ly thân), đến năm 2021 sống chung như vợ chồng với Nguyễn Thị T, sinh năm 1986 (T có một người con riêng) hai người chưa có con chung. Tiền án: Ngày 13 tháng 8 năm 2020, bị Toà án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm 6 tháng tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù từ ngày 14/10/2021 và đã thi hành nộp án phí ngày 08/11/2022. Tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 12/3/2015 bị Công an huyện N xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý theo Quyết định số 49/QĐ. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/7/2023 cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (có mặt).

Người bào chữa chỉ định cho bị cáo H: Luật sư Lê Thị Quỳnh A – Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).

(Trong vụ án còn 03 bị cáo khác không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Để có tiền mua ma túy sử dụng và bán kiếm lời; nên đầu tháng 6/2023 đến ngày 21/07/2023, bị cáo Nguyễn Minh H thuê nhà của anh Nguyễn Văn H2 (sinh năm 1970) ở ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Tại đây, H đã dùng số điện thoại 0366.895.xxx và 0377202351 liên hệ với đối tượng Lâm C3 (không rõ nhân thân lai lịch) thỏa thuận đặt mua ma túy, Lâm C3 mang ma túy đến nhà giao cho H, khi H bán hết ma túy sẽ trả tiền cho Lâm C3 sau. H đã 04 lần mua ma túy của đối tượng tên Lâm C3 với số tiền 2.500.000 đồng đến 27.500.000 đồng (không rõ khối lượng ma tuý). Sau đó, H phân ma túy ra thành nhiều phần nhỏ cho vào nhiều đoạn ống nhựa và hàn kín 02 đầu lại (tép ma túy) để đem bán lại cho người nghiện ma túy tại nhà.

Ngoài ra, H còn mua của một người (không rõ nhân thân, lai lịch) nhiều dụng cụ bằng thuỷ tinh dùng để sử dụng ma tuý (cái nỏ), sau đó H cất giấu trong nhà để sử dụng, cụ thể như sau:

a) Hành vi tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Minh H: Vào ngày 19/7/2023, Nguyễn Minh H dùng số điện thoại 0366.895.xxx gọi vào số điện thoại (không nhớ rõ số điện thoại) của một người (không rõ nhân thân, lai lịch) đặt mua dụng cụ bằng thuỷ tinh dùng để sử dụng ma tuý (Cái nỏ).

Khoảng 16 giờ cùng ngày, một đối tượng (không rõ nhân thân, lai lịch) mang 175 cái nỏ đến nhà H, H mua 40 cái nỏ với giá 200.000 đồng, còn lại 135 cái người bán gửi lại cho H giữ dùm. Sau đó H mang tất cả cái nỏ trên cất giấu vào tủ của H đến ngày 21/7/2023 thì bị Công an phát hiện, thu giữ của H 175 cái nỏ dùng sử dụng ma tuý. (H đã lấy 01 cái để sử dụng tại nhà).

b) Hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của Nguyễn Minh H, Trần Thị Kim Y và hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Dương Nhật C4, Nguyễn Văn T1: Từ ngày 08/6/2023 đến ngày 21/7/2023, tại nhà không số (Nơi H thuê ở) thuộc ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Minh H đã nhiều lần bán ma tuý cho Nguyễn Hoàng Vũ N, Đặng Văn H3, Nguyễn Văn T1, Dương Nhật C4 và nhiều người khác (không rõ nhân thân lai lịch), H thu lợi được 12.500.000 đồng. Quá trình bán ma tuý, H rủ Trần Thị Kim Y phụ bán ma tuý với H, Y đồng ý. Cụ thể như sau:

Ngày 08/6/2023 đến ngày 21/7/2023, H trực tiếp bán cho Nguyễn Hoàng Vũ N, (Sinh năm 2002, ngụ ấp V, xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai) 02 lần, mỗi lần 01 tép ma tuý (hàng đá) giá 200.000 đồng và 01 lần H đưa cho Trần Thị Kim Y 01 tép ma tuý, Y bán cho N giá 200.000 đồng, sau đó Y đưa tiền lại cho H.

Ngày 10/6/2023 đến ngày 19/7/2023 H bán cho Đặng Văn H3 (sinh năm 1987, ngụ ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai) 04 lần, mỗi lần 01 tép ma tuý (hàng đá) giá 200.000 đồng/1 tép.

Ngày 30/6/2023 đến ngày 13/7/2023, H trực tiếp bán cho Nguyễn Văn T1 01 lần, 01 tép ma tuý (hàng đá) giá 200.000 đồng/1 tép, H đưa cho Y 01 tép ma tuý (hàng đá), Y bán cho T1 giá 200.000 đồng rồi lấy tiền đưa cho H.

Ngày 12/7/2023 đến ngày 18/7/2023, H bán cho Dương Nhật C4 03 lần, mỗi lần 01 tép ma tuý (hang đá) giá 200.000 đồng/1 tép.

Đến ngày 21/7/2023, H tiếp tục bán cho T1 01 tép ma tuý (hàng đá) giá 200.000 đồng và H đưa cho Y 01 tép ma tuý (hàng đá) để Y bán cho C4 với giá 200.000 đồng. Khoảng 13 giờ cùng ngày, C4 đang cầm tép ma tuý vừa mua của Y và điều khiển xe mô tô biển số 60C2-557.70 chạy đến đoạn đường V, thuộc ấp B, xã P, huyện N thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện N phát hiện bắt quả tang, thu giữ của C4 01 đoạn ống hút nhựa được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa tinh thể màu trắng, C4 khai là ma tuý (hàng đá) đã được niêm phong.

Đến khoảng 13 giờ 10 phút cùng ngày, khi T1 cầm tép ma tuý mua của H và điều khiển xe mô tô biển số 60AN-026.21 đến đoạn đường T, thuộc ấp B, xã P, huyện N thì bị Công an huyện N phát hiện bắt quả tang, thu giữ của T1 01 đoạn ống hút nhựa hàn kín hai đầu, bên trong có chứa tinh thể màu trắng, T1 khai là ma tuý (hàng đá) đã được niêm phong.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, tỉnh Đồng Nai tiến hành khám xét chỗ ở của Nguyễn Minh H thuộc ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai, thu giữ 01 chiếc túi da màu đen bên trong có: 02 (hai) túi zip kích thước khoảng (09 x16 cm); 04 (bốn) gói nylon có kích thước khoảng (2x2,5 cm) được hàn kính hai đầu; 09 (chín) đoạn ống hút nhựa hàn kín hai đầu, tất cả các gói nylon trên, bên trong có chứa tinh thể màu trắng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra còn thu giữ của H 175 cái dụng cụ bằng thủy tinh dùng để sử dụng chất ma túy (Cái nỏ), H đang cất giấu trong tủ (trong đó có 01 cái nỏ gắn vào 01 chai bằng nhựa để sử dụng chất ma túy).

*Tại Bản kết luận giám định số 1569/KL-KTHS ngày 26/7/2023 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh Đ, kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, loại: Methamphetamine, có khối lượng: 0,1531gam;

*Tại Bản kết luận giám định số 1567/KL-KTHS ngày 26/7/2023 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh Đ, kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, loại: Methamphetamine, có khối lượng: 0,1421 gam;

*Tại Bản kết luận giám định số 1566/KL-KTHS ngày 26/7/2023 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh Đ, kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, loại: Methamphetamine, có khối lượng: 56,3317gam.

*Vật chứng thu giữ:

Cơ quan Cảnh sát điều tra còn thu giữ của: Dương Nhật C4 01 xe mô tô 60C2-557.70. Qua xác minh xác định là của chị Nguyễn Thị X (Sinh năm 1976, nơi cư trú: ấp C, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai) là mẹ của C4, chị X giao cho C4 quản lý và không biết C4 dùng vào việc phạm tội, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã trả cho chị X.

Thu giữ của Nguyễn Văn T1 01 xe máy BKS: 60AN-026.21. Xác minh là của chị Võ Chúc L (sinh năm 1991. Trú tại ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai) là cô của T1, chị L cho T1 mượn đi công việc và không biết T1 dùng vào việc phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã trả cho chị L.

Thu giữ của Nguyễn Minh H: 03 cái kéo; 01 cái cân tiểu ly; 600 (sáu trăm gam) túi nylong dụng Zip bên trong không chứa gì; 230gam (hai trăm ba mươi gam) ống hút nhựa bên trong không chứa gì và 03 quẹt gas; 01 (một) điện thoại di động màu xanh hiệu Nokia có số Imel: 352055020509269; 01 điện thoại di động màu xanh hiệu Samsung Imel số: 352303781893344N và 358889661893341/4 và 3.300.000 đồng.

*Về biện pháp tư pháp:

Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tuyên:

Tịch thu tiêu hủy tổng số ma túy còn lại đã được niêm phong sau giám định (1566; 1567 và 1569/KL-KTHS ngày 26/7/2023) cùng 174 nỏ bằng thủy tinh và 01 cái nỏ gắn với 01 cái chai bằng nhựa; 03 cái kéo; 01 cân tiểu ly; 600 (sáu trăm gam) túi nylong dạng zip bên trong không chứa gì; 230gam (hai trăm ba mươi gam) ống hút nhựa bên trong không chứa gì và 03 quẹt gas là công cụ của H dùng vào việc phạm tội.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động màu xanh hiệu Nokia có số Imel: 352055020509269; 01 điện thoại di động màu xanh hiệu Samsung Imel số: 352303781893344/1 và 358889661893341/1 và 3.300.000 đồng là phương tiện của Nguyễn Minh H dùng vào việc phạm tội. Buộc Nguyễn Minh H nộp lại 12.500.000 đồng tiền thu nhập bất chính.

Tại Bản Cáo trạng số 10/CT-VKS-P1 ngày 09/01/2014 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 và điểm đ khoản 2 Điều 254 Bộ luật Hình sự. Truy tố bị cáo Trần Thị Kim Y về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Truy tố Nguyễn Văn T1 và Dương Nhật C4 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 33/2024/HS-ST ngày 12/3/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai quyết định:

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; và tội “Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 251; điểm đ khoản 2 Điều 254; điểm g, h khoản 1 Điều 52; điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H: 17 (mười bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 06 (sáu) năm tù về tội “Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Minh H phải chấp hành hình phạt chung là 23 (hai mươi ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/7/2023.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn xử phạt bị cáo Trần Thị Kim Y 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Nguyễn Văn T1 02 (hai) năm tù, Dương Nhật C4 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tuyên về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo và việc thi hành án theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 19/3/2024 bị cáo Nguyễn Minh H kháng cáo kêu oan.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo Nguyễn Minh H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo kêu oan đối với tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; cho rằng số lượng ma túy bị thu giữ không phải là của bị cáo và bị cáo không có mua bán ma túy với ai; Còn tội “Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy” bị cáo không kháng cáo.

- Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị hủy bản án hình sự sơ thẩm, giao hồ sơ cho cấp sơ thẩm điều tra, truy tố, xét xử lại đối với tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Lý do tại biên bản phạm tội quả tang bị cáo chỉ thừa nhận tép ma túy lúc bị bắt, còn khối lượng ma túy lúc khám xét tại chỗ ở bị cáo không thừa nhận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Mặc dù bị cáo kêu oan, không thừa nhận khối lượng ma túy lúc khám xét nơi ở của bị cáo. Tuy nhiên, qua lời khai của các đồng phạm, người mua ma túy của bị cáo H, biên bản bắt người phạm tội quả tang phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ; có đủ cơ sở xác định việc cấp sơ thẩm xét xử bị cáo phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, không oan cho bị cáo. Nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Xét kháng cáo kêu oan của bị cáo Nguyễn Minh H, thấy trằng:

[1.1]. Về phạm vi kháng cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo H xác định chỉ kháng cáo kêu oan đối với tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, còn tội “Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy” bị cáo thống nhất bản án sơ thẩm, không kháng cáo.

[1.2]. Về tội danh “Mua bán trái phép chất ma túy”:

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm hôm nay, bị cáo Nguyễn Minh H kêu oan, cho rằng bị cáo chỉ mua ma túy về sử dụng, không có bán ma túy cho các bị cáo Nguyễn Hoàng Vũ N, Đặng Văn H3, Nguyễn Văn T1, Dương Nhật C4, cũng như không kêu bị cáo Trần Thị Kim Y bán ma túy hộ cho bị cáo để hưởng lợi; Đồng thời, không thừa nhận số ma túy thu giữ tại nhà bị cáo là của bị cáo; Bị cáo chỉ thừa nhận số dụng cụ (nỏ thủy tinh) thu giữ do bị cáo mua về để sử dụng trái phép chất ma túy.

Tuy nhiên, căn cứ vào lời nhận tội của các bị cáo Dương Nhật C4, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Hoàng Vũ N, Trần Thị Kim Y; các chứng cứ đã được thu thập có tại hồ sơ, các kết quả giám định hàm lượng ma túy, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, biên bản thu nhận vật chứng và biên bản đối chất giữa các bị cáo cùng những người liên quan khác trong vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Từ ngày 08/6/2023 đến ngày 21/7/2023, tại nhà thuê của anh Nguyễn Văn H2 thuộc ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai, bị cáo Nguyễn Minh H đã nhiều lần thực hiện hành vi mua bán ma tuý cho Nguyễn Hoàng Vũ N, Đặng Văn H3, Nguyễn Văn T1, Dương Nhật C4 và nhiều người khác (không rõ nhân thân lai lịch); Bị cáo H thu lợi được 12.500.000 đồng. Quá trình bán ma túy, H rủ Trần Thị Kim Y phụ bán ma túy với H, Y đồng ý. Trong ngày 21/7/2023, các bị cáo bị Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đ bắt giữ cùng toàn bộ tang vật vụ án.

Tại các Kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận: Toàn bộ khối lượng ma túy thu giữ gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, có tổng khối lượng trong vụ án là 56,3317gam và 175 dụng cụ bằng thủy tinh để sử dụng ma túy.

Do đó, bản án sơ thẩm số 33/2024/HS-ST ngày 12/3/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H về 02 tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 3 Điều 251 và tội “Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm đ khoản 2 Điều 254 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, không oan cho bị cáo.

[2]. Về hình phạt:

Tội phạm bị cáo thực hiện là đặc biệt nghiêm trọng (khối lượng ma túy trên 50gam, có mức hình phạt từ 15 năm đến 20 năm); Hành vi phạm tội của bị cáo là một trong những nguyên nhân làm phát sinh tệ nạn xã hội và nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác. Nên việc áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc nhất đối với bị cáo là cần thiết. Bị cáo có nhân thân xấu, có tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, mới chấp hành xong hình phạt tù, thì nay lại phạm tội thuộc trường hợp tăng nặng “Tái phạm”; bị cáo bị truy tố, xét xử 02 tình tiết định khung, không thật thà khai báo.

Án sơ thẩm đã xem xét đầy đủ tính chất vụ án, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, vai trò của các bị cáo cũng như xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo 17 năm tù là tương xứng với khối lượng ma túy mà bị cáo phải chịu trách nhiệm, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời nhằm răn đe, giáo dục cũng như phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[3]. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm là phù hợp.

[4]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

[5]. Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;

1. Về kháng cáo: Không chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo Nguyễn Minh H. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 33/2024/HS-ST ngày 12/3/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

2. Tuyên xử:

2.1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; và tội “Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy”.

2.2. Về hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 251; điểm đ khoản 2 Điều 254; điểm g, h khoản 1 Điều 52; điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H: 17 (mười bảy) năm tù về tội “Mua trái phép chất ma túy” và 06 (sáu) năm tù về tội “Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Minh H phải chấp hành hình phạt chung là 23 (hai mươi ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/7/2023.

3. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Minh H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Cục THADS tỉnh Đồng Nai;
  • - Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Trại tạm giam tỉnh Đồng Nai;
  • - Trại tạm giam tỉnh Đồng Nai;
  • (Tống đạt cho bị cáo)
  • - Lưu: HS, VP, 216TNB.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chung Văn Kết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 582/2024/HS-PT ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 582/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger